version stringclasses 1 value | data dict |
|---|---|
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 29. Đánh giá luận án 1. Việc tổ chức đánh giá luận án trước Hội đồng đánh giá luận án được phân công thực hiện như sau:\na) Đơn vị đào tạo thành viên nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của đơn vị mình; mời phản biện độc lập; quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án; tổ chức đánh giá luận án; ra quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh;\n \nb) Ban Đào tạo nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của các đơn vị đào tạo trực thuộc; mời phản biện độc lập; báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án và ủy quyền cho các đơn vị đào tạo trực thuộc tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh, trình hồ sơ đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh.\n2. Điều kiện thành lập Hội đồng đánh giá luận án\na) Nghiên cứu sinh và luận án đã đáp ứng đủ các điều kiện được quy định tại Điều 27 và Điều 28 của Quy chế này;\nb) Đạt quy trình phản biện độc lập hoặc được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập;\nc) Trích yếu luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh đã sửa đổi hoặc cập nhật, kèm theo luận án hoàn chỉnh đã sửa đổi, cập nhật, được cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn xác nhận;\nd) Có trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài theo quy định của đơn vị đào tạo;\nđ) Có đề nghị bằng văn bản của cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn và đơn vị chuyên môn cho phép nghiên cứu sinh được bảo vệ luận án;\ne) Kết quả đánh giá của các học phần, các học phần bổ sung (nếu có), các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan đã được cập nhật trên phần mềm quản lý đào tạo nghiên cứu sinh của Đại học Quốc gia Hà Nội;\ng) Có đầy đủ minh chứng những thay đổi trong quá trình đào tạo;\nh) Có đầy đủ nhận xét của các phản biện độc lập và thuyết minh tiếp thu, sửa chữa hoặc giải trình của nghiên cứu sinh, và nội dung này được công bố công khai trong phiên họp của Hội đồng;\ni) Minh chứng hoàn thành nghĩa vụ tài chính;\nk) Nghiên cứu sinh không trong thời gian thi hành án hình sự, kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên;\nl) Đáp ứng những yêu cầu khác theo quy định của đơn vị đào tạo.\n \n3. Thành lập Hội đồng đánh giá luận án\na) Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ gồm 07 thành viên, trong đó số thành viên thuộc đơn vị đào tạo không quá 03 người và phản biện độc lập không quá 01 người. Số thành viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ khoa học tối thiểu là 05 người;\nb) Thành viên Hội đồng là những nhà khoa học có chức danh giáo sư, phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ ngành đúng/ gần hoặc phù hợp với đề tài nghiên cứu hoặc lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh; thành viên chưa có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc học vị tiến sĩ khoa học phải có tối thiểu 03 năm (36 tháng) hoạt động chuyên môn kể từ khi có Quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ tính đến thời điểm được mời tham gia Hội đồng; có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín chuyên môn; am hiểu vấn đề nghiên cứu của luận án;\nc) Hội đồng gồm Chủ tịch, Thư ký, 03 Phản biện và 02 Uỷ viên. Một người hướng dẫn nghiên cứu sinh có thể tham gia Hội đồng với tư cách là Ủy viên. Mỗi thành viên Hội đồng chỉ đảm nhận một trách nhiệm trong Hội đồng.\nChủ tịch Hội đồng phải là người có năng lực và uy tín chuyên môn, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư ngành/chuyên ngành phù hợp với chuyên môn của đề tài luận án.\nThành viên Hội đồng phải là người không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh.\nPhản biện phải có trách nhiệm cao trong đánh giá chất lượng khoa học của luận án. Ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn như thành viên Hội đồng, các phản biện phải là người am hiểu sâu sắc luận án, có uy tín chuyên môn cao trong lĩnh vực khoa học đó, đồng thời đáp ứng các điều kiện sau:\n- Công tác ở các cơ quan, đơn vị khác nhau, trong đó tối thiểu có 02 phản biện thuộc các cơ quan ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội;\n- Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh và không là cấp dưới trực tiếp của nghiên cứu sinh;\n \n- Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án;\n- Khuyến khích mời các nhà khoa học giỏi là người nước ngoài hoặc người Việt Nam ở nước ngoài làm phản biện trong Hội đồng.\nd) Tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của thành viên Hội đồng như tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của người hướng dẫn chính quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, trừ Thư ký Hội đồng phải đáp ứng quy định như đối với giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ quy định tại Điều 34 của Quy chế này.\n4. Điều kiện tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án\na) Toàn văn luận án, tóm tắt luận án, bản nhận xét của các phản biện độc lập và bản tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh được gửi đến các thành viên Hội đồng tối thiểu 30 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án;\nb) Từng thành viên Hội đồng phải có nhận xét về luận án và các ý kiến, nội dung tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh về nhận xét của phản biện độc lập bằng văn bản gửi đến đơn vị đào tạo chậm nhất là 15 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án của nghiên cứu sinh;\nc) Thời gian, địa điểm tổ chức bảo vệ luận án; tóm tắt luận án, trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài được công bố công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo tối thiểu 20 ngày trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án, trừ những luận án được phép bảo vệ mật theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này;\nd) Trường hợp đơn vị đào tạo tổ chức đánh giá luận án trực tuyến phải bảo đảm có ít nhất 03 thành viên Hội đồng có mặt trực tiếp cùng nghiên cứu sinh; trong trường hợp thiên tai, dịch bệnh bất khả kháng thực hiện theo hướng dẫn cụ thể của Đại học Quốc gia Hà Nội;\nđ) Không có khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về nội dung khoa học trong luận án trước phiên họp của Hội đồng;\n \ne) Hội đồng đánh giá luận án không họp nếu xảy ra một trong các trường hợp sau:\n- Không đáp ứng một trong các điều kiện quy định tại điểm a hoặc b hoặc c hoặc d hoặc đ nêu trên;\n- Vắng mặt Chủ tịch Hội đồng hoặc Thư ký Hội đồng;\n- Vắng mặt Phản biện có ý kiến không tán thành luận án;\n- Vắng mặt từ 02 thành viên Hội đồng trở lên;\n- Nghiên cứu sinh đang trong thời gian thi hành án hình sự hoặc bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên;\n- Có 02 thành viên Hội đồng không tán thành luận án. Trường hợp này, luận án được xem là không được Hội đồng đánh giá thông qua, không cần tổ chức bảo vệ luận án.\n5. Tổ chức đánh giá luận án\na) Đơn vị đào tạo trực tiếp thực hiện công tác chuẩn bị và tổ chức đánh giá luận án. Nghiên cứu sinh và người hướng dẫn không tiếp xúc với các thành viên Hội đồng trước khi bảo vệ luận án;\nb) Luận án được tổ chức bảo vệ công khai. Những đề tài liên quan đến bí mật quốc gia được tổ chức bảo vệ theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này. Mỗi thành viên Hội đồng có trách nhiệm tìm hiểu đầy đủ về luận án trước khi đánh giá; ý kiến của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh phải được trình bày công khai trước Hội đồng để Hội đồng xem xét, đánh giá;\nc) Luận án được đánh giá bằng hình thức bỏ phiếu kín theo hai mức: “Đạt” hay “Không đạt” (theo mẫu ở Phụ lục V). Luận án không được thông qua nếu có từ 02 thành viên Hội đồng đánh giá có mặt tại buổi bảo vệ bỏ phiếu “Không đạt”;\nd) Hội đồng thông qua quyết nghị về luận án. Quyết nghị của Hội đồng phải nêu được các vấn đề sau: Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án; tính hiện đại, hợp lí và độ tin cậy của phương pháp nghiên cứu; kết quả mới của luận án; những thiếu sót về nội dung và hình thức của luận án; tán thành đề nghị công nhận hay không công nhận học vị tiến\n \nsĩ về ngành/chuyên ngành đào tạo cho nghiên cứu sinh; đề nghị khen thưởng (nếu luận án đặc biệt xuất sắc);\nđ) Biên bản buổi bảo vệ luận án được toàn thể Hội đồng đánh giá luận án thông qua và có chữ ký xác nhận của Chủ tịch và Thư ký Hội đồng;\ne) Hội đồng đánh giá luận án tự giải thể sau khi đã hoàn thành việc đánh giá luận án hoặc quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án. Trong trường hợp Hội đồng đánh giá luận án quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2; đơn vị đào tạo trực thuộc đề nghị Ban Đào tạo trình Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2. Trong trường hợp bất khả kháng, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên hoặc Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định gia hạn thời hạn hoạt động của Hội đồng;\ng) Không ra quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần thứ ba.\n6. Việc thay đổi thành viên Hội đồng đánh giá luận án chỉ được giải quyết trong trường hợp cần thiết, có lý do chính đáng. Thời hạn quy định liên quan đến hoạt động của các thành viên Hội đồng quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này và điều kiện tổ chức bảo vệ luận án theo quy định tại khoản 4, Điều này được tính kể từ ngày ký quyết định cuối cùng về việc thay đổi, bổ sung thành viên Hội đồng đánh giá luận án.\n7. Bảo vệ lại luận án\na) Trong trường hợp luận án của nghiên cứu sinh không được Hội đồng đánh giá luận án thông qua và được Hội đồng kiến nghị cho phép bảo vệ lại, nghiên cứu sinh được phép sửa chữa luận án để bảo vệ lần thứ hai. Lần bảo vệ thứ hai sớm nhất là sau 03 tháng và muộn nhất là 06 tháng kể từ ngày bảo vệ lần thứ nhất;\nb) Không tổ chức đánh giá lại luận án khi không có kiến nghị của Hội đồng đánh giá luận án lần thứ nhất;\n \nc) Hồ sơ đề nghị bảo vệ lại luận án, ngoài các nội dung như lần bảo vệ thứ nhất, phải có thêm bản tường trình về quá trình bổ sung, sửa chữa, hoàn thiện luận án của nghiên cứu sinh, có xác nhận của người hướng dẫn và đề nghị bằng văn bản của đơn vị chuyên môn cho nghiên cứu sinh được bảo vệ lần thứ hai;\nd) Thành phần Hội đồng đánh giá luận án lần thứ hai phải có tối thiểu 03 thành viên đã tham gia Hội đồng lần thứ nhất, trong đó có đủ những thành viên có ý kiến không tán thành luận án. Không tổ chức đánh giá luận án lần thứ ba.\n",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Quy trình tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án có một số điều kiện đặc biệt. Để buổi họp được tổ chức, toàn văn luận án, tóm tắt luận án, bản nhận xét của các phản biện độc lập và bản tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh phải được gửi đến các thành viên Hội đồng tối thiểu 30 ngày làm việc trước ngày họp. Mỗi thành viên Hội đồng cũng phải có nhận xét bằng văn bản về luận án gửi đến đơn vị đào tạo chậm nhất 15 ngày làm việc trước ngày họp. Thông tin về thời gian, địa điểm bảo vệ luận án cần được công bố công khai tối thiểu 20 ngày trước ngày họp. Buổi họp sẽ không diễn ra nếu vắng mặt Chủ tịch hoặc Thư ký Hội đồng, vắng mặt phản biện có ý kiến không tán thành luận án, vắng mặt từ 02 thành viên Hội đồng trở lên, hoặc nếu có 02 thành viên Hội đồng không tán thành luận án."
}
],
"id": "36001",
"is_impossible": false,
"question": "Quy trình tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án có điều kiện gì đặc biệt không?"
}
]
}
],
"title": "Quy trình tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án có điều kiện gì đặc biệt không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 29. Đánh giá luận án 1. Việc tổ chức đánh giá luận án trước Hội đồng đánh giá luận án được phân công thực hiện như sau:\na) Đơn vị đào tạo thành viên nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của đơn vị mình; mời phản biện độc lập; quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án; tổ chức đánh giá luận án; ra quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh;\n \nb) Ban Đào tạo nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của các đơn vị đào tạo trực thuộc; mời phản biện độc lập; báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án và ủy quyền cho các đơn vị đào tạo trực thuộc tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh, trình hồ sơ đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh.\n2. Điều kiện thành lập Hội đồng đánh giá luận án\na) Nghiên cứu sinh và luận án đã đáp ứng đủ các điều kiện được quy định tại Điều 27 và Điều 28 của Quy chế này;\nb) Đạt quy trình phản biện độc lập hoặc được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập;\nc) Trích yếu luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh đã sửa đổi hoặc cập nhật, kèm theo luận án hoàn chỉnh đã sửa đổi, cập nhật, được cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn xác nhận;\nd) Có trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài theo quy định của đơn vị đào tạo;\nđ) Có đề nghị bằng văn bản của cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn và đơn vị chuyên môn cho phép nghiên cứu sinh được bảo vệ luận án;\ne) Kết quả đánh giá của các học phần, các học phần bổ sung (nếu có), các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan đã được cập nhật trên phần mềm quản lý đào tạo nghiên cứu sinh của Đại học Quốc gia Hà Nội;\ng) Có đầy đủ minh chứng những thay đổi trong quá trình đào tạo;\nh) Có đầy đủ nhận xét của các phản biện độc lập và thuyết minh tiếp thu, sửa chữa hoặc giải trình của nghiên cứu sinh, và nội dung này được công bố công khai trong phiên họp của Hội đồng;\ni) Minh chứng hoàn thành nghĩa vụ tài chính;\nk) Nghiên cứu sinh không trong thời gian thi hành án hình sự, kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên;\nl) Đáp ứng những yêu cầu khác theo quy định của đơn vị đào tạo.\n \n3. Thành lập Hội đồng đánh giá luận án\na) Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ gồm 07 thành viên, trong đó số thành viên thuộc đơn vị đào tạo không quá 03 người và phản biện độc lập không quá 01 người. Số thành viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ khoa học tối thiểu là 05 người;\nb) Thành viên Hội đồng là những nhà khoa học có chức danh giáo sư, phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ ngành đúng/ gần hoặc phù hợp với đề tài nghiên cứu hoặc lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh; thành viên chưa có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc học vị tiến sĩ khoa học phải có tối thiểu 03 năm (36 tháng) hoạt động chuyên môn kể từ khi có Quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ tính đến thời điểm được mời tham gia Hội đồng; có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín chuyên môn; am hiểu vấn đề nghiên cứu của luận án;\nc) Hội đồng gồm Chủ tịch, Thư ký, 03 Phản biện và 02 Uỷ viên. Một người hướng dẫn nghiên cứu sinh có thể tham gia Hội đồng với tư cách là Ủy viên. Mỗi thành viên Hội đồng chỉ đảm nhận một trách nhiệm trong Hội đồng.\nChủ tịch Hội đồng phải là người có năng lực và uy tín chuyên môn, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư ngành/chuyên ngành phù hợp với chuyên môn của đề tài luận án.\nThành viên Hội đồng phải là người không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh.\nPhản biện phải có trách nhiệm cao trong đánh giá chất lượng khoa học của luận án. Ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn như thành viên Hội đồng, các phản biện phải là người am hiểu sâu sắc luận án, có uy tín chuyên môn cao trong lĩnh vực khoa học đó, đồng thời đáp ứng các điều kiện sau:\n- Công tác ở các cơ quan, đơn vị khác nhau, trong đó tối thiểu có 02 phản biện thuộc các cơ quan ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội;\n- Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh và không là cấp dưới trực tiếp của nghiên cứu sinh;\n \n- Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án;\n- Khuyến khích mời các nhà khoa học giỏi là người nước ngoài hoặc người Việt Nam ở nước ngoài làm phản biện trong Hội đồng.\nd) Tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của thành viên Hội đồng như tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của người hướng dẫn chính quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, trừ Thư ký Hội đồng phải đáp ứng quy định như đối với giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ quy định tại Điều 34 của Quy chế này.\n4. Điều kiện tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án\na) Toàn văn luận án, tóm tắt luận án, bản nhận xét của các phản biện độc lập và bản tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh được gửi đến các thành viên Hội đồng tối thiểu 30 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án;\nb) Từng thành viên Hội đồng phải có nhận xét về luận án và các ý kiến, nội dung tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh về nhận xét của phản biện độc lập bằng văn bản gửi đến đơn vị đào tạo chậm nhất là 15 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án của nghiên cứu sinh;\nc) Thời gian, địa điểm tổ chức bảo vệ luận án; tóm tắt luận án, trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài được công bố công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo tối thiểu 20 ngày trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án, trừ những luận án được phép bảo vệ mật theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này;\nd) Trường hợp đơn vị đào tạo tổ chức đánh giá luận án trực tuyến phải bảo đảm có ít nhất 03 thành viên Hội đồng có mặt trực tiếp cùng nghiên cứu sinh; trong trường hợp thiên tai, dịch bệnh bất khả kháng thực hiện theo hướng dẫn cụ thể của Đại học Quốc gia Hà Nội;\nđ) Không có khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về nội dung khoa học trong luận án trước phiên họp của Hội đồng;\n \ne) Hội đồng đánh giá luận án không họp nếu xảy ra một trong các trường hợp sau:\n- Không đáp ứng một trong các điều kiện quy định tại điểm a hoặc b hoặc c hoặc d hoặc đ nêu trên;\n- Vắng mặt Chủ tịch Hội đồng hoặc Thư ký Hội đồng;\n- Vắng mặt Phản biện có ý kiến không tán thành luận án;\n- Vắng mặt từ 02 thành viên Hội đồng trở lên;\n- Nghiên cứu sinh đang trong thời gian thi hành án hình sự hoặc bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên;\n- Có 02 thành viên Hội đồng không tán thành luận án. Trường hợp này, luận án được xem là không được Hội đồng đánh giá thông qua, không cần tổ chức bảo vệ luận án.\n5. Tổ chức đánh giá luận án\na) Đơn vị đào tạo trực tiếp thực hiện công tác chuẩn bị và tổ chức đánh giá luận án. Nghiên cứu sinh và người hướng dẫn không tiếp xúc với các thành viên Hội đồng trước khi bảo vệ luận án;\nb) Luận án được tổ chức bảo vệ công khai. Những đề tài liên quan đến bí mật quốc gia được tổ chức bảo vệ theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này. Mỗi thành viên Hội đồng có trách nhiệm tìm hiểu đầy đủ về luận án trước khi đánh giá; ý kiến của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh phải được trình bày công khai trước Hội đồng để Hội đồng xem xét, đánh giá;\nc) Luận án được đánh giá bằng hình thức bỏ phiếu kín theo hai mức: “Đạt” hay “Không đạt” (theo mẫu ở Phụ lục V). Luận án không được thông qua nếu có từ 02 thành viên Hội đồng đánh giá có mặt tại buổi bảo vệ bỏ phiếu “Không đạt”;\nd) Hội đồng thông qua quyết nghị về luận án. Quyết nghị của Hội đồng phải nêu được các vấn đề sau: Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án; tính hiện đại, hợp lí và độ tin cậy của phương pháp nghiên cứu; kết quả mới của luận án; những thiếu sót về nội dung và hình thức của luận án; tán thành đề nghị công nhận hay không công nhận học vị tiến\n \nsĩ về ngành/chuyên ngành đào tạo cho nghiên cứu sinh; đề nghị khen thưởng (nếu luận án đặc biệt xuất sắc);\nđ) Biên bản buổi bảo vệ luận án được toàn thể Hội đồng đánh giá luận án thông qua và có chữ ký xác nhận của Chủ tịch và Thư ký Hội đồng;\ne) Hội đồng đánh giá luận án tự giải thể sau khi đã hoàn thành việc đánh giá luận án hoặc quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án. Trong trường hợp Hội đồng đánh giá luận án quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2; đơn vị đào tạo trực thuộc đề nghị Ban Đào tạo trình Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2. Trong trường hợp bất khả kháng, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên hoặc Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định gia hạn thời hạn hoạt động của Hội đồng;\ng) Không ra quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần thứ ba.\n6. Việc thay đổi thành viên Hội đồng đánh giá luận án chỉ được giải quyết trong trường hợp cần thiết, có lý do chính đáng. Thời hạn quy định liên quan đến hoạt động của các thành viên Hội đồng quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này và điều kiện tổ chức bảo vệ luận án theo quy định tại khoản 4, Điều này được tính kể từ ngày ký quyết định cuối cùng về việc thay đổi, bổ sung thành viên Hội đồng đánh giá luận án.\n7. Bảo vệ lại luận án\na) Trong trường hợp luận án của nghiên cứu sinh không được Hội đồng đánh giá luận án thông qua và được Hội đồng kiến nghị cho phép bảo vệ lại, nghiên cứu sinh được phép sửa chữa luận án để bảo vệ lần thứ hai. Lần bảo vệ thứ hai sớm nhất là sau 03 tháng và muộn nhất là 06 tháng kể từ ngày bảo vệ lần thứ nhất;\nb) Không tổ chức đánh giá lại luận án khi không có kiến nghị của Hội đồng đánh giá luận án lần thứ nhất;\n \nc) Hồ sơ đề nghị bảo vệ lại luận án, ngoài các nội dung như lần bảo vệ thứ nhất, phải có thêm bản tường trình về quá trình bổ sung, sửa chữa, hoàn thiện luận án của nghiên cứu sinh, có xác nhận của người hướng dẫn và đề nghị bằng văn bản của đơn vị chuyên môn cho nghiên cứu sinh được bảo vệ lần thứ hai;\nd) Thành phần Hội đồng đánh giá luận án lần thứ hai phải có tối thiểu 03 thành viên đã tham gia Hội đồng lần thứ nhất, trong đó có đủ những thành viên có ý kiến không tán thành luận án. Không tổ chức đánh giá luận án lần thứ ba.\n",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nghiên cứu sinh có cơ hội bảo vệ lại luận án lần thứ hai nếu luận án không được Hội đồng thông qua và được Hội đồng kiến nghị cho phép bảo vệ lại. Thời gian bảo vệ lại lần thứ hai sớm nhất là sau 03 tháng và muộn nhất là 06 tháng kể từ ngày bảo vệ lần thứ nhất. Tuy nhiên, không tổ chức đánh giá luận án lần thứ ba."
}
],
"id": "36002",
"is_impossible": false,
"question": "Nếu luận án không được Hội đồng thông qua, nghiên cứu sinh có cơ hội bảo vệ lại không?"
}
]
}
],
"title": "Nếu luận án không được Hội đồng thông qua, nghiên cứu sinh có cơ hội bảo vệ lại không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 29. Đánh giá luận án 1. Việc tổ chức đánh giá luận án trước Hội đồng đánh giá luận án được phân công thực hiện như sau: a) Đơn vị đào tạo thành viên nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của đơn vị mình; mời phản biện độc lập; quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án; tổ chức đánh giá luận án; ra quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh; b) Ban Đào tạo nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của các đơn vị đào tạo trực thuộc; mời phản biện độc lập; báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án và ủy quyền cho các đơn vị đào tạo trực thuộc tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh, trình hồ sơ đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. 2. Điều kiện thành lập Hội đồng đánh giá luận án a) Nghiên cứu sinh và luận án đã đáp ứng đủ các điều kiện được quy định tại Điều 27 và Điều 28 của Quy chế này; b) Đạt quy trình phản biện độc lập hoặc được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập; c) Trích yếu luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh đã sửa đổi hoặc cập nhật, kèm theo luận án hoàn chỉnh đã sửa đổi, cập nhật, được cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn xác nhận; d) Có trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài theo quy định của đơn vị đào tạo; đ) Có đề nghị bằng văn bản của cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn và đơn vị chuyên môn cho phép nghiên cứu sinh được bảo vệ luận án; e) Kết quả đánh giá của các học phần, các học phần bổ sung (nếu có), các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan đã được cập nhật trên phần mềm quản lý đào tạo nghiên cứu sinh của Đại học Quốc gia Hà Nội; g) Có đầy đủ minh chứng những thay đổi trong quá trình đào tạo; h) Có đầy đủ nhận xét của các phản biện độc lập và thuyết minh tiếp thu, sửa chữa hoặc giải trình của nghiên cứu sinh, và nội dung này được công bố công khai trong phiên họp của Hội đồng; i) Minh chứng hoàn thành nghĩa vụ tài chính; k) Nghiên cứu sinh không trong thời gian thi hành án hình sự, kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên; l) Đáp ứng những yêu cầu khác theo quy định của đơn vị đào tạo. 3. Thành lập Hội đồng đánh giá luận án a) Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ gồm 07 thành viên, trong đó số thành viên thuộc đơn vị đào tạo không quá 03 người và phản biện độc lập không quá 01 người. Số thành viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ khoa học tối thiểu là 05 người; b) Thành viên Hội đồng là những nhà khoa học có chức danh giáo sư, phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ ngành đúng/ gần hoặc phù hợp với đề tài nghiên cứu hoặc lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh; thành viên chưa có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc học vị tiến sĩ khoa học phải có tối thiểu 03 năm (36 tháng) hoạt động chuyên môn kể từ khi có Quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ tính đến thời điểm được mời tham gia Hội đồng; có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín chuyên môn; am hiểu vấn đề nghiên cứu của luận án; c) Hội đồng gồm Chủ tịch, Thư ký, 03 Phản biện và 02 Uỷ viên. Một người hướng dẫn nghiên cứu sinh có thể tham gia Hội đồng với tư cách là Ủy viên. Mỗi thành viên Hội đồng chỉ đảm nhận một trách nhiệm trong Hội đồng. Chủ tịch Hội đồng phải là người có năng lực và uy tín chuyên môn, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư ngành/chuyên ngành phù hợp với chuyên môn của đề tài luận án. Thành viên Hội đồng phải là người không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh. Phản biện phải có trách nhiệm cao trong đánh giá chất lượng khoa học của luận án. Ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn như thành viên Hội đồng, các phản biện phải là người am hiểu sâu sắc luận án, có uy tín chuyên môn cao trong lĩnh vực khoa học đó, đồng thời đáp ứng các điều kiện sau: - Công tác ở các cơ quan, đơn vị khác nhau, trong đó tối thiểu có 02 phản biện thuộc các cơ quan ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội; - Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh và không là cấp dưới trực tiếp của nghiên cứu sinh; - Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án; - Khuyến khích mời các nhà khoa học giỏi là người nước ngoài hoặc người Việt Nam ở nước ngoài làm phản biện trong Hội đồng. d) Tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của thành viên Hội đồng như tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của người hướng dẫn chính quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, trừ Thư ký Hội đồng phải đáp ứng quy định như đối với giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ quy định tại Điều 34 của Quy chế này. 4. Điều kiện tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án a) Toàn văn luận án, tóm tắt luận án, bản nhận xét của các phản biện độc lập và bản tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh được gửi đến các thành viên Hội đồng tối thiểu 30 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án; b) Từng thành viên Hội đồng phải có nhận xét về luận án và các ý kiến, nội dung tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh về nhận xét của phản biện độc lập bằng văn bản gửi đến đơn vị đào tạo chậm nhất là 15 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án của nghiên cứu sinh; c) Thời gian, địa điểm tổ chức bảo vệ luận án; tóm tắt luận án, trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài được công bố công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo tối thiểu 20 ngày trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án, trừ những luận án được phép bảo vệ mật theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này; d) Trường hợp đơn vị đào tạo tổ chức đánh giá luận án trực tuyến phải bảo đảm có ít nhất 03 thành viên Hội đồng có mặt trực tiếp cùng nghiên cứu sinh; trong trường hợp thiên tai, dịch bệnh bất khả kháng thực hiện theo hướng dẫn cụ thể của Đại học Quốc gia Hà Nội; đ) Không có khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về nội dung khoa học trong luận án trước phiên họp của Hội đồng; e) Hội đồng đánh giá luận án không họp nếu xảy ra một trong các trường hợp sau: - Không đáp ứng một trong các điều kiện quy định tại điểm a hoặc b hoặc c hoặc d hoặc đ nêu trên; - Vắng mặt Chủ tịch Hội đồng hoặc Thư ký Hội đồng; - Vắng mặt Phản biện có ý kiến không tán thành luận án; - Vắng mặt từ 02 thành viên Hội đồng trở lên; - Nghiên cứu sinh đang trong thời gian thi hành án hình sự hoặc bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên; - Có 02 thành viên Hội đồng không tán thành luận án. Trường hợp này, luận án được xem là không được Hội đồng đánh giá thông qua, không cần tổ chức bảo vệ luận án. 5. Tổ chức đánh giá luận án a) Đơn vị đào tạo trực tiếp thực hiện công tác chuẩn bị và tổ chức đánh giá luận án. Nghiên cứu sinh và người hướng dẫn không tiếp xúc với các thành viên Hội đồng trước khi bảo vệ luận án; b) Luận án được tổ chức bảo vệ công khai. Những đề tài liên quan đến bí mật quốc gia được tổ chức bảo vệ theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này. Mỗi thành viên Hội đồng có trách nhiệm tìm hiểu đầy đủ về luận án trước khi đánh giá; ý kiến của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh phải được trình bày công khai trước Hội đồng để Hội đồng xem xét, đánh giá; c) Luận án được đánh giá bằng hình thức bỏ phiếu kín theo hai mức: “Đạt” hay “Không đạt” (theo mẫu ở Phụ lục V). Luận án không được thông qua nếu có từ 02 thành viên Hội đồng đánh giá có mặt tại buổi bảo vệ bỏ phiếu “Không đạt”; d) Hội đồng thông qua quyết nghị về luận án. Quyết nghị của Hội đồng phải nêu được các vấn đề sau: Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án; tính hiện đại, hợp lí và độ tin cậy của phương pháp nghiên cứu; kết quả mới của luận án; những thiếu sót về nội dung và hình thức của luận án; tán thành đề nghị công nhận hay không công nhận học vị tiến sĩ về ngành/chuyên ngành đào tạo cho nghiên cứu sinh; đề nghị khen thưởng (nếu luận án đặc biệt xuất sắc); đ) Biên bản buổi bảo vệ luận án được toàn thể Hội đồng đánh giá luận án thông qua và có chữ ký xác nhận của Chủ tịch và Thư ký Hội đồng; e) Hội đồng đánh giá luận án tự giải thể sau khi đã hoàn thành việc đánh giá luận án hoặc quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án. Trong trường hợp Hội đồng đánh giá luận án quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2; đơn vị đào tạo trực thuộc đề nghị Ban Đào tạo trình Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2. Trong trường hợp bất khả kháng, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên hoặc Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định gia hạn thời hạn hoạt động của Hội đồng; g) Không ra quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần thứ ba. 6. Việc thay đổi thành viên Hội đồng đánh giá luận án chỉ được giải quyết trong trường hợp cần thiết, có lý do chính đáng. Thời hạn quy định liên quan đến hoạt động của các thành viên Hội đồng quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này và điều kiện tổ chức bảo vệ luận án theo quy định tại khoản 4, Điều này được tính kể từ ngày ký quyết định cuối cùng về việc thay đổi, bổ sung thành viên Hội đồng đánh giá luận án. 7. Bảo vệ lại luận án a) Trong trường hợp luận án của nghiên cứu sinh không được Hội đồng đánh giá luận án thông qua và được Hội đồng kiến nghị cho phép bảo vệ lại, nghiên cứu sinh được phép sửa chữa luận án để bảo vệ lần thứ hai. Lần bảo vệ thứ hai sớm nhất là sau 03 tháng và muộn nhất là 06 tháng kể từ ngày bảo vệ lần thứ nhất; b) Không tổ chức đánh giá lại luận án khi không có kiến nghị của Hội đồng đánh giá luận án lần thứ nhất; c) Hồ sơ đề nghị bảo vệ lại luận án, ngoài các nội dung như lần bảo vệ thứ nhất, phải có thêm bản tường trình về quá trình bổ sung, sửa chữa, hoàn thiện luận án của nghiên cứu sinh, có xác nhận của người hướng dẫn và đề nghị bằng văn bản của đơn vị chuyên môn cho nghiên cứu sinh được bảo vệ lần thứ hai; d) Thành phần Hội đồng đánh giá luận án lần thứ hai phải có tối thiểu 03 thành viên đã tham gia Hội đồng lần thứ nhất, trong đó có đủ những thành viên có ý kiến không tán thành luận án. Không tổ chức đánh giá luận án lần thứ ba.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Thành viên Hội đồng đánh giá luận án phải là những nhà khoa học có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ với ngành/lĩnh vực phù hợp. Nếu chưa có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc học vị tiến sĩ khoa học, họ phải có tối thiểu 36 tháng hoạt động chuyên môn kể từ khi có quyết định công nhận học vị tiến sĩ. Ngoài ra, thành viên Hội đồng cần có phẩm chất đạo đức tốt, uy tín chuyên môn và am hiểu vấn đề nghiên cứu của luận án."
}
],
"id": "36003",
"is_impossible": false,
"question": "Các tiêu chuẩn về năng lực của thành viên Hội đồng đánh giá luận án là gì?"
}
]
}
],
"title": "Các tiêu chuẩn về năng lực của thành viên Hội đồng đánh giá luận án là gì?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nanĐiều 29. Đánh giá luận án 1. Việc tổ chức đánh giá luận án trước Hội đồng đánh giá luận án được phân công thực hiện như sau:a) Đơn vị đào tạo thành viên nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của đơn vị mình; mời phản biện độc lập; quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án; tổ chức đánh giá luận án; ra quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh; b) Ban Đào tạo nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của các đơn vị đào tạo trực thuộc; mời phản biện độc lập; báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án và ủy quyền cho các đơn vị đào tạo trực thuộc tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh, trình hồ sơ đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh.2. Điều kiện thành lập Hội đồng đánh giá luận ána) Nghiên cứu sinh và luận án đã đáp ứng đủ các điều kiện được quy định tại Điều 27 và Điều 28 của Quy chế này;b) Đạt quy trình phản biện độc lập hoặc được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập;c) Trích yếu luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh đã sửa đổi hoặc cập nhật, kèm theo luận án hoàn chỉnh đã sửa đổi, cập nhật, được cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn xác nhận;d) Có trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài theo quy định của đơn vị đào tạo;đ) Có đề nghị bằng văn bản của cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn và đơn vị chuyên môn cho phép nghiên cứu sinh được bảo vệ luận án;e) Kết quả đánh giá của các học phần, các học phần bổ sung (nếu có), các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan đã được cập nhật trên phần mềm quản lý đào tạo nghiên cứu sinh của Đại học Quốc gia Hà Nội;g) Có đầy đủ minh chứng những thay đổi trong quá trình đào tạo;h) Có đầy đủ nhận xét của các phản biện độc lập và thuyết minh tiếp thu, sửa chữa hoặc giải trình của nghiên cứu sinh, và nội dung này được công bố công khai trong phiên họp của Hội đồng;i) Minh chứng hoàn thành nghĩa vụ tài chính;k) Nghiên cứu sinh không trong thời gian thi hành án hình sự, kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên;l) Đáp ứng những yêu cầu khác theo quy định của đơn vị đào tạo. 3. Thành lập Hội đồng đánh giá luận ána) Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ gồm 07 thành viên, trong đó số thành viên thuộc đơn vị đào tạo không quá 03 người và phản biện độc lập không quá 01 người. Số thành viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ khoa học tối thiểu là 05 người;b) Thành viên Hội đồng là những nhà khoa học có chức danh giáo sư, phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ ngành đúng/ gần hoặc phù hợp với đề tài nghiên cứu hoặc lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh; thành viên chưa có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc học vị tiến sĩ khoa học phải có tối thiểu 03 năm (36 tháng) hoạt động chuyên môn kể từ khi có Quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ tính đến thời điểm được mời tham gia Hội đồng; có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín chuyên môn; am hiểu vấn đề nghiên cứu của luận án;c) Hội đồng gồm Chủ tịch, Thư ký, 03 Phản biện và 02 Uỷ viên. Một người hướng dẫn nghiên cứu sinh có thể tham gia Hội đồng với tư cách là Ủy viên. Mỗi thành viên Hội đồng chỉ đảm nhận một trách nhiệm trong Hội đồng.Chủ tịch Hội đồng phải là người có năng lực và uy tín chuyên môn, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư ngành/chuyên ngành phù hợp với chuyên môn của đề tài luận án.Thành viên Hội đồng phải là người không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh.Phản biện phải có trách nhiệm cao trong đánh giá chất lượng khoa học của luận án. Ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn như thành viên Hội đồng, các phản biện phải là người am hiểu sâu sắc luận án, có uy tín chuyên môn cao trong lĩnh vực khoa học đó, đồng thời đáp ứng các điều kiện sau:- Công tác ở các cơ quan, đơn vị khác nhau, trong đó tối thiểu có 02 phản biện thuộc các cơ quan ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội;- Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh và không là cấp dưới trực tiếp của nghiên cứu sinh;- Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án;- Khuyến khích mời các nhà khoa học giỏi là người nước ngoài hoặc người Việt Nam ở nước ngoài làm phản biện trong Hội đồng.d) Tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của thành viên Hội đồng như tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của người hướng dẫn chính quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, trừ Thư ký Hội đồng phải đáp ứng quy định như đối với giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ quy định tại Điều 34 của Quy chế này.4. Điều kiện tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận ána) Toàn văn luận án, tóm tắt luận án, bản nhận xét của các phản biện độc lập và bản tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh được gửi đến các thành viên Hội đồng tối thiểu 30 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án;b) Từng thành viên Hội đồng phải có nhận xét về luận án và các ý kiến, nội dung tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh về nhận xét của phản biện độc lập bằng văn bản gửi đến đơn vị đào tạo chậm nhất là 15 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án của nghiên cứu sinh;c) Thời gian, địa điểm tổ chức bảo vệ luận án; tóm tắt luận án, trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài được công bố công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo tối thiểu 20 ngày trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án, trừ những luận án được phép bảo vệ mật theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này;d) Trường hợp đơn vị đào tạo tổ chức đánh giá luận án trực tuyến phải bảo đảm có ít nhất 03 thành viên Hội đồng có mặt trực tiếp cùng nghiên cứu sinh; trong trường hợp thiên tai, dịch bệnh bất khả kháng thực hiện theo hướng dẫn cụ thể của Đại học Quốc gia Hà Nội;đ) Không có khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về nội dung khoa học trong luận án trước phiên họp của Hội đồng; e) Hội đồng đánh giá luận án không họp nếu xảy ra một trong các trường hợp sau:- Không đáp ứng một trong các điều kiện quy định tại điểm a hoặc b hoặc c hoặc d hoặc đ nêu trên;- Vắng mặt Chủ tịch Hội đồng hoặc Thư ký Hội đồng;- Vắng mặt Phản biện có ý kiến không tán thành luận án;- Vắng mặt từ 02 thành viên Hội đồng trở lên;- Nghiên cứu sinh đang trong thời gian thi hành án hình sự hoặc bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên;- Có 02 thành viên Hội đồng không tán thành luận án. Trường hợp này, luận án được xem là không được Hội đồng đánh giá thông qua, không cần tổ chức bảo vệ luận án.5. Tổ chức đánh giá luận ána) Đơn vị đào tạo trực tiếp thực hiện công tác chuẩn bị và tổ chức đánh giá luận án. Nghiên cứu sinh và người hướng dẫn không tiếp xúc với các thành viên Hội đồng trước khi bảo vệ luận án;b) Luận án được tổ chức bảo vệ công khai. Những đề tài liên quan đến bí mật quốc gia được tổ chức bảo vệ theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này. Mỗi thành viên Hội đồng có trách nhiệm tìm hiểu đầy đủ về luận án trước khi đánh giá; ý kiến của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh phải được trình bày công khai trước Hội đồng để Hội đồng xem xét, đánh giá;c) Luận án được đánh giá bằng hình thức bỏ phiếu kín theo hai mức: “Đạt” hay “Không đạt” (theo mẫu ở Phụ lục V). Luận án không được thông qua nếu có từ 02 thành viên Hội đồng đánh giá có mặt tại buổi bảo vệ bỏ phiếu “Không đạt”;d) Hội đồng thông qua quyết nghị về luận án. Quyết nghị của Hội đồng phải nêu được các vấn đề sau: Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án; tính hiện đại, hợp lí và độ tin cậy của phương pháp nghiên cứu; kết quả mới của luận án; những thiếu sót về nội dung và hình thức của luận án; tán thành đề nghị công nhận hay không công nhận học vị tiến sĩ về ngành/chuyên ngành đào tạo cho nghiên cứu sinh; đề nghị khen thưởng (nếu luận án đặc biệt xuất sắc);đ) Biên bản buổi bảo vệ luận án được toàn thể Hội đồng đánh giá luận án thông qua và có chữ ký xác nhận của Chủ tịch và Thư ký Hội đồng;e) Hội đồng đánh giá luận án tự giải thể sau khi đã hoàn thành việc đánh giá luận án hoặc quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án. Trong trường hợp Hội đồng đánh giá luận án quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2; đơn vị đào tạo trực thuộc đề nghị Ban Đào tạo trình Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2. Trong trường hợp bất khả kháng, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên hoặc Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định gia hạn thời hạn hoạt động của Hội đồng;g) Không ra quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần thứ ba.6. Việc thay đổi thành viên Hội đồng đánh giá luận án chỉ được giải quyết trong trường hợp cần thiết, có lý do chính đáng. Thời hạn quy định liên quan đến hoạt động của các thành viên Hội đồng quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này và điều kiện tổ chức bảo vệ luận án theo quy định tại khoản 4, Điều này được tính kể từ ngày ký quyết định cuối cùng về việc thay đổi, bổ sung thành viên Hội đồng đánh giá luận án.7. Bảo vệ lại luận ána) Trong trường hợp luận án của nghiên cứu sinh không được Hội đồng đánh giá luận án thông qua và được Hội đồng kiến nghị cho phép bảo vệ lại, nghiên cứu sinh được phép sửa chữa luận án để bảo vệ lần thứ hai. Lần bảo vệ thứ hai sớm nhất là sau 03 tháng và muộn nhất là 06 tháng kể từ ngày bảo vệ lần thứ nhất;b) Không tổ chức đánh giá lại luận án khi không có kiến nghị của Hội đồng đánh giá luận án lần thứ nhất; c) Hồ sơ đề nghị bảo vệ lại luận án, ngoài các nội dung như lần bảo vệ thứ nhất, phải có thêm bản tường trình về quá trình bổ sung, sửa chữa, hoàn thiện luận án của nghiên cứu sinh, có xác nhận của người hướng dẫn và đề nghị bằng văn bản của đơn vị chuyên môn cho nghiên cứu sinh được bảo vệ lần thứ hai;d) Thành phần Hội đồng đánh giá luận án lần thứ hai phải có tối thiểu 03 thành viên đã tham gia Hội đồng lần thứ nhất, trong đó có đủ những thành viên có ý kiến không tán thành luận án. Không tổ chức đánh giá luận án lần thứ ba.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Hội đồng đánh giá luận án có trách nhiệm thông qua quyết nghị về luận án, trong đó cần nêu rõ ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án, tính hiện đại, hợp lí và độ tin cậy của phương pháp nghiên cứu, các kết quả mới đạt được, những thiếu sót về nội dung và hình thức (nếu có). Đồng thời, Hội đồng quyết định tán thành hay không tán thành đề nghị công nhận học vị tiến sĩ về ngành/chuyên ngành đào tạo cho nghiên cứu sinh và có thể đề nghị khen thưởng nếu luận án đặc biệt xuất sắc."
}
],
"id": "36004",
"is_impossible": false,
"question": "Là một chuyên gia trong ngành, tôi muốn biết Hội đồng đánh giá luận án có trách nhiệm gì trong việc đảm bảo chất lượng của luận án?"
}
]
}
],
"title": "Là một chuyên gia trong ngành, tôi muốn biết Hội đồng đánh giá luận án có trách nhiệm gì trong việc đảm bảo chất lượng của luận án?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan Điều 29. Đánh giá luận án 1. Việc tổ chức đánh giá luận án trước Hội đồng đánh giá luận án được phân công thực hiện như sau: a) Đơn vị đào tạo thành viên nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của đơn vị mình; mời phản biện độc lập; quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án; tổ chức đánh giá luận án; ra quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh; b) Ban Đào tạo nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của các đơn vị đào tạo trực thuộc; mời phản biện độc lập; báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án và ủy quyền cho các đơn vị đào tạo trực thuộc tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh, trình hồ sơ đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. 2. Điều kiện thành lập Hội đồng đánh giá luận án a) Nghiên cứu sinh và luận án đã đáp ứng đủ các điều kiện được quy định tại Điều 27 và Điều 28 của Quy chế này; b) Đạt quy trình phản biện độc lập hoặc được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập; c) Trích yếu luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh đã sửa đổi hoặc cập nhật, kèm theo luận án hoàn chỉnh đã sửa đổi, cập nhật, được cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn xác nhận; d) Có trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài theo quy định của đơn vị đào tạo; đ) Có đề nghị bằng văn bản của cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn và đơn vị chuyên môn cho phép nghiên cứu sinh được bảo vệ luận án; e) Kết quả đánh giá của các học phần, các học phần bổ sung (nếu có), các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan đã được cập nhật trên phần mềm quản lý đào tạo nghiên cứu sinh của Đại học Quốc gia Hà Nội; g) Có đầy đủ minh chứng những thay đổi trong quá trình đào tạo; h) Có đầy đủ nhận xét của các phản biện độc lập và thuyết minh tiếp thu, sửa chữa hoặc giải trình của nghiên cứu sinh, và nội dung này được công bố công khai trong phiên họp của Hội đồng; i) Minh chứng hoàn thành nghĩa vụ tài chính; k) Nghiên cứu sinh không trong thời gian thi hành án hình sự, kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên; l) Đáp ứng những yêu cầu khác theo quy định của đơn vị đào tạo. 3. Thành lập Hội đồng đánh giá luận án a) Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ gồm 07 thành viên, trong đó số thành viên thuộc đơn vị đào tạo không quá 03 người và phản biện độc lập không quá 01 người. Số thành viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ khoa học tối thiểu là 05 người; b) Thành viên Hội đồng là những nhà khoa học có chức danh giáo sư, phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ ngành đúng/ gần hoặc phù hợp với đề tài nghiên cứu hoặc lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh; thành viên chưa có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc học vị tiến sĩ khoa học phải có tối thiểu 03 năm (36 tháng) hoạt động chuyên môn kể từ khi có Quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ tính đến thời điểm được mời tham gia Hội đồng; có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín chuyên môn; am hiểu vấn đề nghiên cứu của luận án; c) Hội đồng gồm Chủ tịch, Thư ký, 03 Phản biện và 02 Uỷ viên. Một người hướng dẫn nghiên cứu sinh có thể tham gia Hội đồng với tư cách là Ủy viên. Mỗi thành viên Hội đồng chỉ đảm nhận một trách nhiệm trong Hội đồng. Chủ tịch Hội đồng phải là người có năng lực và uy tín chuyên môn, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư ngành/chuyên ngành phù hợp với chuyên môn của đề tài luận án. Thành viên Hội đồng phải là người không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh. Phản biện phải có trách nhiệm cao trong đánh giá chất lượng khoa học của luận án. Ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn như thành viên Hội đồng, các phản biện phải là người am hiểu sâu sắc luận án, có uy tín chuyên môn cao trong lĩnh vực khoa học đó, đồng thời đáp ứng các điều kiện sau: - Công tác ở các cơ quan, đơn vị khác nhau, trong đó tối thiểu có 02 phản biện thuộc các cơ quan ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội; - Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh và không là cấp dưới trực tiếp của nghiên cứu sinh; - Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án; - Khuyến khích mời các nhà khoa học giỏi là người nước ngoài hoặc người Việt Nam ở nước ngoài làm phản biện trong Hội đồng. d) Tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của thành viên Hội đồng như tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của người hướng dẫn chính quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, trừ Thư ký Hội đồng phải đáp ứng quy định như đối với giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ quy định tại Điều 34 của Quy chế này. 4. Điều kiện tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án a) Toàn văn luận án, tóm tắt luận án, bản nhận xét của các phản biện độc lập và bản tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh được gửi đến các thành viên Hội đồng tối thiểu 30 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án; b) Từng thành viên Hội đồng phải có nhận xét về luận án và các ý kiến, nội dung tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh về nhận xét của phản biện độc lập bằng văn bản gửi đến đơn vị đào tạo chậm nhất là 15 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án của nghiên cứu sinh; c) Thời gian, địa điểm tổ chức bảo vệ luận án; tóm tắt luận án, trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài được công bố công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo tối thiểu 20 ngày trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án, trừ những luận án được phép bảo vệ mật theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này; d) Trường hợp đơn vị đào tạo tổ chức đánh giá luận án trực tuyến phải bảo đảm có ít nhất 03 thành viên Hội đồng có mặt trực tiếp cùng nghiên cứu sinh; trong trường hợp thiên tai, dịch bệnh bất khả kháng thực hiện theo hướng dẫn cụ thể của Đại học Quốc gia Hà Nội; đ) Không có khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về nội dung khoa học trong luận án trước phiên họp của Hội đồng; e) Hội đồng đánh giá luận án không họp nếu xảy ra một trong các trường hợp sau: - Không đáp ứng một trong các điều kiện quy định tại điểm a hoặc b hoặc c hoặc d hoặc đ nêu trên; - Vắng mặt Chủ tịch Hội đồng hoặc Thư ký Hội đồng; - Vắng mặt Phản biện có ý kiến không tán thành luận án; - Vắng mặt từ 02 thành viên Hội đồng trở lên; - Nghiên cứu sinh đang trong thời gian thi hành án hình sự hoặc bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên; - Có 02 thành viên Hội đồng không tán thành luận án. Trường hợp này, luận án được xem là không được Hội đồng đánh giá thông qua, không cần tổ chức bảo vệ luận án. 5. Tổ chức đánh giá luận án a) Đơn vị đào tạo trực tiếp thực hiện công tác chuẩn bị và tổ chức đánh giá luận án. Nghiên cứu sinh và người hướng dẫn không tiếp xúc với các thành viên Hội đồng trước khi bảo vệ luận án; b) Luận án được tổ chức bảo vệ công khai. Những đề tài liên quan đến bí mật quốc gia được tổ chức bảo vệ theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này. Mỗi thành viên Hội đồng có trách nhiệm tìm hiểu đầy đủ về luận án trước khi đánh giá; ý kiến của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh phải được trình bày công khai trước Hội đồng để Hội đồng xem xét, đánh giá; c) Luận án được đánh giá bằng hình thức bỏ phiếu kín theo hai mức: “Đạt” hay “Không đạt” (theo mẫu ở Phụ lục V). Luận án không được thông qua nếu có từ 02 thành viên Hội đồng đánh giá có mặt tại buổi bảo vệ bỏ phiếu “Không đạt”; d) Hội đồng thông qua quyết nghị về luận án. Quyết nghị của Hội đồng phải nêu được các vấn đề sau: Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án; tính hiện đại, hợp lí và độ tin cậy của phương pháp nghiên cứu; kết quả mới của luận án; những thiếu sót về nội dung và hình thức của luận án; tán thành đề nghị công nhận hay không công nhận học vị tiến sĩ về ngành/chuyên ngành đào tạo cho nghiên cứu sinh; đề nghị khen thưởng (nếu luận án đặc biệt xuất sắc); đ) Biên bản buổi bảo vệ luận án được toàn thể Hội đồng đánh giá luận án thông qua và có chữ ký xác nhận của Chủ tịch và Thư ký Hội đồng; e) Hội đồng đánh giá luận án tự giải thể sau khi đã hoàn thành việc đánh giá luận án hoặc quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án. Trong trường hợp Hội đồng đánh giá luận án quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2; đơn vị đào tạo trực thuộc đề nghị Ban Đào tạo trình Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2. Trong trường hợp bất khả kháng, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên hoặc Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định gia hạn thời hạn hoạt động của Hội đồng; g) Không ra quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần thứ ba. 6. Việc thay đổi thành viên Hội đồng đánh giá luận án chỉ được giải quyết trong trường hợp cần thiết, có lý do chính đáng. Thời hạn quy định liên quan đến hoạt động của các thành viên Hội đồng quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này và điều kiện tổ chức bảo vệ luận án theo quy định tại khoản 4, Điều này được tính kể từ ngày ký quyết định cuối cùng về việc thay đổi, bổ sung thành viên Hội đồng đánh giá luận án. 7. Bảo vệ lại luận án a) Trong trường hợp luận án của nghiên cứu sinh không được Hội đồng đánh giá luận án thông qua và được Hội đồng kiến nghị cho phép bảo vệ lại, nghiên cứu sinh được phép sửa chữa luận án để bảo vệ lần thứ hai. Lần bảo vệ thứ hai sớm nhất là sau 03 tháng và muộn nhất là 06 tháng kể từ ngày bảo vệ lần thứ nhất; b) Không tổ chức đánh giá lại luận án khi không có kiến nghị của Hội đồng đánh giá luận án lần thứ nhất; c) Hồ sơ đề nghị bảo vệ lại luận án, ngoài các nội dung như lần bảo vệ thứ nhất, phải có thêm bản tường trình về quá trình bổ sung, sửa chữa, hoàn thiện luận án của nghiên cứu sinh, có xác nhận của người hướng dẫn và đề nghị bằng văn bản của đơn vị chuyên môn cho nghiên cứu sinh được bảo vệ lần thứ hai; d) Thành phần Hội đồng đánh giá luận án lần thứ hai phải có tối thiểu 03 thành viên đã tham gia Hội đồng lần thứ nhất, trong đó có đủ những thành viên có ý kiến không tán thành luận án. Không tổ chức đánh giá luận án lần thứ ba.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Để đảm bảo tính khách quan, thành viên phản biện trong quy trình đánh giá luận án của Hội đồng phải không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; không cùng cơ quan công tác và không là cấp dưới trực tiếp của nghiên cứu sinh; không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố liên quan đến đề tài luận án. Ngoài ra, tối thiểu phải có hai phản biện thuộc các cơ quan ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội."
}
],
"id": "36005",
"is_impossible": false,
"question": "Quy trình đánh giá luận án của Hội đồng có yêu cầu gì về tính khách quan của các thành viên phản biện?"
}
]
}
],
"title": "Quy trình đánh giá luận án của Hội đồng có yêu cầu gì về tính khách quan của các thành viên phản biện?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 29. Đánh giá luận án 1. Việc tổ chức đánh giá luận án trước Hội đồng đánh giá luận án được phân công thực hiện như sau:\na) Đơn vị đào tạo thành viên nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của đơn vị mình; mời phản biện độc lập; quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án; tổ chức đánh giá luận án; ra quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh;\n \nb) Ban Đào tạo nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của các đơn vị đào tạo trực thuộc; mời phản biện độc lập; báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án và ủy quyền cho các đơn vị đào tạo trực thuộc tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh, trình hồ sơ đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh.\n2. Điều kiện thành lập Hội đồng đánh giá luận án\na) Nghiên cứu sinh và luận án đã đáp ứng đủ các điều kiện được quy định tại Điều 27 và Điều 28 của Quy chế này;\nb) Đạt quy trình phản biện độc lập hoặc được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập;\nc) Trích yếu luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh đã sửa đổi hoặc cập nhật, kèm theo luận án hoàn chỉnh đã sửa đổi, cập nhật, được cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn xác nhận;\nd) Có trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài theo quy định của đơn vị đào tạo;\nđ) Có đề nghị bằng văn bản của cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn và đơn vị chuyên môn cho phép nghiên cứu sinh được bảo vệ luận án;\ne) Kết quả đánh giá của các học phần, các học phần bổ sung (nếu có), các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan đã được cập nhật trên phần mềm quản lý đào tạo nghiên cứu sinh của Đại học Quốc gia Hà Nội;\ng) Có đầy đủ minh chứng những thay đổi trong quá trình đào tạo;\nh) Có đầy đủ nhận xét của các phản biện độc lập và thuyết minh tiếp thu, sửa chữa hoặc giải trình của nghiên cứu sinh, và nội dung này được công bố công khai trong phiên họp của Hội đồng;\ni) Minh chứng hoàn thành nghĩa vụ tài chính;\nk) Nghiên cứu sinh không trong thời gian thi hành án hình sự, kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên;\nl) Đáp ứng những yêu cầu khác theo quy định của đơn vị đào tạo.\n \n3. Thành lập Hội đồng đánh giá luận án\na) Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ gồm 07 thành viên, trong đó số thành viên thuộc đơn vị đào tạo không quá 03 người và phản biện độc lập không quá 01 người. Số thành viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ khoa học tối thiểu là 05 người;\nb) Thành viên Hội đồng là những nhà khoa học có chức danh giáo sư, phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ ngành đúng/ gần hoặc phù hợp với đề tài nghiên cứu hoặc lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh; thành viên chưa có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc học vị tiến sĩ khoa học phải có tối thiểu 03 năm (36 tháng) hoạt động chuyên môn kể từ khi có Quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ tính đến thời điểm được mời tham gia Hội đồng; có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín chuyên môn; am hiểu vấn đề nghiên cứu của luận án;\nc) Hội đồng gồm Chủ tịch, Thư ký, 03 Phản biện và 02 Uỷ viên. Một người hướng dẫn nghiên cứu sinh có thể tham gia Hội đồng với tư cách là Ủy viên. Mỗi thành viên Hội đồng chỉ đảm nhận một trách nhiệm trong Hội đồng.\nChủ tịch Hội đồng phải là người có năng lực và uy tín chuyên môn, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư ngành/chuyên ngành phù hợp với chuyên môn của đề tài luận án.\nThành viên Hội đồng phải là người không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh.\nPhản biện phải có trách nhiệm cao trong đánh giá chất lượng khoa học của luận án. Ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn như thành viên Hội đồng, các phản biện phải là người am hiểu sâu sắc luận án, có uy tín chuyên môn cao trong lĩnh vực khoa học đó, đồng thời đáp ứng các điều kiện sau:\n- Công tác ở các cơ quan, đơn vị khác nhau, trong đó tối thiểu có 02 phản biện thuộc các cơ quan ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội;\n- Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh và không là cấp dưới trực tiếp của nghiên cứu sinh;\n \n- Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án;\n- Khuyến khích mời các nhà khoa học giỏi là người nước ngoài hoặc người Việt Nam ở nước ngoài làm phản biện trong Hội đồng.\nd) Tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của thành viên Hội đồng như tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của người hướng dẫn chính quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, trừ Thư ký Hội đồng phải đáp ứng quy định như đối với giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ quy định tại Điều 34 của Quy chế này.\n4. Điều kiện tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án\na) Toàn văn luận án, tóm tắt luận án, bản nhận xét của các phản biện độc lập và bản tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh được gửi đến các thành viên Hội đồng tối thiểu 30 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án;\nb) Từng thành viên Hội đồng phải có nhận xét về luận án và các ý kiến, nội dung tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh về nhận xét của phản biện độc lập bằng văn bản gửi đến đơn vị đào tạo chậm nhất là 15 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án của nghiên cứu sinh;\nc) Thời gian, địa điểm tổ chức bảo vệ luận án; tóm tắt luận án, trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài được công bố công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo tối thiểu 20 ngày trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án, trừ những luận án được phép bảo vệ mật theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này;\nd) Trường hợp đơn vị đào tạo tổ chức đánh giá luận án trực tuyến phải bảo đảm có ít nhất 03 thành viên Hội đồng có mặt trực tiếp cùng nghiên cứu sinh; trong trường hợp thiên tai, dịch bệnh bất khả kháng thực hiện theo hướng dẫn cụ thể của Đại học Quốc gia Hà Nội;\nđ) Không có khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về nội dung khoa học trong luận án trước phiên họp của Hội đồng;\n \ne) Hội đồng đánh giá luận án không họp nếu xảy ra một trong các trường hợp sau:\n- Không đáp ứng một trong các điều kiện quy định tại điểm a hoặc b hoặc c hoặc d hoặc đ nêu trên;\n- Vắng mặt Chủ tịch Hội đồng hoặc Thư ký Hội đồng;\n- Vắng mặt Phản biện có ý kiến không tán thành luận án;\n- Vắng mặt từ 02 thành viên Hội đồng trở lên;\n- Nghiên cứu sinh đang trong thời gian thi hành án hình sự hoặc bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên;\n- Có 02 thành viên Hội đồng không tán thành luận án. Trường hợp này, luận án được xem là không được Hội đồng đánh giá thông qua, không cần tổ chức bảo vệ luận án.\n5. Tổ chức đánh giá luận án\na) Đơn vị đào tạo trực tiếp thực hiện công tác chuẩn bị và tổ chức đánh giá luận án. Nghiên cứu sinh và người hướng dẫn không tiếp xúc với các thành viên Hội đồng trước khi bảo vệ luận án;\nb) Luận án được tổ chức bảo vệ công khai. Những đề tài liên quan đến bí mật quốc gia được tổ chức bảo vệ theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này. Mỗi thành viên Hội đồng có trách nhiệm tìm hiểu đầy đủ về luận án trước khi đánh giá; ý kiến của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh phải được trình bày công khai trước Hội đồng để Hội đồng xem xét, đánh giá;\nc) Luận án được đánh giá bằng hình thức bỏ phiếu kín theo hai mức: “Đạt” hay “Không đạt” (theo mẫu ở Phụ lục V). Luận án không được thông qua nếu có từ 02 thành viên Hội đồng đánh giá có mặt tại buổi bảo vệ bỏ phiếu “Không đạt”;\nd) Hội đồng thông qua quyết nghị về luận án. Quyết nghị của Hội đồng phải nêu được các vấn đề sau: Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án; tính hiện đại, hợp lí và độ tin cậy của phương pháp nghiên cứu; kết quả mới của luận án; những thiếu sót về nội dung và hình thức của luận án; tán thành đề nghị công nhận hay không công nhận học vị tiến\n \nsĩ về ngành/chuyên ngành đào tạo cho nghiên cứu sinh; đề nghị khen thưởng (nếu luận án đặc biệt xuất sắc);\nđ) Biên bản buổi bảo vệ luận án được toàn thể Hội đồng đánh giá luận án thông qua và có chữ ký xác nhận của Chủ tịch và Thư ký Hội đồng;\ne) Hội đồng đánh giá luận án tự giải thể sau khi đã hoàn thành việc đánh giá luận án hoặc quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án. Trong trường hợp Hội đồng đánh giá luận án quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2; đơn vị đào tạo trực thuộc đề nghị Ban Đào tạo trình Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2. Trong trường hợp bất khả kháng, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên hoặc Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định gia hạn thời hạn hoạt động của Hội đồng;\ng) Không ra quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần thứ ba.\n6. Việc thay đổi thành viên Hội đồng đánh giá luận án chỉ được giải quyết trong trường hợp cần thiết, có lý do chính đáng. Thời hạn quy định liên quan đến hoạt động của các thành viên Hội đồng quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này và điều kiện tổ chức bảo vệ luận án theo quy định tại khoản 4, Điều này được tính kể từ ngày ký quyết định cuối cùng về việc thay đổi, bổ sung thành viên Hội đồng đánh giá luận án.\n7. Bảo vệ lại luận án\na) Trong trường hợp luận án của nghiên cứu sinh không được Hội đồng đánh giá luận án thông qua và được Hội đồng kiến nghị cho phép bảo vệ lại, nghiên cứu sinh được phép sửa chữa luận án để bảo vệ lần thứ hai. Lần bảo vệ thứ hai sớm nhất là sau 03 tháng và muộn nhất là 06 tháng kể từ ngày bảo vệ lần thứ nhất;\nb) Không tổ chức đánh giá lại luận án khi không có kiến nghị của Hội đồng đánh giá luận án lần thứ nhất;\n \nc) Hồ sơ đề nghị bảo vệ lại luận án, ngoài các nội dung như lần bảo vệ thứ nhất, phải có thêm bản tường trình về quá trình bổ sung, sửa chữa, hoàn thiện luận án của nghiên cứu sinh, có xác nhận của người hướng dẫn và đề nghị bằng văn bản của đơn vị chuyên môn cho nghiên cứu sinh được bảo vệ lần thứ hai;\nd) Thành phần Hội đồng đánh giá luận án lần thứ hai phải có tối thiểu 03 thành viên đã tham gia Hội đồng lần thứ nhất, trong đó có đủ những thành viên có ý kiến không tán thành luận án. Không tổ chức đánh giá luận án lần thứ ba.\n",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Sau buổi bảo vệ, Hội đồng có thể đưa ra các quyết định như công nhận hoặc không công nhận học vị tiến sĩ cho nghiên cứu sinh, yêu cầu nghiên cứu sinh sửa chữa hoặc bổ sung luận án để bảo vệ lại, và đề nghị khen thưởng nếu luận án đặc biệt xuất sắc."
}
],
"id": "36006",
"is_impossible": false,
"question": "Hội đồng có thể đưa ra những quyết định gì về luận án của nghiên cứu sinh sau buổi bảo vệ?"
}
]
}
],
"title": "Hội đồng có thể đưa ra những quyết định gì về luận án của nghiên cứu sinh sau buổi bảo vệ?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 29. Đánh giá luận án 1. Việc tổ chức đánh giá luận án trước Hội đồng đánh giá luận án được phân công thực hiện như sau:a) Đơn vị đào tạo thành viên nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của đơn vị mình; mời phản biện độc lập; quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án; tổ chức đánh giá luận án; ra quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh;b) Ban Đào tạo nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của các đơn vị đào tạo trực thuộc; mời phản biện độc lập; báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án và ủy quyền cho các đơn vị đào tạo trực thuộc tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh, trình hồ sơ đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh.2. Điều kiện thành lập Hội đồng đánh giá luận ána) Nghiên cứu sinh và luận án đã đáp ứng đủ các điều kiện được quy định tại Điều 27 và Điều 28 của Quy chế này;b) Đạt quy trình phản biện độc lập hoặc được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập;c) Trích yếu luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh đã sửa đổi hoặc cập nhật, kèm theo luận án hoàn chỉnh đã sửa đổi, cập nhật, được cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn xác nhận;d) Có trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài theo quy định của đơn vị đào tạo;đ) Có đề nghị bằng văn bản của cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn và đơn vị chuyên môn cho phép nghiên cứu sinh được bảo vệ luận án;e) Kết quả đánh giá của các học phần, các học phần bổ sung (nếu có), các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan đã được cập nhật trên phần mềm quản lý đào tạo nghiên cứu sinh của Đại học Quốc gia Hà Nội;g) Có đầy đủ minh chứng những thay đổi trong quá trình đào tạo;h) Có đầy đủ nhận xét của các phản biện độc lập và thuyết minh tiếp thu, sửa chữa hoặc giải trình của nghiên cứu sinh, và nội dung này được công bố công khai trong phiên họp của Hội đồng;i) Minh chứng hoàn thành nghĩa vụ tài chính;k) Nghiên cứu sinh không trong thời gian thi hành án hình sự, kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên;l) Đáp ứng những yêu cầu khác theo quy định của đơn vị đào tạo.3. Thành lập Hội đồng đánh giá luận ánh) Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ gồm 07 thành viên, trong đó số thành viên thuộc đơn vị đào tạo không quá 03 người và phản biện độc lập không quá 01 người. Số thành viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ khoa học tối thiểu là 05 người;b) Thành viên Hội đồng là những nhà khoa học có chức danh giáo sư, phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ ngành đúng/ gần hoặc phù hợp với đề tài nghiên cứu hoặc lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh; thành viên chưa có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc học vị tiến sĩ khoa học phải có tối thiểu 03 năm (36 tháng) hoạt động chuyên môn kể từ khi có Quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ tính đến thời điểm được mời tham gia Hội đồng; có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín chuyên môn; am hiểu vấn đề nghiên cứu của luận án;c) Hội đồng gồm Chủ tịch, Thư ký, 03 Phản biện và 02 Uỷ viên. Một người hướng dẫn nghiên cứu sinh có thể tham gia Hội đồng với tư cách là Ủy viên. Mỗi thành viên Hội đồng chỉ đảm nhận một trách nhiệm trong Hội đồng.Chủ tịch Hội đồng phải là người có năng lực và uy tín chuyên môn, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư ngành/chuyên ngành phù hợp với chuyên môn của đề tài luận án.Thành viên Hội đồng phải là người không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh.Phản biện phải có trách nhiệm cao trong đánh giá chất lượng khoa học của luận án. Ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn như thành viên Hội đồng, các phản biện phải là người am hiểu sâu sắc luận án, có uy tín chuyên môn cao trong lĩnh vực khoa học đó, đồng thời đáp ứng các điều kiện sau:- Công tác ở các cơ quan, đơn vị khác nhau, trong đó tối thiểu có 02 phản biện thuộc các cơ quan ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội;- Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh và không là cấp dưới trực tiếp của nghiên cứu sinh;- Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án;- Khuyến khích mời các nhà khoa học giỏi là người nước ngoài hoặc người Việt Nam ở nước ngoài làm phản biện trong Hội đồng.d) Tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của thành viên Hội đồng như tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của người hướng dẫn chính quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, trừ Thư ký Hội đồng phải đáp ứng quy định như đối với giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ quy định tại Điều 34 của Quy chế này.4. Điều kiện tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận ána) Toàn văn luận án, tóm tắt luận án, bản nhận xét của các phản biện độc lập và bản tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh được gửi đến các thành viên Hội đồng tối thiểu 30 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án;b) Từng thành viên Hội đồng phải có nhận xét về luận án và các ý kiến, nội dung tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh về nhận xét của phản biện độc lập bằng văn bản gửi đến đơn vị đào tạo chậm nhất là 15 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án của nghiên cứu sinh;c) Thời gian, địa điểm tổ chức bảo vệ luận án; tóm tắt luận án, trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài được công bố công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo tối thiểu 20 ngày trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án, trừ những luận án được phép bảo vệ mật theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này;d) Trường hợp đơn vị đào tạo tổ chức đánh giá luận án trực tuyến phải bảo đảm có ít nhất 03 thành viên Hội đồng có mặt trực tiếp cùng nghiên cứu sinh; trong trường hợp thiên tai, dịch bệnh bất khả kháng thực hiện theo hướng dẫn cụ thể của Đại học Quốc gia Hà Nội;đ) Không có khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về nội dung khoa học trong luận án trước phiên họp của Hội đồng;e) Hội đồng đánh giá luận án không họp nếu xảy ra một trong các trường hợp sau:- Không đáp ứng một trong các điều kiện quy định tại điểm a hoặc b hoặc c hoặc d hoặc đ nêu trên;- Vắng mặt Chủ tịch Hội đồng hoặc Thư ký Hội đồng;- Vắng mặt Phản biện có ý kiến không tán thành luận án;- Vắng mặt từ 02 thành viên Hội đồng trở lên;- Nghiên cứu sinh đang trong thời gian thi hành án hình sự hoặc bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên;- Có 02 thành viên Hội đồng không tán thành luận án. Trường hợp này, luận án được xem là không được Hội đồng đánh giá thông qua, không cần tổ chức bảo vệ luận án.5. Tổ chức đánh giá luận ána) Đơn vị đào tạo trực tiếp thực hiện công tác chuẩn bị và tổ chức đánh giá luận án. Nghiên cứu sinh và người hướng dẫn không tiếp xúc với các thành viên Hội đồng trước khi bảo vệ luận án;b) Luận án được tổ chức bảo vệ công khai. Những đề tài liên quan đến bí mật quốc gia được tổ chức bảo vệ theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này. Mỗi thành viên Hội đồng có trách nhiệm tìm hiểu đầy đủ về luận án trước khi đánh giá; ý kiến của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh phải được trình bày công khai trước Hội đồng để Hội đồng xem xét, đánh giá;c) Luận án được đánh giá bằng hình thức bỏ phiếu kín theo hai mức: “Đạt” hay “Không đạt” (theo mẫu ở Phụ lục V). Luận án không được thông qua nếu có từ 02 thành viên Hội đồng đánh giá có mặt tại buổi bảo vệ bỏ phiếu “Không đạt”;d) Hội đồng thông qua quyết nghị về luận án. Quyết nghị của Hội đồng phải nêu được các vấn đề sau: Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án; tính hiện đại, hợp lí và độ tin cậy của phương pháp nghiên cứu; kết quả mới của luận án; những thiếu sót về nội dung và hình thức của luận án; tán thành đề nghị công nhận hay không công nhận học vị tiến sĩ về ngành/chuyên ngành đào tạo cho nghiên cứu sinh; đề nghị khen thưởng (nếu luận án đặc biệt xuất sắc);đ) Biên bản buổi bảo vệ luận án được toàn thể Hội đồng đánh giá luận án thông qua và có chữ ký xác nhận của Chủ tịch và Thư ký Hội đồng;e) Hội đồng đánh giá luận án tự giải thể sau khi đã hoàn thành việc đánh giá luận án hoặc quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án. Trong trường hợp Hội đồng đánh giá luận án quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2; đơn vị đào tạo trực thuộc đề nghị Ban Đào tạo trình Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2. Trong trường hợp bất khả kháng, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên hoặc Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định gia hạn thời hạn hoạt động của Hội đồng;g) Không ra quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần thứ ba.6. Việc thay đổi thành viên Hội đồng đánh giá luận án chỉ được giải quyết trong trường hợp cần thiết, có lý do chính đáng. Thời hạn quy định liên quan đến hoạt động của các thành viên Hội đồng quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này và điều kiện tổ chức bảo vệ luận án theo quy định tại khoản 4, Điều này được tính kể từ ngày ký quyết định cuối cùng về việc thay đổi, bổ sung thành viên Hội đồng đánh giá luận án.7. Bảo vệ lại luận ánh) Trong trường hợp luận án của nghiên cứu sinh không được Hội đồng đánh giá luận án thông qua và được Hội đồng kiến nghị cho phép bảo vệ lại, nghiên cứu sinh được phép sửa chữa luận án để bảo vệ lần thứ hai. Lần bảo vệ thứ hai sớm nhất là sau 03 tháng và muộn nhất là 06 tháng kể từ ngày bảo vệ lần thứ nhất;b) Không tổ chức đánh giá lại luận án khi không có kiến nghị của Hội đồng đánh giá luận án lần thứ nhất;c) Hồ sơ đề nghị bảo vệ lại luận án, ngoài các nội dung như lần bảo vệ thứ nhất, phải có thêm bản tường trình về quá trình bổ sung, sửa chữa, hoàn thiện luận án của nghiên cứu sinh, có xác nhận của người hướng dẫn và đề nghị bằng văn bản của đơn vị chuyên môn cho nghiên cứu sinh được bảo vệ lần thứ hai;d) Thành phần Hội đồng đánh giá luận án lần thứ hai phải có tối thiểu 03 thành viên đã tham gia Hội đồng lần thứ nhất, trong đó có đủ những thành viên có ý kiến không tán thành luận án. Không tổ chức đánh giá luận án lần thứ ba.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nghiên cứu sinh có cơ hội bảo vệ lại luận án nếu luận án không được Hội đồng đánh giá thông qua trong lần bảo vệ đầu tiên và được Hội đồng kiến nghị cho phép bảo vệ lại. Lần bảo vệ thứ hai có thể diễn ra sớm nhất 03 tháng và muộn nhất 06 tháng kể từ ngày bảo vệ lần thứ nhất. Lưu ý, sẽ không tổ chức đánh giá lại luận án nếu không có kiến nghị của Hội đồng lần thứ nhất, và không tổ chức bảo vệ luận án lần thứ ba."
}
],
"id": "36007",
"is_impossible": false,
"question": "Nếu luận án bị từ chối thông qua, nghiên cứu sinh có cơ hội để bảo vệ lại không?"
}
]
}
],
"title": "Nếu luận án bị từ chối thông qua, nghiên cứu sinh có cơ hội để bảo vệ lại không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan Điều 29. Đánh giá luận án 1. Việc tổ chức đánh giá luận án trước Hội đồng đánh giá luận án được phân công thực hiện như sau:\na) Đơn vị đào tạo thành viên nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của đơn vị mình; mời phản biện độc lập; quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án; tổ chức đánh giá luận án; ra quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh;\n\nb) Ban Đào tạo nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của các đơn vị đào tạo trực thuộc; mời phản biện độc lập; báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án và ủy quyền cho các đơn vị đào tạo trực thuộc tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh, trình hồ sơ đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh.\n2. Điều kiện thành lập Hội đồng đánh giá luận án\na) Nghiên cứu sinh và luận án đã đáp ứng đủ các điều kiện được quy định tại Điều 27 và Điều 28 của Quy chế này;\nb) Đạt quy trình phản biện độc lập hoặc được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập;\nc) Trích yếu luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh đã sửa đổi hoặc cập nhật, kèm theo luận án hoàn chỉnh đã sửa đổi, cập nhật, được cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn xác nhận;\nd) Có trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài theo quy định của đơn vị đào tạo;\nđ) Có đề nghị bằng văn bản của cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn và đơn vị chuyên môn cho phép nghiên cứu sinh được bảo vệ luận án;\ne) Kết quả đánh giá của các học phần, các học phần bổ sung (nếu có), các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan đã được cập nhật trên phần mềm quản lý đào tạo nghiên cứu sinh của Đại học Quốc gia Hà Nội;\ng) Có đầy đủ minh chứng những thay đổi trong quá trình đào tạo;\nh) Có đầy đủ nhận xét của các phản biện độc lập và thuyết minh tiếp thu, sửa chữa hoặc giải trình của nghiên cứu sinh, và nội dung này được công bố công khai trong phiên họp của Hội đồng;\ni) Minh chứng hoàn thành nghĩa vụ tài chính;\nk) Nghiên cứu sinh không trong thời gian thi hành án hình sự, kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên;\nl) Đáp ứng những yêu cầu khác theo quy định của đơn vị đào tạo.\n\n3. Thành lập Hội đồng đánh giá luận án\na) Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ gồm 07 thành viên, trong đó số thành viên thuộc đơn vị đào tạo không quá 03 người và phản biện độc lập không quá 01 người. Số thành viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ khoa học tối thiểu là 05 người;\nb) Thành viên Hội đồng là những nhà khoa học có chức danh giáo sư, phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ ngành đúng/ gần hoặc phù hợp với đề tài nghiên cứu hoặc lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh; thành viên chưa có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc học vị tiến sĩ khoa học phải có tối thiểu 03 năm (36 tháng) hoạt động chuyên môn kể từ khi có Quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ tính đến thời điểm được mời tham gia Hội đồng; có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín chuyên môn; am hiểu vấn đề nghiên cứu của luận án;\nc) Hội đồng gồm Chủ tịch, Thư ký, 03 Phản biện và 02 Uỷ viên. Một người hướng dẫn nghiên cứu sinh có thể tham gia Hội đồng với tư cách là Ủy viên. Mỗi thành viên Hội đồng chỉ đảm nhận một trách nhiệm trong Hội đồng.\nChủ tịch Hội đồng phải là người có năng lực và uy tín chuyên môn, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư ngành/chuyên ngành phù hợp với chuyên môn của đề tài luận án.\nThành viên Hội đồng phải là người không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh.\nPhản biện phải có trách nhiệm cao trong đánh giá chất lượng khoa học của luận án. Ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn như thành viên Hội đồng, các phản biện phải là người am hiểu sâu sắc luận án, có uy tín chuyên môn cao trong lĩnh vực khoa học đó, đồng thời đáp ứng các điều kiện sau:\n- Công tác ở các cơ quan, đơn vị khác nhau, trong đó tối thiểu có 02 phản biện thuộc các cơ quan ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội;\n- Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh và không là cấp dưới trực tiếp của nghiên cứu sinh;\n\n- Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án;\n- Khuyến khích mời các nhà khoa học giỏi là người nước ngoài hoặc người Việt Nam ở nước ngoài làm phản biện trong Hội đồng.\nd) Tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của thành viên Hội đồng như tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của người hướng dẫn chính quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, trừ Thư ký Hội đồng phải đáp ứng quy định như đối với giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ quy định tại Điều 34 của Quy chế này.\n4. Điều kiện tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án\na) Toàn văn luận án, tóm tắt luận án, bản nhận xét của các phản biện độc lập và bản tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh được gửi đến các thành viên Hội đồng tối thiểu 30 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án;\nb) Từng thành viên Hội đồng phải có nhận xét về luận án và các ý kiến, nội dung tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh về nhận xét của phản biện độc lập bằng văn bản gửi đến đơn vị đào tạo chậm nhất là 15 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án của nghiên cứu sinh;\nc) Thời gian, địa điểm tổ chức bảo vệ luận án; tóm tắt luận án, trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài được công bố công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo tối thiểu 20 ngày trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án, trừ những luận án được phép bảo vệ mật theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này;\nd) Trường hợp đơn vị đào tạo tổ chức đánh giá luận án trực tuyến phải bảo đảm có ít nhất 03 thành viên Hội đồng có mặt trực tiếp cùng nghiên cứu sinh; trong trường hợp thiên tai, dịch bệnh bất khả kháng thực hiện theo hướng dẫn cụ thể của Đại học Quốc gia Hà Nội;\nđ) Không có khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về nội dung khoa học trong luận án trước phiên họp của Hội đồng;\n\ne) Hội đồng đánh giá luận án không họp nếu xảy ra một trong các trường hợp sau:\n- Không đáp ứng một trong các điều kiện quy định tại điểm a hoặc b hoặc c hoặc d hoặc đ nêu trên;\n- Vắng mặt Chủ tịch Hội đồng hoặc Thư ký Hội đồng;\n- Vắng mặt Phản biện có ý kiến không tán thành luận án;\n- Vắng mặt từ 02 thành viên Hội đồng trở lên;\n- Nghiên cứu sinh đang trong thời gian thi hành án hình sự hoặc bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên;\n- Có 02 thành viên Hội đồng không tán thành luận án. Trường hợp này, luận án được xem là không được Hội đồng đánh giá thông qua, không cần tổ chức bảo vệ luận án.\n5. Tổ chức đánh giá luận án\na) Đơn vị đào tạo trực tiếp thực hiện công tác chuẩn bị và tổ chức đánh giá luận án. Nghiên cứu sinh và người hướng dẫn không tiếp xúc với các thành viên Hội đồng trước khi bảo vệ luận án;\nb) Luận án được tổ chức bảo vệ công khai. Những đề tài liên quan đến bí mật quốc gia được tổ chức bảo vệ theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này. Mỗi thành viên Hội đồng có trách nhiệm tìm hiểu đầy đủ về luận án trước khi đánh giá; ý kiến của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh phải được trình bày công khai trước Hội đồng để Hội đồng xem xét, đánh giá;\nc) Luận án được đánh giá bằng hình thức bỏ phiếu kín theo hai mức: “Đạt” hay “Không đạt” (theo mẫu ở Phụ lục V). Luận án không được thông qua nếu có từ 02 thành viên Hội đồng đánh giá có mặt tại buổi bảo vệ bỏ phiếu “Không đạt”;\nd) Hội đồng thông qua quyết nghị về luận án. Quyết nghị của Hội đồng phải nêu được các vấn đề sau: Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án; tính hiện đại, hợp lí và độ tin cậy của phương pháp nghiên cứu; kết quả mới của luận án; những thiếu sót về nội dung và hình thức của luận án; tán thành đề nghị công nhận hay không công nhận học vị tiến\n\nsĩ về ngành/chuyên ngành đào tạo cho nghiên cứu sinh; đề nghị khen thưởng (nếu luận án đặc biệt xuất sắc);\nđ) Biên bản buổi bảo vệ luận án được toàn thể Hội đồng đánh giá luận án thông qua và có chữ ký xác nhận của Chủ tịch và Thư ký Hội đồng;\ne) Hội đồng đánh giá luận án tự giải thể sau khi đã hoàn thành việc đánh giá luận án hoặc quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án. Trong trường hợp Hội đồng đánh giá luận án quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2; đơn vị đào tạo trực thuộc đề nghị Ban Đào tạo trình Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2. Trong trường hợp bất khả kháng, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên hoặc Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định gia hạn thời hạn hoạt động của Hội đồng;\ng) Không ra quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần thứ ba.\n6. Việc thay đổi thành viên Hội đồng đánh giá luận án chỉ được giải quyết trong trường hợp cần thiết, có lý do chính đáng. Thời hạn quy định liên quan đến hoạt động của các thành viên Hội đồng quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này và điều kiện tổ chức bảo vệ luận án theo quy định tại khoản 4, Điều này được tính kể từ ngày ký quyết định cuối cùng về việc thay đổi, bổ sung thành viên Hội đồng đánh giá luận án.\n7. Bảo vệ lại luận án\na) Trong trường hợp luận án của nghiên cứu sinh không được Hội đồng đánh giá luận án thông qua và được Hội đồng kiến nghị cho phép bảo vệ lại, nghiên cứu sinh được phép sửa chữa luận án để bảo vệ lần thứ hai. Lần bảo vệ thứ hai sớm nhất là sau 03 tháng và muộn nhất là 06 tháng kể từ ngày bảo vệ lần thứ nhất;\nb) Không tổ chức đánh giá lại luận án khi không có kiến nghị của Hội đồng đánh giá luận án lần thứ nhất;\n\nc) Hồ sơ đề nghị bảo vệ lại luận án, ngoài các nội dung như lần bảo vệ thứ nhất, phải có thêm bản tường trình về quá trình bổ sung, sửa chữa, hoàn thiện luận án của nghiên cứu sinh, có xác nhận của người hướng dẫn và đề nghị bằng văn bản của đơn vị chuyên môn cho nghiên cứu sinh được bảo vệ lần thứ hai;\nd) Thành phần Hội đồng đánh giá luận án lần thứ hai phải có tối thiểu 03 thành viên đã tham gia Hội đồng lần thứ nhất, trong đó có đủ những thành viên có ý kiến không tán thành luận án. Không tổ chức đánh giá luận án lần thứ ba.\n",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Trong quá trình tổ chức đánh giá luận án, đơn vị đào tạo (nhà trường) có vai trò nhận hồ sơ đề nghị đánh giá, mời phản biện độc lập, quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án, tổ chức đánh giá luận án, ra quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh, đồng thời trực tiếp thực hiện công tác chuẩn bị và tổ chức đánh giá luận án."
}
],
"id": "36008",
"is_impossible": false,
"question": "Nhà trường có vai trò gì trong quá trình tổ chức đánh giá luận án?"
}
]
}
],
"title": "Nhà trường có vai trò gì trong quá trình tổ chức đánh giá luận án?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 29. Đánh giá luận án 1. Việc tổ chức đánh giá luận án trước Hội đồng đánh giá luận án được phân công thực hiện như sau: a) Đơn vị đào tạo thành viên nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của đơn vị mình; mời phản biện độc lập; quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án; tổ chức đánh giá luận án; ra quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh; b) Ban Đào tạo nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của các đơn vị đào tạo trực thuộc; mời phản biện độc lập; báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án và ủy quyền cho các đơn vị đào tạo trực thuộc tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh, trình hồ sơ đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. 2. Điều kiện thành lập Hội đồng đánh giá luận án a) Nghiên cứu sinh và luận án đã đáp ứng đủ các điều kiện được quy định tại Điều 27 và Điều 28 của Quy chế này; b) Đạt quy trình phản biện độc lập hoặc được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập; c) Trích yếu luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh đã sửa đổi hoặc cập nhật, kèm theo luận án hoàn chỉnh đã sửa đổi, cập nhật, được cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn xác nhận; d) Có trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài theo quy định của đơn vị đào tạo; đ) Có đề nghị bằng văn bản của cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn và đơn vị chuyên môn cho phép nghiên cứu sinh được bảo vệ luận án; e) Kết quả đánh giá của các học phần, các học phần bổ sung (nếu có), các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan đã được cập nhật trên phần mềm quản lý đào tạo nghiên cứu sinh của Đại học Quốc gia Hà Nội; g) Có đầy đủ minh chứng những thay đổi trong quá trình đào tạo; h) Có đầy đủ nhận xét của các phản biện độc lập và thuyết minh tiếp thu, sửa chữa hoặc giải trình của nghiên cứu sinh, và nội dung này được công bố công khai trong phiên họp của Hội đồng; i) Minh chứng hoàn thành nghĩa vụ tài chính; k) Nghiên cứu sinh không trong thời gian thi hành án hình sự, kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên; l) Đáp ứng những yêu cầu khác theo quy định của đơn vị đào tạo. 3. Thành lập Hội đồng đánh giá luận án a) Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ gồm 07 thành viên, trong đó số thành viên thuộc đơn vị đào tạo không quá 03 người và phản biện độc lập không quá 01 người. Số thành viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ khoa học tối thiểu là 05 người; b) Thành viên Hội đồng là những nhà khoa học có chức danh giáo sư, phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ ngành đúng/ gần hoặc phù hợp với đề tài nghiên cứu hoặc lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh; thành viên chưa có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc học vị tiến sĩ khoa học phải có tối thiểu 03 năm (36 tháng) hoạt động chuyên môn kể từ khi có Quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ tính đến thời điểm được mời tham gia Hội đồng; có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín chuyên môn; am hiểu vấn đề nghiên cứu của luận án; c) Hội đồng gồm Chủ tịch, Thư ký, 03 Phản biện và 02 Uỷ viên. Một người hướng dẫn nghiên cứu sinh có thể tham gia Hội đồng với tư cách là Ủy viên. Mỗi thành viên Hội đồng chỉ đảm nhận một trách nhiệm trong Hội đồng. Chủ tịch Hội đồng phải là người có năng lực và uy tín chuyên môn, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư ngành/chuyên ngành phù hợp với chuyên môn của đề tài luận án. Thành viên Hội đồng phải là người không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh. Phản biện phải có trách nhiệm cao trong đánh giá chất lượng khoa học của luận án. Ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn như thành viên Hội đồng, các phản biện phải là người am hiểu sâu sắc luận án, có uy tín chuyên môn cao trong lĩnh vực khoa học đó, đồng thời đáp ứng các điều kiện sau: - Công tác ở các cơ quan, đơn vị khác nhau, trong đó tối thiểu có 02 phản biện thuộc các cơ quan ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội; - Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh và không là cấp dưới trực tiếp của nghiên cứu sinh; - Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án; - Khuyến khích mời các nhà khoa học giỏi là người nước ngoài hoặc người Việt Nam ở nước ngoài làm phản biện trong Hội đồng. d) Tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của thành viên Hội đồng như tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của người hướng dẫn chính quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, trừ Thư ký Hội đồng phải đáp ứng quy định như đối với giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ quy định tại Điều 34 của Quy chế này. 4. Điều kiện tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án a) Toàn văn luận án, tóm tắt luận án, bản nhận xét của các phản biện độc lập và bản tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh được gửi đến các thành viên Hội đồng tối thiểu 30 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án; b) Từng thành viên Hội đồng phải có nhận xét về luận án và các ý kiến, nội dung tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh về nhận xét của phản biện độc lập bằng văn bản gửi đến đơn vị đào tạo chậm nhất là 15 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án của nghiên cứu sinh; c) Thời gian, địa điểm tổ chức bảo vệ luận án; tóm tắt luận án, trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài được công bố công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo tối thiểu 20 ngày trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án, trừ những luận án được phép bảo vệ mật theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này; d) Trường hợp đơn vị đào tạo tổ chức đánh giá luận án trực tuyến phải bảo đảm có ít nhất 03 thành viên Hội đồng có mặt trực tiếp cùng nghiên cứu sinh; trong trường hợp thiên tai, dịch bệnh bất khả kháng thực hiện theo hướng dẫn cụ thể của Đại học Quốc gia Hà Nội; đ) Không có khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về nội dung khoa học trong luận án trước phiên họp của Hội đồng; e) Hội đồng đánh giá luận án không họp nếu xảy ra một trong các trường hợp sau: - Không đáp ứng một trong các điều kiện quy định tại điểm a hoặc b hoặc c hoặc d hoặc đ nêu trên; - Vắng mặt Chủ tịch Hội đồng hoặc Thư ký Hội đồng; - Vắng mặt Phản biện có ý kiến không tán thành luận án; - Vắng mặt từ 02 thành viên Hội đồng trở lên; - Nghiên cứu sinh đang trong thời gian thi hành án hình sự hoặc bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên; - Có 02 thành viên Hội đồng không tán thành luận án. Trường hợp này, luận án được xem là không được Hội đồng đánh giá thông qua, không cần tổ chức bảo vệ luận án. 5. Tổ chức đánh giá luận án a) Đơn vị đào tạo trực tiếp thực hiện công tác chuẩn bị và tổ chức đánh giá luận án. Nghiên cứu sinh và người hướng dẫn không tiếp xúc với các thành viên Hội đồng trước khi bảo vệ luận án; b) Luận án được tổ chức bảo vệ công khai. Những đề tài liên quan đến bí mật quốc gia được tổ chức bảo vệ theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này. Mỗi thành viên Hội đồng có trách nhiệm tìm hiểu đầy đủ về luận án trước khi đánh giá; ý kiến của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh phải được trình bày công khai trước Hội đồng để Hội đồng xem xét, đánh giá; c) Luận án được đánh giá bằng hình thức bỏ phiếu kín theo hai mức: “Đạt” hay “Không đạt” (theo mẫu ở Phụ lục V). Luận án không được thông qua nếu có từ 02 thành viên Hội đồng đánh giá có mặt tại buổi bảo vệ bỏ phiếu “Không đạt”; d) Hội đồng thông qua quyết nghị về luận án. Quyết nghị của Hội đồng phải nêu được các vấn đề sau: Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án; tính hiện đại, hợp lí và độ tin cậy của phương pháp nghiên cứu; kết quả mới của luận án; những thiếu sót về nội dung và hình thức của luận án; tán thành đề nghị công nhận hay không công nhận học vị tiến sĩ về ngành/chuyên ngành đào tạo cho nghiên cứu sinh; đề nghị khen thưởng (nếu luận án đặc biệt xuất sắc); đ) Biên bản buổi bảo vệ luận án được toàn thể Hội đồng đánh giá luận án thông qua và có chữ ký xác nhận của Chủ tịch và Thư ký Hội đồng; e) Hội đồng đánh giá luận án tự giải thể sau khi đã hoàn thành việc đánh giá luận án hoặc quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án. Trong trường hợp Hội đồng đánh giá luận án quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2; đơn vị đào tạo trực thuộc đề nghị Ban Đào tạo trình Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2. Trong trường hợp bất khả kháng, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên hoặc Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định gia hạn thời hạn hoạt động của Hội đồng; g) Không ra quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần thứ ba. 6. Việc thay đổi thành viên Hội đồng đánh giá luận án chỉ được giải quyết trong trường hợp cần thiết, có lý do chính đáng. Thời hạn quy định liên quan đến hoạt động của các thành viên Hội đồng quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này và điều kiện tổ chức bảo vệ luận án theo quy định tại khoản 4, Điều này được tính kể từ ngày ký quyết định cuối cùng về việc thay đổi, bổ sung thành viên Hội đồng đánh giá luận án. 7. Bảo vệ lại luận án a) Trong trường hợp luận án của nghiên cứu sinh không được Hội đồng đánh giá luận án thông qua và được Hội đồng kiến nghị cho phép bảo vệ lại, nghiên cứu sinh được phép sửa chữa luận án để bảo vệ lần thứ hai. Lần bảo vệ thứ hai sớm nhất là sau 03 tháng và muộn nhất là 06 tháng kể từ ngày bảo vệ lần thứ nhất; b) Không tổ chức đánh giá lại luận án khi không có kiến nghị của Hội đồng đánh giá luận án lần thứ nhất; c) Hồ sơ đề nghị bảo vệ lại luận án, ngoài các nội dung như lần bảo vệ thứ nhất, phải có thêm bản tường trình về quá trình bổ sung, sửa chữa, hoàn thiện luận án của nghiên cứu sinh, có xác nhận của người hướng dẫn và đề nghị bằng văn bản của đơn vị chuyên môn cho phép nghiên cứu sinh được bảo vệ lần thứ hai; d) Thành phần Hội đồng đánh giá luận án lần thứ hai phải có tối thiểu 03 thành viên đã tham gia Hội đồng lần thứ nhất, trong đó có đủ những thành viên có ý kiến không tán thành luận án. Không tổ chức đánh giá luận án lần thứ ba.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Trước khi buổi bảo vệ luận án diễn ra, nhà trường cần gửi toàn văn luận án, tóm tắt luận án, bản nhận xét của các phản biện độc lập và bản tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh đến các thành viên Hội đồng ít nhất 30 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng. Đồng thời, nhà trường phải công bố công khai thời gian, địa điểm tổ chức bảo vệ luận án, tóm tắt luận án và trang thông tin về những điểm mới của luận án (bằng tiếng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài) trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo tối thiểu 20 ngày trước ngày họp Hội đồng."
}
],
"id": "36009",
"is_impossible": false,
"question": "Nhà trường phải chuẩn bị những gì trước khi buổi bảo vệ luận án diễn ra?"
}
]
}
],
"title": "Nhà trường phải chuẩn bị những gì trước khi buổi bảo vệ luận án diễn ra?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 29. Đánh giá luận án 1. Việc tổ chức đánh giá luận án trước Hội đồng đánh giá luận án được phân công thực hiện như sau:\na) Đơn vị đào tạo thành viên nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của đơn vị mình; mời phản biện độc lập; quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án; tổ chức đánh giá luận án; ra quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh;\n \nb) Ban Đào tạo nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của các đơn vị đào tạo trực thuộc; mời phản biện độc lập; báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án và ủy quyền cho các đơn vị đào tạo trực thuộc tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh, trình hồ sơ đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh.\n2. Điều kiện thành lập Hội đồng đánh giá luận án\na) Nghiên cứu sinh và luận án đã đáp ứng đủ các điều kiện được quy định tại Điều 27 và Điều 28 của Quy chế này;\nb) Đạt quy trình phản biện độc lập hoặc được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập;\nc) Trích yếu luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh đã sửa đổi hoặc cập nhật, kèm theo luận án hoàn chỉnh đã sửa đổi, cập nhật, được cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn xác nhận;\nd) Có trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài theo quy định của đơn vị đào tạo;\nđ) Có đề nghị bằng văn bản của cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn và đơn vị chuyên môn cho phép nghiên cứu sinh được bảo vệ luận án;\ne) Kết quả đánh giá của các học phần, các học phần bổ sung (nếu có), các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan đã được cập nhật trên phần mềm quản lý đào tạo nghiên cứu sinh của Đại học Quốc gia Hà Nội;\ng) Có đầy đủ minh chứng những thay đổi trong quá trình đào tạo;\nh) Có đầy đủ nhận xét của các phản biện độc lập và thuyết minh tiếp thu, sửa chữa hoặc giải trình của nghiên cứu sinh, và nội dung này được công bố công khai trong phiên họp của Hội đồng;\ni) Minh chứng hoàn thành nghĩa vụ tài chính;\nk) Nghiên cứu sinh không trong thời gian thi hành án hình sự, kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên;\nl) Đáp ứng những yêu cầu khác theo quy định của đơn vị đào tạo.\n \n3. Thành lập Hội đồng đánh giá luận án\na) Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ gồm 07 thành viên, trong đó số thành viên thuộc đơn vị đào tạo không quá 03 người và phản biện độc lập không quá 01 người. Số thành viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ khoa học tối thiểu là 05 người;\nb) Thành viên Hội đồng là những nhà khoa học có chức danh giáo sư, phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ ngành đúng/ gần hoặc phù hợp với đề tài nghiên cứu hoặc lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh; thành viên chưa có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc học vị tiến sĩ khoa học phải có tối thiểu 03 năm (36 tháng) hoạt động chuyên môn kể từ khi có Quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ tính đến thời điểm được mời tham gia Hội đồng; có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín chuyên môn; am hiểu vấn đề nghiên cứu của luận án;\nc) Hội đồng gồm Chủ tịch, Thư ký, 03 Phản biện và 02 Uỷ viên. Một người hướng dẫn nghiên cứu sinh có thể tham gia Hội đồng với tư cách là Ủy viên. Mỗi thành viên Hội đồng chỉ đảm nhận một trách nhiệm trong Hội đồng.\nChủ tịch Hội đồng phải là người có năng lực và uy tín chuyên môn, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư ngành/chuyên ngành phù hợp với chuyên môn của đề tài luận án.\nThành viên Hội đồng phải là người không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh.\nPhản biện phải có trách nhiệm cao trong đánh giá chất lượng khoa học của luận án. Ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn như thành viên Hội đồng, các phản biện phải là người am hiểu sâu sắc luận án, có uy tín chuyên môn cao trong lĩnh vực khoa học đó, đồng thời đáp ứng các điều kiện sau:\n- Công tác ở các cơ quan, đơn vị khác nhau, trong đó tối thiểu có 02 phản biện thuộc các cơ quan ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội;\n- Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh và không là cấp dưới trực tiếp của nghiên cứu sinh;\n \n- Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án;\n- Khuyến khích mời các nhà khoa học giỏi là người nước ngoài hoặc người Việt Nam ở nước ngoài làm phản biện trong Hội đồng.\nd) Tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của thành viên Hội đồng như tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của người hướng dẫn chính quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, trừ Thư ký Hội đồng phải đáp ứng quy định như đối với giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ quy định tại Điều 34 của Quy chế này.\n4. Điều kiện tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án\na) Toàn văn luận án, tóm tắt luận án, bản nhận xét của các phản biện độc lập và bản tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh được gửi đến các thành viên Hội đồng tối thiểu 30 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án;\nb) Từng thành viên Hội đồng phải có nhận xét về luận án và các ý kiến, nội dung tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh về nhận xét của phản biện độc lập bằng văn bản gửi đến đơn vị đào tạo chậm nhất là 15 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án của nghiên cứu sinh;\nc) Thời gian, địa điểm tổ chức bảo vệ luận án; tóm tắt luận án, trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài được công bố công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo tối thiểu 20 ngày trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án, trừ những luận án được phép bảo vệ mật theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này;\nd) Trường hợp đơn vị đào tạo tổ chức đánh giá luận án trực tuyến phải bảo đảm có ít nhất 03 thành viên Hội đồng có mặt trực tiếp cùng nghiên cứu sinh; trong trường hợp thiên tai, dịch bệnh bất khả kháng thực hiện theo hướng dẫn cụ thể của Đại học Quốc gia Hà Nội;\nđ) Không có khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về nội dung khoa học trong luận án trước phiên họp của Hội đồng;\n \ne) Hội đồng đánh giá luận án không họp nếu xảy ra một trong các trường hợp sau:\n- Không đáp ứng một trong các điều kiện quy định tại điểm a hoặc b hoặc c hoặc d hoặc đ nêu trên;\n- Vắng mặt Chủ tịch Hội đồng hoặc Thư ký Hội đồng;\n- Vắng mặt Phản biện có ý kiến không tán thành luận án;\n- Vắng mặt từ 02 thành viên Hội đồng trở lên;\n- Nghiên cứu sinh đang trong thời gian thi hành án hình sự hoặc bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên;\n- Có 02 thành viên Hội đồng không tán thành luận án. Trường hợp này, luận án được xem là không được Hội đồng đánh giá thông qua, không cần tổ chức bảo vệ luận án.\n5. Tổ chức đánh giá luận án\na) Đơn vị đào tạo trực tiếp thực hiện công tác chuẩn bị và tổ chức đánh giá luận án. Nghiên cứu sinh và người hướng dẫn không tiếp xúc với các thành viên Hội đồng trước khi bảo vệ luận án;\nb) Luận án được tổ chức bảo vệ công khai. Những đề tài liên quan đến bí mật quốc gia được tổ chức bảo vệ theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này. Mỗi thành viên Hội đồng có trách nhiệm tìm hiểu đầy đủ về luận án trước khi đánh giá; ý kiến của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh phải được trình bày công khai trước Hội đồng để Hội đồng xem xét, đánh giá;\nc) Luận án được đánh giá bằng hình thức bỏ phiếu kín theo hai mức: “Đạt” hay “Không đạt” (theo mẫu ở Phụ lục V). Luận án không được thông qua nếu có từ 02 thành viên Hội đồng đánh giá có mặt tại buổi bảo vệ bỏ phiếu “Không đạt”;\nd) Hội đồng thông qua quyết nghị về luận án. Quyết nghị của Hội đồng phải nêu được các vấn đề sau: Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án; tính hiện đại, hợp lí và độ tin cậy của phương pháp nghiên cứu; kết quả mới của luận án; những thiếu sót về nội dung và hình thức của luận án; tán thành đề nghị công nhận hay không công nhận học vị tiến\n \nsĩ về ngành/chuyên ngành đào tạo cho nghiên cứu sinh; đề nghị khen thưởng (nếu luận án đặc biệt xuất sắc);\nđ) Biên bản buổi bảo vệ luận án được toàn thể Hội đồng đánh giá luận án thông qua và có chữ ký xác nhận của Chủ tịch và Thư ký Hội đồng;\ne) Hội đồng đánh giá luận án tự giải thể sau khi đã hoàn thành việc đánh giá luận án hoặc quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án. Trong trường hợp Hội đồng đánh giá luận án quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2; đơn vị đào tạo trực thuộc đề nghị Ban Đào tạo trình Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2. Trong trường hợp bất khả kháng, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên hoặc Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định gia hạn thời hạn hoạt động của Hội đồng;\ng) Không ra quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần thứ ba.\n6. Việc thay đổi thành viên Hội đồng đánh giá luận án chỉ được giải quyết trong trường hợp cần thiết, có lý do chính đáng. Thời hạn quy định liên quan đến hoạt động của các thành viên Hội đồng quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này và điều kiện tổ chức bảo vệ luận án theo quy định tại khoản 4, Điều này được tính kể từ ngày ký quyết định cuối cùng về việc thay đổi, bổ sung thành viên Hội đồng đánh giá luận án.\n7. Bảo vệ lại luận án\na) Trong trường hợp luận án của nghiên cứu sinh không được Hội đồng đánh giá luận án thông qua và được Hội đồng kiến nghị cho phép bảo vệ lại, nghiên cứu sinh được phép sửa chữa luận án để bảo vệ lần thứ hai. Lần bảo vệ thứ hai sớm nhất là sau 03 tháng và muộn nhất là 06 tháng kể từ ngày bảo vệ lần thứ nhất;\nb) Không tổ chức đánh giá lại luận án khi không có kiến nghị của Hội đồng đánh giá luận án lần thứ nhất;\n \nc) Hồ sơ đề nghị bảo vệ lại luận án, ngoài các nội dung như lần bảo vệ thứ nhất, phải có thêm bản tường trình về quá trình bổ sung, sửa chữa, hoàn thiện luận án của nghiên cứu sinh, có xác nhận của người hướng dẫn và đề nghị bằng văn bản của đơn vị chuyên môn cho nghiên cứu sinh được bảo vệ lần thứ hai;\nd) Thành phần Hội đồng đánh giá luận án lần thứ hai phải có tối thiểu 03 thành viên đã tham gia Hội đồng lần thứ nhất, trong đó có đủ những thành viên có ý kiến không tán thành luận án. Không tổ chức đánh giá luận án lần thứ ba.\n",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Khi luận án của nghiên cứu sinh không được Hội đồng đánh giá thông qua nhưng được Hội đồng kiến nghị cho phép bảo vệ lại, nhà trường (thông qua đơn vị đào tạo/đơn vị chuyên môn) có trách nhiệm tổ chức lại quá trình đánh giá luận án lần thứ hai. Điều này bao gồm việc tiếp nhận hồ sơ đề nghị bảo vệ lại luận án, trong đó có bản tường trình về quá trình bổ sung, sửa chữa, hoàn thiện luận án của nghiên cứu sinh có xác nhận của người hướng dẫn, và đề nghị bằng văn bản của đơn vị chuyên môn cho phép nghiên cứu sinh được bảo vệ lần thứ hai. Tuy nhiên, Quy chế không nêu rõ trách nhiệm cụ thể của nhà trường trong việc hỗ trợ trực tiếp nghiên cứu sinh thực hiện sửa chữa và hoàn thiện luận án."
}
],
"id": "36010",
"is_impossible": false,
"question": "Nhà trường có trách nhiệm gì khi luận án của nghiên cứu sinh không được thông qua?"
}
]
}
],
"title": "Nhà trường có trách nhiệm gì khi luận án của nghiên cứu sinh không được thông qua?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 29. Đánh giá luận án 1. Việc tổ chức đánh giá luận án trước Hội đồng đánh giá luận án được phân công thực hiện như sau:\na) Đơn vị đào tạo thành viên nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của đơn vị mình; mời phản biện độc lập; quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án; tổ chức đánh giá luận án; ra quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh;\n \nb) Ban Đào tạo nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của các đơn vị đào tạo trực thuộc; mời phản biện độc lập; báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án và ủy quyền cho các đơn vị đào tạo trực thuộc tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh, trình hồ sơ đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh.\n2. Điều kiện thành lập Hội đồng đánh giá luận án\na) Nghiên cứu sinh và luận án đã đáp ứng đủ các điều kiện được quy định tại Điều 27 và Điều 28 của Quy chế này;\nb) Đạt quy trình phản biện độc lập hoặc được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập;\nc) Trích yếu luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh đã sửa đổi hoặc cập nhật, kèm theo luận án hoàn chỉnh đã sửa đổi, cập nhật, được cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn xác nhận;\nd) Có trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài theo quy định của đơn vị đào tạo;\nđ) Có đề nghị bằng văn bản của cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn và đơn vị chuyên môn cho phép nghiên cứu sinh được bảo vệ luận án;\ne) Kết quả đánh giá của các học phần, các học phần bổ sung (nếu có), các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan đã được cập nhật trên phần mềm quản lý đào tạo nghiên cứu sinh của Đại học Quốc gia Hà Nội;\ng) Có đầy đủ minh chứng những thay đổi trong quá trình đào tạo;\nh) Có đầy đủ nhận xét của các phản biện độc lập và thuyết minh tiếp thu, sửa chữa hoặc giải trình của nghiên cứu sinh, và nội dung này được công bố công khai trong phiên họp của Hội đồng;\ni) Minh chứng hoàn thành nghĩa vụ tài chính;\nk) Nghiên cứu sinh không trong thời gian thi hành án hình sự, kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên;\nl) Đáp ứng những yêu cầu khác theo quy định của đơn vị đào tạo.\n \n3. Thành lập Hội đồng đánh giá luận án\na) Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ gồm 07 thành viên, trong đó số thành viên thuộc đơn vị đào tạo không quá 03 người và phản biện độc lập không quá 01 người. Số thành viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ khoa học tối thiểu là 05 người;\nb) Thành viên Hội đồng là những nhà khoa học có chức danh giáo sư, phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ ngành đúng/ gần hoặc phù hợp với đề tài nghiên cứu hoặc lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh; thành viên chưa có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc học vị tiến sĩ khoa học phải có tối thiểu 03 năm (36 tháng) hoạt động chuyên môn kể từ khi có Quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ tính đến thời điểm được mời tham gia Hội đồng; có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín chuyên môn; am hiểu vấn đề nghiên cứu của luận án;\nc) Hội đồng gồm Chủ tịch, Thư ký, 03 Phản biện và 02 Uỷ viên. Một người hướng dẫn nghiên cứu sinh có thể tham gia Hội đồng với tư cách là Ủy viên. Mỗi thành viên Hội đồng chỉ đảm nhận một trách nhiệm trong Hội đồng.\nChủ tịch Hội đồng phải là người có năng lực và uy tín chuyên môn, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư ngành/chuyên ngành phù hợp với chuyên môn của đề tài luận án.\nThành viên Hội đồng phải là người không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh.\nPhản biện phải có trách nhiệm cao trong đánh giá chất lượng khoa học của luận án. Ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn như thành viên Hội đồng, các phản biện phải là người am hiểu sâu sắc luận án, có uy tín chuyên môn cao trong lĩnh vực khoa học đó, đồng thời đáp ứng các điều kiện sau:\n- Công tác ở các cơ quan, đơn vị khác nhau, trong đó tối thiểu có 02 phản biện thuộc các cơ quan ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội;\n- Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh và không là cấp dưới trực tiếp của nghiên cứu sinh;\n \n- Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án;\n- Khuyến khích mời các nhà khoa học giỏi là người nước ngoài hoặc người Việt Nam ở nước ngoài làm phản biện trong Hội đồng.\nd) Tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của thành viên Hội đồng như tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của người hướng dẫn chính quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, trừ Thư ký Hội đồng phải đáp ứng quy định như đối với giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ quy định tại Điều 34 của Quy chế này.\n4. Điều kiện tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án\na) Toàn văn luận án, tóm tắt luận án, bản nhận xét của các phản biện độc lập và bản tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh được gửi đến các thành viên Hội đồng tối thiểu 30 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án;\nb) Từng thành viên Hội đồng phải có nhận xét về luận án và các ý kiến, nội dung tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh về nhận xét của phản biện độc lập bằng văn bản gửi đến đơn vị đào tạo chậm nhất là 15 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án của nghiên cứu sinh;\nc) Thời gian, địa điểm tổ chức bảo vệ luận án; tóm tắt luận án, trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài được công bố công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo tối thiểu 20 ngày trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án, trừ những luận án được phép bảo vệ mật theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này;\nd) Trường hợp đơn vị đào tạo tổ chức đánh giá luận án trực tuyến phải bảo đảm có ít nhất 03 thành viên Hội đồng có mặt trực tiếp cùng nghiên cứu sinh; trong trường hợp thiên tai, dịch bệnh bất khả kháng thực hiện theo hướng dẫn cụ thể của Đại học Quốc gia Hà Nội;\nđ) Không có khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về nội dung khoa học trong luận án trước phiên họp của Hội đồng;\n \ne) Hội đồng đánh giá luận án không họp nếu xảy ra một trong các trường hợp sau:\n- Không đáp ứng một trong các điều kiện quy định tại điểm a hoặc b hoặc c hoặc d hoặc đ nêu trên;\n- Vắng mặt Chủ tịch Hội đồng hoặc Thư ký Hội đồng;\n- Vắng mặt Phản biện có ý kiến không tán thành luận án;\n- Vắng mặt từ 02 thành viên Hội đồng trở lên;\n- Nghiên cứu sinh đang trong thời gian thi hành án hình sự hoặc bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên;\n- Có 02 thành viên Hội đồng không tán thành luận án. Trường hợp này, luận án được xem là không được Hội đồng đánh giá thông qua, không cần tổ chức bảo vệ luận án.\n5. Tổ chức đánh giá luận án\na) Đơn vị đào tạo trực tiếp thực hiện công tác chuẩn bị và tổ chức đánh giá luận án. Nghiên cứu sinh và người hướng dẫn không tiếp xúc với các thành viên Hội đồng trước khi bảo vệ luận án;\nb) Luận án được tổ chức bảo vệ công khai. Những đề tài liên quan đến bí mật quốc gia được tổ chức bảo vệ theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này. Mỗi thành viên Hội đồng có trách nhiệm tìm hiểu đầy đủ về luận án trước khi đánh giá; ý kiến của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh phải được trình bày công khai trước Hội đồng để Hội đồng xem xét, đánh giá;\nc) Luận án được đánh giá bằng hình thức bỏ phiếu kín theo hai mức: “Đạt” hay “Không đạt” (theo mẫu ở Phụ lục V). Luận án không được thông qua nếu có từ 02 thành viên Hội đồng đánh giá có mặt tại buổi bảo vệ bỏ phiếu “Không đạt”;\nd) Hội đồng thông qua quyết nghị về luận án. Quyết nghị của Hội đồng phải nêu được các vấn đề sau: Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án; tính hiện đại, hợp lí và độ tin cậy của phương pháp nghiên cứu; kết quả mới của luận án; những thiếu sót về nội dung và hình thức của luận án; tán thành đề nghị công nhận hay không công nhận học vị tiến\n \nsĩ về ngành/chuyên ngành đào tạo cho nghiên cứu sinh; đề nghị khen thưởng (nếu luận án đặc biệt xuất sắc);\nđ) Biên bản buổi bảo vệ luận án được toàn thể Hội đồng đánh giá luận án thông qua và có chữ ký xác nhận của Chủ tịch và Thư ký Hội đồng;\ne) Hội đồng đánh giá luận án tự giải thể sau khi đã hoàn thành việc đánh giá luận án hoặc quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án. Trong trường hợp Hội đồng đánh giá luận án quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2; đơn vị đào tạo trực thuộc đề nghị Ban Đào tạo trình Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2. Trong trường hợp bất khả kháng, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên hoặc Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định gia hạn thời hạn hoạt động của Hội đồng;\ng) Không ra quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần thứ ba.\n6. Việc thay đổi thành viên Hội đồng đánh giá luận án chỉ được giải quyết trong trường hợp cần thiết, có lý do chính đáng. Thời hạn quy định liên quan đến hoạt động của các thành viên Hội đồng quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này và điều kiện tổ chức bảo vệ luận án theo quy định tại khoản 4, Điều này được tính kể từ ngày ký quyết định cuối cùng về việc thay đổi, bổ sung thành viên Hội đồng đánh giá luận án.\n7. Bảo vệ lại luận án\na) Trong trường hợp luận án của nghiên cứu sinh không được Hội đồng đánh giá luận án thông qua và được Hội đồng kiến nghị cho phép bảo vệ lại, nghiên cứu sinh được phép sửa chữa luận án để bảo vệ lần thứ hai. Lần bảo vệ thứ hai sớm nhất là sau 03 tháng và muộn nhất là 06 tháng kể từ ngày bảo vệ lần thứ nhất;\nb) Không tổ chức đánh giá lại luận án khi không có kiến nghị của Hội đồng đánh giá luận án lần thứ nhất;\n \nc) Hồ sơ đề nghị bảo vệ lại luận án, ngoài các nội dung như lần bảo vệ thứ nhất, phải có thêm bản tường trình về quá trình bổ sung, sửa chữa, hoàn thiện luận án của nghiên cứu sinh, có xác nhận của người hướng dẫn và đề nghị bằng văn bản của đơn vị chuyên môn cho nghiên cứu sinh được bảo vệ lần thứ hai;\nd) Thành phần Hội đồng đánh giá luận án lần thứ hai phải có tối thiểu 03 thành viên đã tham gia Hội đồng lần thứ nhất, trong đó có đủ những thành viên có ý kiến không tán thành luận án. Không tổ chức đánh giá luận án lần thứ ba.\n",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Để đảm bảo buổi đánh giá luận án diễn ra thành công, nhà trường, thông qua đơn vị đào tạo, cần trực tiếp thực hiện công tác chuẩn bị và tổ chức đánh giá luận án. Cụ thể, nhà trường phải đảm bảo rằng toàn văn luận án, tóm tắt, bản nhận xét của các phản biện độc lập và bản tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh đã được gửi đến các thành viên Hội đồng tối thiểu 30 ngày làm việc trước ngày họp. Đồng thời, từng thành viên Hội đồng phải gửi nhận xét về luận án và ý kiến của mình đến đơn vị đào tạo chậm nhất 15 ngày làm việc trước ngày họp. Nhà trường cũng cần công bố công khai thời gian, địa điểm tổ chức bảo vệ luận án, tóm tắt và trang thông tin về những điểm mới của luận án trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo tối thiểu 20 ngày trước ngày họp. Quan trọng hơn, nhà trường cần đảm bảo không có khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về nội dung khoa học trong luận án trước phiên họp và buổi bảo vệ được tổ chức công khai."
}
],
"id": "36011",
"is_impossible": false,
"question": "Nhà trường cần phải làm gì để đảm bảo buổi đánh giá luận án diễn ra thành công?"
}
]
}
],
"title": "Nhà trường cần phải làm gì để đảm bảo buổi đánh giá luận án diễn ra thành công?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 30. Đánh giá luận án theo chế độ mật Luận án là công trình khoa học thuộc bí mật quốc gia sẽ được tổ chức đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật. Việc xem xét cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật được tiến hành trước khi tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án. Thủ trưởng đơn vị đào tạo có văn bản trình bày những lý do phải bảo vệ mật để Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định. Hồ sơ đề nghị cho phép đánh giá luận án theo chế độ mật gồm có: Công văn đề nghị của đơn vị đào tạo; Công văn đề nghị của cơ quan có thẩm quyền sẽ sử dụng kết quả nghiên cứu của luận án; Dự kiến danh sách thành viên tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án và Hội đồng đánh giá luận án; danh sách những cán bộ ngoài Hội đồng được mời tham dự; danh sách những cơ quan, đơn vị và những cá nhân được gửi luận án và tóm tắt luận án (kể cả những đơn vị và những cá nhân có trách nhiệm thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội). Những danh sách này phải được các cơ quan có liên quan đến việc bảo mật thẩm định và đề nghị. Sau khi có văn bản của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật, đơn vị đào tạo thông báo cho nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn biết. Số lượng bản thảo luận án, tóm tắt luận án cũng như các bản luận án, tóm tắt luận án chính thức phải được xác định. Các tài liệu trên phải đóng dấu mật. Toàn bộ hồ sơ buổi bảo vệ mật được quản lý theo Quy chế bảo mật của Nhà nước. Trình tự buổi bảo vệ luận án theo chế độ mật được tiến hành như bảo vệ luận án theo chế độ công khai. Thời gian, địa điểm bảo vệ chỉ được thông báo cho những người có trách nhiệm và những người được phép tham dự biết, không thông báo công khai. Nghiên cứu sinh thực hiện các luận án được xác định là mật theo quy định tại khoản 1, Điều này được miễn công bố bài báo theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 18 của Quy chế này ở phạm vi quốc tế, có thể thay thế bằng những báo cáo nội bộ có giá trị về khoa học và thực tiễn của lĩnh vực nghiên cứu được đơn vị đào tạo xác nhận. Ngoài các quy định trên đây, nghiên cứu sinh bảo vệ luận án theo chế độ mật vẫn phải thực hiện các quy định chung đối với nghiên cứu sinh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Một luận án tiến sĩ được đánh giá theo chế độ mật khi nội dung nghiên cứu của luận án đó thuộc bí mật quốc gia. Việc cho phép đánh giá và bảo vệ luận án theo chế độ mật cần được Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét và quyết định, dựa trên công văn đề nghị từ đơn vị đào tạo và công văn đề nghị của cơ quan có thẩm quyền sử dụng kết quả nghiên cứu của luận án."
}
],
"id": "36012",
"is_impossible": false,
"question": "Khi nào một luận án tiến sĩ được đánh giá theo chế độ mật?"
}
]
}
],
"title": "Khi nào một luận án tiến sĩ được đánh giá theo chế độ mật?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 30. Đánh giá luận án theo chế độ mật Luận án là công trình khoa học thuộc bí mật quốc gia sẽ được tổ chức đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật. Việc xem xét cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật được tiến hành trước khi tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án. Thủ trưởng đơn vị đào tạo có văn bản trình bày những lý do phải bảo vệ mật để Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định. Hồ sơ đề nghị cho phép đánh giá luận án theo chế độ mật gồm có: Công văn đề nghị của đơn vị đào tạo; Công văn đề nghị của cơ quan có thẩm quyền sẽ sử dụng kết quả nghiên cứu của luận án; Dự kiến danh sách thành viên tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án và Hội đồng đánh giá luận án; danh sách những cán bộ ngoài Hội đồng được mời tham dự; danh sách những cơ quan, đơn vị và những cá nhân được gửi luận án và tóm tắt luận án (kể cả những đơn vị và những cá nhân có trách nhiệm thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội). Những danh sách này phải được các cơ quan có liên quan đến việc bảo mật thẩm định và đề nghị. Sau khi có văn bản của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật, đơn vị đào tạo thông báo cho nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn biết. Số lượng bản thảo luận án, tóm tắt luận án cũng như các bản luận án, tóm tắt luận án chính thức phải được xác định. Các tài liệu trên phải đóng dấu mật. Toàn bộ hồ sơ buổi bảo vệ mật được quản lý theo Quy chế bảo mật của Nhà nước. Trình tự buổi bảo vệ luận án theo chế độ mật được tiến hành như bảo vệ luận án theo chế độ công khai. Thời gian, địa điểm bảo vệ chỉ được thông báo cho những người có trách nhiệm và những người được phép tham dự biết, không thông báo công khai. Nghiên cứu sinh thực hiện các luận án được xác định là mật theo quy định tại khoản 1, Điều này được miễn công bố bài báo theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 18 của Quy chế này ở phạm vi quốc tế, có thể thay thế bằng những báo cáo nội bộ có giá trị về khoa học và thực tiễn của lĩnh vực nghiên cứu được đơn vị đào tạo xác nhận. Ngoài các quy định trên đây, nghiên cứu sinh bảo vệ luận án theo chế độ mật vẫn phải thực hiện các quy định chung đối với nghiên cứu sinh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nghiên cứu sinh thực hiện luận án theo chế độ mật được miễn công bố bài báo quốc tế, và có thể thay thế bằng những báo cáo nội bộ có giá trị về khoa học và thực tiễn được đơn vị đào tạo xác nhận."
}
],
"id": "36013",
"is_impossible": false,
"question": "Sinh viên có được miễn công bố bài báo quốc tế khi luận án được đánh giá theo chế độ mật không?"
}
]
}
],
"title": "Sinh viên có được miễn công bố bài báo quốc tế khi luận án được đánh giá theo chế độ mật không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 30. Đánh giá luận án theo chế độ mật Luận án là công trình khoa học thuộc bí mật quốc gia sẽ được tổ chức đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật. Việc xem xét cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật được tiến hành trước khi tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án. Thủ trưởng đơn vị đào tạo có văn bản trình bày những lý do phải bảo vệ mật để Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định. Hồ sơ đề nghị cho phép đánh giá luận án theo chế độ mật gồm có: Công văn đề nghị của đơn vị đào tạo; Công văn đề nghị của cơ quan có thẩm quyền sẽ sử dụng kết quả nghiên cứu của luận án; Dự kiến danh sách thành viên tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án và Hội đồng đánh giá luận án; danh sách những cán bộ ngoài Hội đồng được mời tham dự; danh sách những cơ quan, đơn vị và những cá nhân được gửi luận án và tóm tắt luận án (kể cả những đơn vị và những cá nhân có trách nhiệm thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội). Những danh sách này phải được các cơ quan có liên quan đến việc bảo mật thẩm định và đề nghị. Sau khi có văn bản của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật, đơn vị đào tạo thông báo cho nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn biết. Số lượng bản thảo luận án, tóm tắt luận án cũng như các bản luận án, tóm tắt luận án chính thức phải được xác định. Các tài liệu trên phải đóng dấu mật. Toàn bộ hồ sơ buổi bảo vệ mật được quản lý theo Quy chế bảo mật của Nhà nước. Trình tự buổi bảo vệ luận án theo chế độ mật được tiến hành như bảo vệ luận án theo chế độ công khai. Thời gian, địa điểm bảo vệ chỉ được thông báo cho những người có trách nhiệm và những người được phép tham dự biết, không thông báo công khai. Nghiên cứu sinh thực hiện các luận án được xác định là mật theo quy định tại khoản 1, Điều này được miễn công bố bài báo theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 18 của Quy chế này ở phạm vi quốc tế, có thể thay thế bằng những báo cáo nội bộ có giá trị về khoa học và thực tiễn của lĩnh vực nghiên cứu được đơn vị đào tạo xác nhận. Ngoài các quy định trên đây, nghiên cứu sinh bảo vệ luận án theo chế độ mật vẫn phải thực hiện các quy định chung đối với nghiên cứu sinh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Quy trình bảo vệ luận án mật về cơ bản được tiến hành tương tự như bảo vệ luận án công khai. Tuy nhiên, có những điểm khác biệt chính sau: thời gian và địa điểm bảo vệ chỉ được thông báo cho những người có trách nhiệm và được phép tham dự, không thông báo công khai; tất cả tài liệu liên quan đến buổi bảo vệ phải được đóng dấu mật và quản lý theo Quy chế bảo mật của Nhà nước; và nghiên cứu sinh có luận án mật được miễn công bố bài báo quốc tế, có thể thay thế bằng báo cáo nội bộ có giá trị."
}
],
"id": "36014",
"is_impossible": false,
"question": "Quy trình bảo vệ luận án mật có khác gì so với bảo vệ luận án công khai?"
}
]
}
],
"title": "Quy trình bảo vệ luận án mật có khác gì so với bảo vệ luận án công khai?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 30. Đánh giá luận án theo chế độ mật Luận án là công trình khoa học thuộc bí mật quốc gia sẽ được tổ chức đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật. Việc xem xét cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật được tiến hành trước khi tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án. Thủ trưởng đơn vị đào tạo có văn bản trình bày những lý do phải bảo vệ mật để Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định. Hồ sơ đề nghị cho phép đánh giá luận án theo chế độ mật gồm có: Công văn đề nghị của đơn vị đào tạo; Công văn đề nghị của cơ quan có thẩm quyền sẽ sử dụng kết quả nghiên cứu của luận án; Dự kiến danh sách thành viên tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án và Hội đồng đánh giá luận án; danh sách những cán bộ ngoài Hội đồng được mời tham dự; danh sách những cơ quan, đơn vị và những cá nhân được gửi luận án và tóm tắt luận án (kể cả những đơn vị và những cá nhân có trách nhiệm thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội). Những danh sách này phải được các cơ quan có liên quan đến việc bảo mật thẩm định và đề nghị. Sau khi có văn bản của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật, đơn vị đào tạo thông báo cho nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn biết. Số lượng bản thảo luận án, tóm tắt luận án cũng như các bản luận án, tóm tắt luận án chính thức phải được xác định. Các tài liệu trên phải đóng dấu mật. Toàn bộ hồ sơ buổi bảo vệ mật được quản lý theo Quy chế bảo mật của Nhà nước. Trình tự buổi bảo vệ luận án theo chế độ mật được tiến hành như bảo vệ luận án theo chế độ công khai. Thời gian, địa điểm bảo vệ chỉ được thông báo cho những người có trách nhiệm và những người được phép tham dự biết, không thông báo công khai. Nghiên cứu sinh thực hiện các luận án được xác định là mật theo quy định tại khoản 1, Điều này được miễn công bố bài báo theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 18 của Quy chế này ở phạm vi quốc tế, có thể thay thế bằng những báo cáo nội bộ có giá trị về khoa học và thực tiễn của lĩnh vực nghiên cứu được đơn vị đào tạo xác nhận. Ngoài các quy định trên đây, nghiên cứu sinh bảo vệ luận án theo chế độ mật vẫn phải thực hiện các quy định chung đối với nghiên cứu sinh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nếu luận án của nghiên cứu sinh được đánh giá theo chế độ mật, nghiên cứu sinh phải tuân thủ các quy định về bảo mật của Nhà nước, quản lý toàn bộ hồ sơ bảo vệ mật theo Quy chế bảo mật của Nhà nước, và vẫn thực hiện các quy định chung đối với nghiên cứu sinh. Nghiên cứu sinh được miễn công bố bài báo quốc tế theo quy định, nhưng có thể thay thế bằng việc nộp các báo cáo nội bộ có giá trị khoa học và thực tiễn được đơn vị đào tạo xác nhận."
}
],
"id": "36015",
"is_impossible": false,
"question": "Sinh viên phải làm gì nếu luận án của mình được đánh giá theo chế độ mật?"
}
]
}
],
"title": "Sinh viên phải làm gì nếu luận án của mình được đánh giá theo chế độ mật?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan Điều 30. Đánh giá luận án theo chế độ mật Luận án là công trình khoa học thuộc bí mật quốc gia sẽ được tổ chức đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật. Việc xem xét cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật được tiến hành trước khi tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án. Thủ trưởng đơn vị đào tạo có văn bản trình bày những lý do phải bảo vệ mật để Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định. Hồ sơ đề nghị cho phép đánh giá luận án theo chế độ mật gồm có: Công văn đề nghị của đơn vị đào tạo; Công văn đề nghị của cơ quan có thẩm quyền sẽ sử dụng kết quả nghiên cứu của luận án; Dự kiến danh sách thành viên tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án và Hội đồng đánh giá luận án; danh sách những cán bộ ngoài Hội đồng được mời tham dự; danh sách những cơ quan, đơn vị và những cá nhân được gửi luận án và tóm tắt luận án (kể cả những đơn vị và những cá nhân có trách nhiệm thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội). Những danh sách này phải được các cơ quan có liên quan đến việc bảo mật thẩm định và đề nghị. Sau khi có văn bản của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật, đơn vị đào tạo thông báo cho nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn biết. Số lượng bản thảo luận án, tóm tắt luận án cũng như các bản luận án, tóm tắt luận án chính thức phải được xác định. Các tài liệu trên phải đóng dấu mật. Toàn bộ hồ sơ buổi bảo vệ mật được quản lý theo Quy chế bảo mật của Nhà nước. Trình tự buổi bảo vệ luận án theo chế độ mật được tiến hành như bảo vệ luận án theo chế độ công khai. Thời gian, địa điểm bảo vệ chỉ được thông báo cho những người có trách nhiệm và những người được phép tham dự biết, không thông báo công khai. Nghiên cứu sinh thực hiện các luận án được xác định là mật theo quy định tại khoản 1, Điều này được miễn công bố bài báo theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 18 của Quy chế này ở phạm vi quốc tế, có thể thay thế bằng những báo cáo nội bộ có giá trị về khoa học và thực tiễn của lĩnh vực nghiên cứu được đơn vị đào tạo xác nhận. Ngoài các quy định trên đây, nghiên cứu sinh bảo vệ luận án theo chế độ mật vẫn phải thực hiện các quy định chung đối với nghiên cứu sinh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Giảng viên có thể đề xuất bảo vệ luận án theo chế độ mật nếu luận án là công trình khoa học thuộc bí mật quốc gia."
}
],
"id": "36016",
"is_impossible": false,
"question": "Giảng viên có thể đề xuất bảo vệ luận án theo chế độ mật trong trường hợp nào?"
}
]
}
],
"title": "Giảng viên có thể đề xuất bảo vệ luận án theo chế độ mật trong trường hợp nào?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan Điều 30. Đánh giá luận án theo chế độ mật Luận án là công trình khoa học thuộc bí mật quốc gia sẽ được tổ chức đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật. Việc xem xét cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật được tiến hành trước khi tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án. Thủ trưởng đơn vị đào tạo có văn bản trình bày những lý do phải bảo vệ mật để Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định. Hồ sơ đề nghị cho phép đánh giá luận án theo chế độ mật gồm có: Công văn đề nghị của đơn vị đào tạo; Công văn đề nghị của cơ quan có thẩm quyền sẽ sử dụng kết quả nghiên cứu của luận án; Dự kiến danh sách thành viên tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án và Hội đồng đánh giá luận án; danh sách những cán bộ ngoài Hội đồng được mời tham dự; danh sách những cơ quan, đơn vị và những cá nhân được gửi luận án và tóm tắt luận án (kể cả những đơn vị và những cá nhân có trách nhiệm thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội). Những danh sách này phải được các cơ quan có liên quan đến việc bảo mật thẩm định và đề nghị. Sau khi có văn bản của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật, đơn vị đào tạo thông báo cho nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn biết. Số lượng bản thảo luận án, tóm tắt luận án cũng như các bản luận án, tóm tắt luận án chính thức phải được xác định. Các tài liệu trên phải đóng dấu mật. Toàn bộ hồ sơ buổi bảo vệ mật được quản lý theo Quy chế bảo mật của Nhà nước. Trình tự buổi bảo vệ luận án theo chế độ mật được tiến hành như bảo vệ luận án theo chế độ công khai. Thời gian, địa điểm bảo vệ chỉ được thông báo cho những người có trách nhiệm và những người được phép tham dự biết, không thông báo công khai. Nghiên cứu sinh thực hiện các luận án được xác định là mật theo quy định tại khoản 1, Điều này được miễn công bố bài báo theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 18 của Quy chế này ở phạm vi quốc tế, có thể thay thế bằng những báo cáo nội bộ có giá trị về khoa học và thực tiễn của lĩnh vực nghiên cứu được đơn vị đào tạo xác nhận. Ngoài các quy định trên đây, nghiên cứu sinh bảo vệ luận án theo chế độ mật vẫn phải thực hiện các quy định chung đối với nghiên cứu sinh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Thông tin về việc giảng viên có cần thông báo cụ thể về nội dung luận án mật cho đơn vị đào tạo hay không không được quy định rõ trong đoạn trích. Đoạn trích chỉ nêu rõ Thủ trưởng đơn vị đào tạo sẽ có văn bản trình bày lý do bảo vệ mật để Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định, và hồ sơ đề nghị bao gồm công văn của đơn vị đào tạo."
}
],
"id": "36017",
"is_impossible": false,
"question": "Giảng viên có cần thông báo về nội dung luận án mật cho đơn vị đào tạo không?"
}
]
}
],
"title": "Giảng viên có cần thông báo về nội dung luận án mật cho đơn vị đào tạo không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 30. Đánh giá luận án theo chế độ mật Luận án là công trình khoa học thuộc bí mật quốc gia sẽ được tổ chức đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật. Việc xem xét cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật được tiến hành trước khi tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án. Thủ trưởng đơn vị đào tạo có văn bản trình bày những lý do phải bảo vệ mật để Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định. Hồ sơ đề nghị cho phép đánh giá luận án theo chế độ mật gồm có: Công văn đề nghị của đơn vị đào tạo; Công văn đề nghị của cơ quan có thẩm quyền sẽ sử dụng kết quả nghiên cứu của luận án; Dự kiến danh sách thành viên tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án và Hội đồng đánh giá luận án; danh sách những cán bộ ngoài Hội đồng được mời tham dự; danh sách những cơ quan, đơn vị và những cá nhân được gửi luận án và tóm tắt luận án (kể cả những đơn vị và những cá nhân có trách nhiệm thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội). Những danh sách này phải được các cơ quan có liên quan đến việc bảo mật thẩm định và đề nghị. Sau khi có văn bản của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật, đơn vị đào tạo thông báo cho nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn biết. Số lượng bản thảo luận án, tóm tắt luận án cũng như các bản luận án, tóm tắt luận án chính thức phải được xác định. Các tài liệu trên phải đóng dấu mật. Toàn bộ hồ sơ buổi bảo vệ mật được quản lý theo Quy chế bảo mật của Nhà nước. Trình tự buổi bảo vệ luận án theo chế độ mật được tiến hành như bảo vệ luận án theo chế độ công khai. Thời gian, địa điểm bảo vệ chỉ được thông báo cho những người có trách nhiệm và những người được phép tham dự biết, không thông báo công khai. Nghiên cứu sinh thực hiện các luận án được xác định là mật theo quy định tại khoản 1, Điều này được miễn công bố bài báo theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 18 của Quy chế này ở phạm vi quốc tế, có thể thay thế bằng những báo cáo nội bộ có giá trị về khoa học và thực tiễn của lĩnh vực nghiên cứu được đơn vị đào tạo xác nhận. Ngoài các quy định trên đây, nghiên cứu sinh bảo vệ luận án theo chế độ mật vẫn phải thực hiện các quy định chung đối với nghiên cứu sinh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Giảng viên có trách nhiệm tuân thủ các quy định về bảo mật khi hướng dẫn và đánh giá luận án mật. Điều này bao gồm việc không tiết lộ thông tin nghiên cứu và đảm bảo tất cả tài liệu liên quan đến luận án được đóng dấu mật, quản lý theo quy chế bảo mật của nhà nước."
}
],
"id": "36018",
"is_impossible": false,
"question": "Trách nhiệm của giảng viên trong việc bảo đảm tính bảo mật của luận án là gì?"
}
]
}
],
"title": "Trách nhiệm của giảng viên trong việc bảo đảm tính bảo mật của luận án là gì?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan Điều 30. Đánh giá luận án theo chế độ mật Luận án là công trình khoa học thuộc bí mật quốc gia sẽ được tổ chức đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật. Việc xem xét cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật được tiến hành trước khi tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án. Thủ trưởng đơn vị đào tạo có văn bản trình bày những lý do phải bảo vệ mật để Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định. Hồ sơ đề nghị cho phép đánh giá luận án theo chế độ mật gồm có: Công văn đề nghị của đơn vị đào tạo; Công văn đề nghị của cơ quan có thẩm quyền sẽ sử dụng kết quả nghiên cứu của luận án; Dự kiến danh sách thành viên tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án và Hội đồng đánh giá luận án; danh sách những cán bộ ngoài Hội đồng được mời tham dự; danh sách những cơ quan, đơn vị và những cá nhân được gửi luận án và tóm tắt luận án (kể cả những đơn vị và những cá nhân có trách nhiệm thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội). Những danh sách này phải được các cơ quan có liên quan đến việc bảo mật thẩm định và đề nghị. Sau khi có văn bản của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật, đơn vị đào tạo thông báo cho nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn biết. Số lượng bản thảo luận án, tóm tắt luận án cũng như các bản luận án, tóm tắt luận án chính thức phải được xác định. Các tài liệu trên phải đóng dấu mật. Toàn bộ hồ sơ buổi bảo vệ mật được quản lý theo Quy chế bảo mật của Nhà nước. Trình tự buổi bảo vệ luận án theo chế độ mật được tiến hành như bảo vệ luận án theo chế độ công khai. Thời gian, địa điểm bảo vệ chỉ được thông báo cho những người có trách nhiệm và những người được phép tham dự biết, không thông báo công khai. Nghiên cứu sinh thực hiện các luận án được xác định là mật theo quy định tại khoản 1, Điều này được miễn công bố bài báo theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 18 của Quy chế này ở phạm vi quốc tế, có thể thay thế bằng những báo cáo nội bộ có giá trị về khoa học và thực tiễn của lĩnh vực nghiên cứu được đơn vị đào tạo xác nhận. Ngoài các quy định trên đây, nghiên cứu sinh bảo vệ luận án theo chế độ mật vẫn phải thực hiện các quy định chung đối với nghiên cứu sinh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Giảng viên không được sử dụng công trình nghiên cứu từ luận án mật để công bố dưới dạng bài báo quốc tế. Thay vào đó, họ có thể thay thế bằng các báo cáo nội bộ có giá trị khoa học và thực tiễn, được đơn vị đào tạo xác nhận."
}
],
"id": "36019",
"is_impossible": false,
"question": "Giảng viên có thể sử dụng công trình nghiên cứu từ luận án mật cho mục đích công bố không?"
}
]
}
],
"title": "Giảng viên có thể sử dụng công trình nghiên cứu từ luận án mật cho mục đích công bố không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 30. Đánh giá luận án theo chế độ mật Luận án là công trình khoa học thuộc bí mật quốc gia sẽ được tổ chức đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật. Việc xem xét cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật được tiến hành trước khi tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án. Thủ trưởng đơn vị đào tạo có văn bản trình bày những lý do phải bảo vệ mật để Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định. Hồ sơ đề nghị cho phép đánh giá luận án theo chế độ mật gồm có: Công văn đề nghị của đơn vị đào tạo; Công văn đề nghị của cơ quan có thẩm quyền sẽ sử dụng kết quả nghiên cứu của luận án; Dự kiến danh sách thành viên tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án và Hội đồng đánh giá luận án; danh sách những cán bộ ngoài Hội đồng được mời tham dự; danh sách những cơ quan, đơn vị và những cá nhân được gửi luận án và tóm tắt luận án (kể cả những đơn vị và những cá nhân có trách nhiệm thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội). Những danh sách này phải được các cơ quan có liên quan đến việc bảo mật thẩm định và đề nghị. Sau khi có văn bản của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật, đơn vị đào tạo thông báo cho nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn biết. Số lượng bản thảo luận án, tóm tắt luận án cũng như các bản luận án, tóm tắt luận án chính thức phải được xác định. Các tài liệu trên phải đóng dấu mật. Toàn bộ hồ sơ buổi bảo vệ mật được quản lý theo Quy chế bảo mật của Nhà nước. Trình tự buổi bảo vệ luận án theo chế độ mật được tiến hành như bảo vệ luận án theo chế độ công khai. Thời gian, địa điểm bảo vệ chỉ được thông báo cho những người có trách nhiệm và những người được phép tham dự biết, không thông báo công khai. Nghiên cứu sinh thực hiện các luận án được xác định là mật theo quy định tại khoản 1, Điều này được miễn công bố bài báo theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 18 của Quy chế này ở phạm vi quốc tế, có thể thay thế bằng những báo cáo nội bộ có giá trị về khoa học và thực tiễn của lĩnh vực nghiên cứu được đơn vị đào tạo xác nhận. Ngoài các quy định trên đây, nghiên cứu sinh bảo vệ luận án theo chế độ mật vẫn phải thực hiện các quy định chung đối với nghiên cứu sinh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Có, luận án của một nghiên cứu viên có thể được bảo vệ theo chế độ mật nếu luận án là công trình khoa học thuộc bí mật quốc gia và việc cho phép bảo vệ theo chế độ mật được Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định dựa trên văn bản đề nghị của thủ trưởng đơn vị đào tạo và công văn đề nghị của cơ quan có thẩm quyền sẽ sử dụng kết quả nghiên cứu."
}
],
"id": "36020",
"is_impossible": false,
"question": "Luận án của một nghiên cứu viên có được bảo vệ theo chế độ mật nếu liên quan đến nghiên cứu nhạy cảm không?"
}
]
}
],
"title": "Luận án của một nghiên cứu viên có được bảo vệ theo chế độ mật nếu liên quan đến nghiên cứu nhạy cảm không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 30. Đánh giá luận án theo chế độ mật Luận án là công trình khoa học thuộc bí mật quốc gia sẽ được tổ chức đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật. Việc xem xét cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật được tiến hành trước khi tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án. Thủ trưởng đơn vị đào tạo có văn bản trình bày những lý do phải bảo vệ mật để Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định. Hồ sơ đề nghị cho phép đánh giá luận án theo chế độ mật gồm có: Công văn đề nghị của đơn vị đào tạo; Công văn đề nghị của cơ quan có thẩm quyền sẽ sử dụng kết quả nghiên cứu của luận án; Dự kiến danh sách thành viên tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án và Hội đồng đánh giá luận án; danh sách những cán bộ ngoài Hội đồng được mời tham dự; danh sách những cơ quan, đơn vị và những cá nhân được gửi luận án và tóm tắt luận án (kể cả những đơn vị và những cá nhân có trách nhiệm thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội). Những danh sách này phải được các cơ quan có liên quan đến việc bảo mật thẩm định và đề nghị. Sau khi có văn bản của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật, đơn vị đào tạo thông báo cho nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn biết. Số lượng bản thảo luận án, tóm tắt luận án cũng như các bản luận án, tóm tắt luận án chính thức phải được xác định. Các tài liệu trên phải đóng dấu mật. Toàn bộ hồ sơ buổi bảo vệ mật được quản lý theo Quy chế bảo mật của Nhà nước. Trình tự buổi bảo vệ luận án theo chế độ mật được tiến hành như bảo vệ luận án theo chế độ công khai. Thời gian, địa điểm bảo vệ chỉ được thông báo cho những người có trách nhiệm và những người được phép tham dự biết, không thông báo công khai. Nghiên cứu sinh thực hiện các luận án được xác định là mật theo quy định tại khoản 1, Điều này được miễn công bố bài báo theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 18 của Quy chế này ở phạm vi quốc tế, có thể thay thế bằng những báo cáo nội bộ có giá trị về khoa học và thực tiễn của lĩnh vực nghiên cứu được đơn vị đào tạo xác nhận. Ngoài các quy định trên đây, nghiên cứu sinh bảo vệ luận án theo chế độ mật vẫn phải thực hiện các quy định chung đối với nghiên cứu sinh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nghiên cứu viên không được công bố bài báo quốc tế về công trình nghiên cứu từ luận án mật. Thay vào đó, nghiên cứu viên có thể nộp các báo cáo nội bộ có giá trị khoa học và thực tiễn, được đơn vị đào tạo xác nhận."
}
],
"id": "36021",
"is_impossible": false,
"question": "Nghiên cứu viên có thể công bố công trình nghiên cứu từ luận án mật không?"
}
]
}
],
"title": "Nghiên cứu viên có thể công bố công trình nghiên cứu từ luận án mật không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 30. Đánh giá luận án theo chế độ mật Luận án là công trình khoa học thuộc bí mật quốc gia sẽ được tổ chức đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật. Việc xem xét cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật được tiến hành trước khi tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án. Thủ trưởng đơn vị đào tạo có văn bản trình bày những lý do phải bảo vệ mật để Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định. Hồ sơ đề nghị cho phép đánh giá luận án theo chế độ mật gồm có: Công văn đề nghị của đơn vị đào tạo; Công văn đề nghị của cơ quan có thẩm quyền sẽ sử dụng kết quả nghiên cứu của luận án; Dự kiến danh sách thành viên tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án và Hội đồng đánh giá luận án; danh sách những cán bộ ngoài Hội đồng được mời tham dự; danh sách những cơ quan, đơn vị và những cá nhân được gửi luận án và tóm tắt luận án (kể cả những đơn vị và những cá nhân có trách nhiệm thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội). Những danh sách này phải được các cơ quan có liên quan đến việc bảo mật thẩm định và đề nghị. Sau khi có văn bản của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật, đơn vị đào tạo thông báo cho nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn biết. Số lượng bản thảo luận án, tóm tắt luận án cũng như các bản luận án, tóm tắt luận án chính thức phải được xác định. Các tài liệu trên phải đóng dấu mật. Toàn bộ hồ sơ buổi bảo vệ mật được quản lý theo Quy chế bảo mật của Nhà nước. Trình tự buổi bảo vệ luận án theo chế độ mật được tiến hành như bảo vệ luận án theo chế độ công khai. Thời gian, địa điểm bảo vệ chỉ được thông báo cho những người có trách nhiệm và những người được phép tham dự biết, không thông báo công khai. Nghiên cứu sinh thực hiện các luận án được xác định là mật theo quy định tại khoản 1, Điều này được miễn công bố bài báo theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 18 của Quy chế này ở phạm vi quốc tế, có thể thay thế bằng những báo cáo nội bộ có giá trị về khoa học và thực tiễn của lĩnh vực nghiên cứu được đơn vị đào tạo xác nhận. Ngoài các quy định trên đây, nghiên cứu sinh bảo vệ luận án theo chế độ mật vẫn phải thực hiện các quy định chung đối với nghiên cứu sinh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Đối với nghiên cứu viên bảo vệ luận án mật, họ được miễn công bố bài báo ở phạm vi quốc tế theo quy định và có thể thay thế bằng những báo cáo nội bộ có giá trị khoa học và thực tiễn được đơn vị đào tạo xác nhận. Ngoài ra, nghiên cứu viên vẫn phải thực hiện các quy định chung dành cho nghiên cứu sinh."
}
],
"id": "36022",
"is_impossible": false,
"question": "Quy trình bảo vệ luận án mật có yêu cầu gì đặc biệt đối với nghiên cứu viên?"
}
]
}
],
"title": "Quy trình bảo vệ luận án mật có yêu cầu gì đặc biệt đối với nghiên cứu viên?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 30. Đánh giá luận án theo chế độ mật Luận án là công trình khoa học thuộc bí mật quốc gia sẽ được tổ chức đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật. Việc xem xét cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật được tiến hành trước khi tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án. Thủ trưởng đơn vị đào tạo có văn bản trình bày những lý do phải bảo vệ mật để Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định. Hồ sơ đề nghị cho phép đánh giá luận án theo chế độ mật gồm có: Công văn đề nghị của đơn vị đào tạo; Công văn đề nghị của cơ quan có thẩm quyền sẽ sử dụng kết quả nghiên cứu của luận án; Dự kiến danh sách thành viên tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án và Hội đồng đánh giá luận án; danh sách những cán bộ ngoài Hội đồng được mời tham dự; danh sách những cơ quan, đơn vị và những cá nhân được gửi luận án và tóm tắt luận án (kể cả những đơn vị và những cá nhân có trách nhiệm thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội). Những danh sách này phải được các cơ quan có liên quan đến việc bảo mật thẩm định và đề nghị. Sau khi có văn bản của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật, đơn vị đào tạo thông báo cho nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn biết. Số lượng bản thảo luận án, tóm tắt luận án cũng như các bản luận án, tóm tắt luận án chính thức phải được xác định. Các tài liệu trên phải đóng dấu mật. Toàn bộ hồ sơ buổi bảo vệ mật được quản lý theo Quy chế bảo mật của Nhà nước. Trình tự buổi bảo vệ luận án theo chế độ mật được tiến hành như bảo vệ luận án theo chế độ công khai. Thời gian, địa điểm bảo vệ chỉ được thông báo cho những người có trách nhiệm và những người được phép tham dự biết, không thông báo công khai. Nghiên cứu sinh thực hiện các luận án được xác định là mật theo quy định tại khoản 1, Điều này được miễn công bố bài báo theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 18 của Quy chế này ở phạm vi quốc tế, có thể thay thế bằng những báo cáo nội bộ có giá trị về khoa học và thực tiễn của lĩnh vực nghiên cứu được đơn vị đào tạo xác nhận. Ngoài các quy định trên đây, nghiên cứu sinh bảo vệ luận án theo chế độ mật vẫn phải thực hiện các quy định chung đối với nghiên cứu sinh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Sau khi bảo vệ thành công luận án mật, nghiên cứu sinh phải thực hiện các quy định chung đối với nghiên cứu sinh. Ngoài ra, thay vì công bố bài báo ở phạm vi quốc tế, nghiên cứu sinh có thể thay thế bằng việc nộp những báo cáo nội bộ có giá trị về khoa học và thực tiễn của lĩnh vực nghiên cứu được đơn vị đào tạo xác nhận."
}
],
"id": "36023",
"is_impossible": false,
"question": "Nghiên cứu viên phải làm gì sau khi bảo vệ luận án mật thành công?"
}
]
}
],
"title": "Nghiên cứu viên phải làm gì sau khi bảo vệ luận án mật thành công?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 30. Đánh giá luận án theo chế độ mật Luận án là công trình khoa học thuộc bí mật quốc gia sẽ được tổ chức đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật. Việc xem xét cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật được tiến hành trước khi tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án. Thủ trưởng đơn vị đào tạo có văn bản trình bày những lý do phải bảo vệ mật để Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định. Hồ sơ đề nghị cho phép đánh giá luận án theo chế độ mật gồm có: Công văn đề nghị của đơn vị đào tạo; Công văn đề nghị của cơ quan có thẩm quyền sẽ sử dụng kết quả nghiên cứu của luận án; Dự kiến danh sách thành viên tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án và Hội đồng đánh giá luận án; danh sách những cán bộ ngoài Hội đồng được mời tham dự; danh sách những cơ quan, đơn vị và những cá nhân được gửi luận án và tóm tắt luận án (kể cả những đơn vị và những cá nhân có trách nhiệm thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội). Những danh sách này phải được các cơ quan có liên quan đến việc bảo mật thẩm định và đề nghị. Sau khi có văn bản của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật, đơn vị đào tạo thông báo cho nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn biết. Số lượng bản thảo luận án, tóm tắt luận án cũng như các bản luận án, tóm tắt luận án chính thức phải được xác định. Các tài liệu trên phải đóng dấu mật. Toàn bộ hồ sơ buổi bảo vệ mật được quản lý theo Quy chế bảo mật của Nhà nước. Trình tự buổi bảo vệ luận án theo chế độ mật được tiến hành như bảo vệ luận án theo chế độ công khai. Thời gian, địa điểm bảo vệ chỉ được thông báo cho những người có trách nhiệm và những người được phép tham dự biết, không thông báo công khai. Nghiên cứu sinh thực hiện các luận án được xác định là mật theo quy định tại khoản 1, Điều này được miễn công bố bài báo theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 18 của Quy chế này ở phạm vi quốc tế, có thể thay thế bằng những báo cáo nội bộ có giá trị về khoa học và thực tiễn của lĩnh vực nghiên cứu được đơn vị đào tạo xác nhận. Ngoài các quy định trên đây, nghiên cứu sinh bảo vệ luận án theo chế độ mật vẫn phải thực hiện các quy định chung đối với nghiên cứu sinh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Quy chế tại Điều 30 quy định về việc tổ chức đánh giá và bảo vệ luận án theo chế độ mật, bao gồm việc lập dự kiến danh sách thành viên tham gia Hội đồng và những cán bộ, cá nhân ngoài Hội đồng được mời tham dự. Những danh sách này phải được các cơ quan liên quan đến việc bảo mật thẩm định và đề nghị. Tuy nhiên, quy chế không nêu rõ chuyên gia trong ngành có thể tham gia đánh giá luận án mật hay không, cũng như các tiêu chí cụ thể để họ tham gia."
}
],
"id": "36024",
"is_impossible": false,
"question": "Chuyên gia trong ngành có thể tham gia đánh giá luận án mật không?"
}
]
}
],
"title": "Chuyên gia trong ngành có thể tham gia đánh giá luận án mật không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan Điều 30. Đánh giá luận án theo chế độ mật Luận án là công trình khoa học thuộc bí mật quốc gia sẽ được tổ chức đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật. Việc xem xét cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật được tiến hành trước khi tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án. Thủ trưởng đơn vị đào tạo có văn bản trình bày những lý do phải bảo vệ mật để Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định. Hồ sơ đề nghị cho phép đánh giá luận án theo chế độ mật gồm có: Công văn đề nghị của đơn vị đào tạo; Công văn đề nghị của cơ quan có thẩm quyền sẽ sử dụng kết quả nghiên cứu của luận án; Dự kiến danh sách thành viên tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án và Hội đồng đánh giá luận án; danh sách những cán bộ ngoài Hội đồng được mời tham dự; danh sách những cơ quan, đơn vị và những cá nhân được gửi luận án và tóm tắt luận án (kể cả những đơn vị và những cá nhân có trách nhiệm thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội). Những danh sách này phải được các cơ quan có liên quan đến việc bảo mật thẩm định và đề nghị. Sau khi có văn bản của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật, đơn vị đào tạo thông báo cho nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn biết. Số lượng bản thảo luận án, tóm tắt luận án cũng như các bản luận án, tóm tắt luận án chính thức phải được xác định. Các tài liệu trên phải đóng dấu mật. Toàn bộ hồ sơ buổi bảo vệ mật được quản lý theo Quy chế bảo mật của Nhà nước. Trình tự buổi bảo vệ luận án theo chế độ mật được tiến hành như bảo vệ luận án theo chế độ công khai. Thời gian, địa điểm bảo vệ chỉ được thông báo cho những người có trách nhiệm và những người được phép tham dự biết, không thông báo công khai. Nghiên cứu sinh thực hiện các luận án được xác định là mật theo quy định tại khoản 1, Điều này được miễn công bố bài báo theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 18 của Quy chế này ở phạm vi quốc tế, có thể thay thế bằng những báo cáo nội bộ có giá trị về khoa học và thực tiễn của lĩnh vực nghiên cứu được đơn vị đào tạo xác nhận. Ngoài các quy định trên đây, nghiên cứu sinh bảo vệ luận án theo chế độ mật vẫn phải thực hiện các quy định chung đối với nghiên cứu sinh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Khi tham gia đánh giá luận án mật, chuyên gia phải tuân thủ các quy định về bảo mật của Nhà nước, không được tiết lộ thông tin liên quan đến nội dung nghiên cứu, thời gian, địa điểm bảo vệ. Đồng thời, phải đảm bảo rằng mọi tài liệu liên quan đều được đóng dấu mật và quản lý theo đúng quy chế."
}
],
"id": "36025",
"is_impossible": false,
"question": "Chuyên gia trong ngành cần lưu ý gì khi tham gia đánh giá luận án mật?"
}
]
}
],
"title": "Chuyên gia trong ngành cần lưu ý gì khi tham gia đánh giá luận án mật?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 30. Đánh giá luận án theo chế độ mật Luận án là công trình khoa học thuộc bí mật quốc gia sẽ được tổ chức đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật. Việc xem xét cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật được tiến hành trước khi tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án. Thủ trưởng đơn vị đào tạo có văn bản trình bày những lý do phải bảo vệ mật để Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định. Hồ sơ đề nghị cho phép đánh giá luận án theo chế độ mật gồm có: Công văn đề nghị của đơn vị đào tạo; Công văn đề nghị của cơ quan có thẩm quyền sẽ sử dụng kết quả nghiên cứu của luận án; Dự kiến danh sách thành viên tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án và Hội đồng đánh giá luận án; danh sách những cán bộ ngoài Hội đồng được mời tham dự; danh sách những cơ quan, đơn vị và những cá nhân được gửi luận án và tóm tắt luận án (kể cả những đơn vị và những cá nhân có trách nhiệm thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội). Những danh sách này phải được các cơ quan có liên quan đến việc bảo mật thẩm định và đề nghị. Sau khi có văn bản của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật, đơn vị đào tạo thông báo cho nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn biết. Số lượng bản thảo luận án, tóm tắt luận án cũng như các bản luận án, tóm tắt luận án chính thức phải được xác định. Các tài liệu trên phải đóng dấu mật. Toàn bộ hồ sơ buổi bảo vệ mật được quản lý theo Quy chế bảo mật của Nhà nước. Trình tự buổi bảo vệ luận án theo chế độ mật được tiến hành như bảo vệ luận án theo chế độ công khai. Thời gian, địa điểm bảo vệ chỉ được thông báo cho những người có trách nhiệm và những người được phép tham dự biết, không thông báo công khai. Nghiên cứu sinh thực hiện các luận án được xác định là mật theo quy định tại khoản 1, Điều này được miễn công bố bài báo theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 18 của Quy chế này ở phạm vi quốc tế, có thể thay thế bằng những báo cáo nội bộ có giá trị về khoa học và thực tiễn của lĩnh vực nghiên cứu được đơn vị đào tạo xác nhận. Ngoài các quy định trên đây, nghiên cứu sinh bảo vệ luận án theo chế độ mật vẫn phải thực hiện các quy định chung đối với nghiên cứu sinh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Thông tin trong tài liệu tham khảo không đủ để xác định liệu chuyên gia có thể đánh giá luận án mật mà không tham dự trực tiếp buổi bảo vệ hay không. Tài liệu chỉ nêu rằng trình tự bảo vệ luận án mật tương tự như luận án công khai và thời gian, địa điểm bảo vệ chỉ được thông báo cho những người có trách nhiệm và được phép tham dự."
}
],
"id": "36026",
"is_impossible": false,
"question": "Chuyên gia có thể đánh giá chất lượng luận án mật mà không tham dự trực tiếp buổi bảo vệ không?"
}
]
}
],
"title": "Chuyên gia có thể đánh giá chất lượng luận án mật mà không tham dự trực tiếp buổi bảo vệ không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 30. Đánh giá luận án theo chế độ mật Luận án là công trình khoa học thuộc bí mật quốc gia sẽ được tổ chức đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật. Việc xem xét cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật được tiến hành trước khi tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án. Thủ trưởng đơn vị đào tạo có văn bản trình bày những lý do phải bảo vệ mật để Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định. Hồ sơ đề nghị cho phép đánh giá luận án theo chế độ mật gồm có: Công văn đề nghị của đơn vị đào tạo; Công văn đề nghị của cơ quan có thẩm quyền sẽ sử dụng kết quả nghiên cứu của luận án; Dự kiến danh sách thành viên tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án và Hội đồng đánh giá luận án; danh sách những cán bộ ngoài Hội đồng được mời tham dự; danh sách những cơ quan, đơn vị và những cá nhân được gửi luận án và tóm tắt luận án (kể cả những đơn vị và những cá nhân có trách nhiệm thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội). Những danh sách này phải được các cơ quan có liên quan đến việc bảo mật thẩm định và đề nghị. Sau khi có văn bản của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật, đơn vị đào tạo thông báo cho nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn biết. Số lượng bản thảo luận án, tóm tắt luận án cũng như các bản luận án, tóm tắt luận án chính thức phải được xác định. Các tài liệu trên phải đóng dấu mật. Toàn bộ hồ sơ buổi bảo vệ mật được quản lý theo Quy chế bảo mật của Nhà nước. Trình tự buổi bảo vệ luận án theo chế độ mật được tiến hành như bảo vệ luận án theo chế độ công khai. Thời gian, địa điểm bảo vệ chỉ được thông báo cho những người có trách nhiệm và những người được phép tham dự biết, không thông báo công khai. Nghiên cứu sinh thực hiện các luận án được xác định là mật theo quy định tại khoản 1, Điều này được miễn công bố bài báo theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 18 của Quy chế này ở phạm vi quốc tế, có thể thay thế bằng những báo cáo nội bộ có giá trị về khoa học và thực tiễn của lĩnh vực nghiên cứu được đơn vị đào tạo xác nhận. Ngoài các quy định trên đây, nghiên cứu sinh bảo vệ luận án theo chế độ mật vẫn phải thực hiện các quy định chung đối với nghiên cứu sinh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Theo quy định về luận án mật, luận án là công trình khoa học thuộc bí mật quốc gia và được tổ chức đánh giá, bảo vệ theo chế độ mật. Do đó, các chuyên gia không được phép công bố ý kiến đánh giá về luận án mật ra bên ngoài."
}
],
"id": "36027",
"is_impossible": false,
"question": "Chuyên gia có thể công bố ý kiến đánh giá luận án mật không?"
}
]
}
],
"title": "Chuyên gia có thể công bố ý kiến đánh giá luận án mật không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 30. Đánh giá luận án theo chế độ mật Luận án là công trình khoa học thuộc bí mật quốc gia sẽ được tổ chức đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật. Việc xem xét cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật được tiến hành trước khi tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án. Thủ trưởng đơn vị đào tạo có văn bản trình bày những lý do phải bảo vệ mật để Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định. Hồ sơ đề nghị cho phép đánh giá luận án theo chế độ mật gồm có: Công văn đề nghị của đơn vị đào tạo; Công văn đề nghị của cơ quan có thẩm quyền sẽ sử dụng kết quả nghiên cứu của luận án; Dự kiến danh sách thành viên tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án và Hội đồng đánh giá luận án; danh sách những cán bộ ngoài Hội đồng được mời tham dự; danh sách những cơ quan, đơn vị và những cá nhân được gửi luận án và tóm tắt luận án (kể cả những đơn vị và những cá nhân có trách nhiệm thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội). Những danh sách này phải được các cơ quan có liên quan đến việc bảo mật thẩm định và đề nghị. Sau khi có văn bản của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật, đơn vị đào tạo thông báo cho nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn biết. Số lượng bản thảo luận án, tóm tắt luận án cũng như các bản luận án, tóm tắt luận án chính thức phải được xác định. Các tài liệu trên phải đóng dấu mật. Toàn bộ hồ sơ buổi bảo vệ mật được quản lý theo Quy chế bảo mật của Nhà nước. Trình tự buổi bảo vệ luận án theo chế độ mật được tiến hành như bảo vệ luận án theo chế độ công khai. Thời gian, địa điểm bảo vệ chỉ được thông báo cho những người có trách nhiệm và những người được phép tham dự biết, không thông báo công khai. Nghiên cứu sinh thực hiện các luận án được xác định là mật theo quy định tại khoản 1, Điều này được miễn công bố bài báo theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 18 của Quy chế này ở phạm vi quốc tế, có thể thay thế bằng những báo cáo nội bộ có giá trị về khoa học và thực tiễn của lĩnh vực nghiên cứu được đơn vị đào tạo xác nhận. Ngoài các quy định trên đây, nghiên cứu sinh bảo vệ luận án theo chế độ mật vẫn phải thực hiện các quy định chung đối với nghiên cứu sinh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Cán bộ nhà trường có thể đề nghị tổ chức bảo vệ luận án mật khi luận án là công trình khoa học thuộc bí mật quốc gia. Thủ trưởng đơn vị đào tạo sẽ có văn bản trình bày lý do để Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định."
}
],
"id": "36028",
"is_impossible": false,
"question": "Khi nào cán bộ nhà trường có thể đề nghị tổ chức bảo vệ luận án mật?"
}
]
}
],
"title": "Khi nào cán bộ nhà trường có thể đề nghị tổ chức bảo vệ luận án mật?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 30. Đánh giá luận án theo chế độ mật Luận án là công trình khoa học thuộc bí mật quốc gia sẽ được tổ chức đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật. Việc xem xét cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật được tiến hành trước khi tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án. Thủ trưởng đơn vị đào tạo có văn bản trình bày những lý do phải bảo vệ mật để Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định. Hồ sơ đề nghị cho phép đánh giá luận án theo chế độ mật gồm có: Công văn đề nghị của đơn vị đào tạo; Công văn đề nghị của cơ quan có thẩm quyền sẽ sử dụng kết quả nghiên cứu của luận án; Dự kiến danh sách thành viên tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án và Hội đồng đánh giá luận án; danh sách những cán bộ ngoài Hội đồng được mời tham dự; danh sách những cơ quan, đơn vị và những cá nhân được gửi luận án và tóm tắt luận án (kể cả những đơn vị và những cá nhân có trách nhiệm thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội). Những danh sách này phải được các cơ quan có liên quan đến việc bảo mật thẩm định và đề nghị. Sau khi có văn bản của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật, đơn vị đào tạo thông báo cho nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn biết. Số lượng bản thảo luận án, tóm tắt luận án cũng như các bản luận án, tóm tắt luận án chính thức phải được xác định. Các tài liệu trên phải đóng dấu mật. Toàn bộ hồ sơ buổi bảo vệ mật được quản lý theo Quy chế bảo mật của Nhà nước. Trình tự buổi bảo vệ luận án theo chế độ mật được tiến hành như bảo vệ luận án theo chế độ công khai. Thời gian, địa điểm bảo vệ chỉ được thông báo cho những người có trách nhiệm và những người được phép tham dự biết, không thông báo công khai. Nghiên cứu sinh thực hiện các luận án được xác định là mật theo quy định tại khoản 1, Điều này được miễn công bố bài báo theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 18 của Quy chế này ở phạm vi quốc tế, có thể thay thế bằng những báo cáo nội bộ có giá trị về khoa học và thực tiễn của lĩnh vực nghiên cứu được đơn vị đào tạo xác nhận. Ngoài các quy định trên đây, nghiên cứu sinh bảo vệ luận án theo chế độ mật vẫn phải thực hiện các quy định chung đối với nghiên cứu sinh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Cán bộ nhà trường có trách nhiệm đảm bảo toàn bộ quá trình tổ chức bảo vệ luận án mật được giữ bí mật. Cụ thể, thời gian và địa điểm bảo vệ chỉ được thông báo cho những người có trách nhiệm và được phép tham dự, không được công khai. Các tài liệu liên quan đến luận án phải được đóng dấu mật và toàn bộ hồ sơ buổi bảo vệ mật phải được quản lý theo Quy chế bảo mật của Nhà nước."
}
],
"id": "36029",
"is_impossible": false,
"question": "Cán bộ nhà trường có trách nhiệm gì trong việc tổ chức bảo vệ luận án mật?"
}
]
}
],
"title": "Cán bộ nhà trường có trách nhiệm gì trong việc tổ chức bảo vệ luận án mật?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 30. Đánh giá luận án theo chế độ mật Luận án là công trình khoa học thuộc bí mật quốc gia sẽ được tổ chức đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật. Việc xem xét cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật được tiến hành trước khi tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án. Thủ trưởng đơn vị đào tạo có văn bản trình bày những lý do phải bảo vệ mật để Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định. Hồ sơ đề nghị cho phép đánh giá luận án theo chế độ mật gồm có: Công văn đề nghị của đơn vị đào tạo; Công văn đề nghị của cơ quan có thẩm quyền sẽ sử dụng kết quả nghiên cứu của luận án; Dự kiến danh sách thành viên tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án và Hội đồng đánh giá luận án; danh sách những cán bộ ngoài Hội đồng được mời tham dự; danh sách những cơ quan, đơn vị và những cá nhân được gửi luận án và tóm tắt luận án (kể cả những đơn vị và những cá nhân có trách nhiệm thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội). Những danh sách này phải được các cơ quan có liên quan đến việc bảo mật thẩm định và đề nghị. Sau khi có văn bản của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật, đơn vị đào tạo thông báo cho nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn biết. Số lượng bản thảo luận án, tóm tắt luận án cũng như các bản luận án, tóm tắt luận án chính thức phải được xác định. Các tài liệu trên phải đóng dấu mật. Toàn bộ hồ sơ buổi bảo vệ mật được quản lý theo Quy chế bảo mật của Nhà nước. Trình tự buổi bảo vệ luận án theo chế độ mật được tiến hành như bảo vệ luận án theo chế độ công khai. Thời gian, địa điểm bảo vệ chỉ được thông báo cho những người có trách nhiệm và những người được phép tham dự biết, không thông báo công khai. Nghiên cứu sinh thực hiện các luận án được xác định là mật theo quy định tại khoản 1, Điều này được miễn công bố bài báo theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 18 của Quy chế này ở phạm vi quốc tế, có thể thay thế bằng những báo cáo nội bộ có giá trị về khoa học và thực tiễn của lĩnh vực nghiên cứu được đơn vị đào tạo xác nhận. Ngoài các quy định trên đây, nghiên cứu sinh bảo vệ luận án theo chế độ mật vẫn phải thực hiện các quy định chung đối với nghiên cứu sinh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Cán bộ nhà trường không có một số lượng cố định người có thể mời tham dự buổi bảo vệ luận án mật. Thay vào đó, danh sách những cán bộ ngoài Hội đồng và các cá nhân khác được mời tham dự phải được các cơ quan liên quan đến việc bảo mật thẩm định và đề nghị. Số lượng người tham dự cuối cùng sẽ phụ thuộc vào sự phê duyệt của các cơ quan này dựa trên các quy định bảo mật cụ thể của luận án."
}
],
"id": "36030",
"is_impossible": false,
"question": "Cán bộ nhà trường có thể mời bao nhiêu người tham dự buổi bảo vệ luận án mật?"
}
]
}
],
"title": "Cán bộ nhà trường có thể mời bao nhiêu người tham dự buổi bảo vệ luận án mật?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 30. Đánh giá luận án theo chế độ mật Luận án là công trình khoa học thuộc bí mật quốc gia sẽ được tổ chức đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật. Việc xem xét cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật được tiến hành trước khi tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án. Thủ trưởng đơn vị đào tạo có văn bản trình bày những lý do phải bảo vệ mật để Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định. Hồ sơ đề nghị cho phép đánh giá luận án theo chế độ mật gồm có: Công văn đề nghị của đơn vị đào tạo; Công văn đề nghị của cơ quan có thẩm quyền sẽ sử dụng kết quả nghiên cứu của luận án; Dự kiến danh sách thành viên tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án và Hội đồng đánh giá luận án; danh sách những cán bộ ngoài Hội đồng được mời tham dự; danh sách những cơ quan, đơn vị và những cá nhân được gửi luận án và tóm tắt luận án (kể cả những đơn vị và những cá nhân có trách nhiệm thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội). Những danh sách này phải được các cơ quan có liên quan đến việc bảo mật thẩm định và đề nghị. Sau khi có văn bản của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho phép luận án được đánh giá và bảo vệ theo chế độ mật, đơn vị đào tạo thông báo cho nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn biết. Số lượng bản thảo luận án, tóm tắt luận án cũng như các bản luận án, tóm tắt luận án chính thức phải được xác định. Các tài liệu trên phải đóng dấu mật. Toàn bộ hồ sơ buổi bảo vệ mật được quản lý theo Quy chế bảo mật của Nhà nước. Trình tự buổi bảo vệ luận án theo chế độ mật được tiến hành như bảo vệ luận án theo chế độ công khai. Thời gian, địa điểm bảo vệ chỉ được thông báo cho những người có trách nhiệm và những người được phép tham dự biết, không thông báo công khai. Nghiên cứu sinh thực hiện các luận án được xác định là mật theo quy định tại khoản 1, Điều này được miễn công bố bài báo theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 18 của Quy chế này ở phạm vi quốc tế, có thể thay thế bằng những báo cáo nội bộ có giá trị về khoa học và thực tiễn của lĩnh vực nghiên cứu được đơn vị đào tạo xác nhận. Ngoài các quy định trên đây, nghiên cứu sinh bảo vệ luận án theo chế độ mật vẫn phải thực hiện các quy định chung đối với nghiên cứu sinh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Cán bộ nhà trường cần lưu giữ và quản lý chặt chẽ toàn bộ hồ sơ buổi bảo vệ luận án mật theo Quy chế bảo mật của Nhà nước."
}
],
"id": "36031",
"is_impossible": false,
"question": "Cán bộ nhà trường có cần lưu giữ tài liệu bảo vệ luận án mật không?"
}
]
}
],
"title": "Cán bộ nhà trường có cần lưu giữ tài liệu bảo vệ luận án mật không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 31. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án Vào ngày làm việc cuối cùng của các tháng chẵn trong năm, các đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội danh sách và thông tin trích ngang của các nghiên cứu sinh bảo vệ luận án trong 02 tháng trước đó. Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, lựa chọn kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án của nghiên cứu sinh. Việc kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án được thực hiện trong các trường hợp sau: Kiểm tra, thẩm định ngẫu nhiên theo yêu cầu của công tác quản lý, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chế này và những quy định có liên quan: Lựa chọn xác suất trong số hồ sơ, luận án đã bảo vệ theo báo cáo của đơn vị đào tạo; Kiểm tra, thẩm định đối với những hồ sơ, luận án cụ thể khi có phản ánh hoặc có đơn thư khiếu nại, tố cáo; Kiểm tra, thẩm định theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quy trình kiểm tra, thẩm định: Trong thời gian 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của đơn vị đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội rà soát và có văn bản thông báo cho đơn vị đào tạo danh sách các trường hợp cần kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo hoặc thẩm định chất lượng luận án; Đơn vị đào tạo có trách nhiệm nộp đầy đủ các hồ sơ/luận án theo yêu cầu kiểm tra, thẩm định của Đại học Quốc gia Hà Nội; Đại học Quốc gia Hà Nội tiến hành kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo trong thời gian tối đa 30 ngày làm việc và thẩm định chất lượng luận án trong thời gian tối đa 90 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ theo quy định tại điểm a, khoản 4 Điều này hoặc điểm a, khoản 5, Điều này; có văn bản thông báo kết quả kiểm tra, thẩm định cho đơn vị đào tạo. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo Danh mục hồ sơ kiểm tra Hồ sơ dự tuyển, thi tuyển, xét tuyển và quyết định công nhận nghiên cứu sinh; Hồ sơ thực hiện quy trình seminar, phản biện độc lập và bảo vệ luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Hồ sơ xét cấp bằng tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 01 bộ. Hồ sơ quá trình đào tạo đạt yêu cầu khi đảm bảo các quy định về tuyển sinh, tổ chức và quản lý đào tạo, quy trình tổ chức đánh giá luận án các cấp theo các quy định tại Quy chế này; Đối với những trường hợp hồ sơ kiểm tra quá trình đào tạo chưa đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo có trách nhiệm giải trình những vấn đề liên quan, bổ sung minh chứng và đề xuất hướng xử lý với Đại học Quốc gia Hà Nội theo quy định hiện hành. Thẩm định chất lượng luận án Hồ sơ thẩm định chất lượng luận án Luận án và tóm tắt luận án đã xoá thông tin về nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn và đơn vị đào tạo; Bản sao các công bố kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh đã xóa thông tin về nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 03 bộ. Chất lượng luận án được thẩm định bằng hình thức lấy ý kiến thẩm định độc lập của 03 nhà khoa học ở trong hoặc ngoài nước, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học hoặc tiến sĩ, đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu như các Phản biện trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định ở điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này, am hiểu đề tài và lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh, có chính kiến và bản lĩnh khoa học, khách quan, trung thực, không trong danh sách những người đã tham gia phản biện độc lập hoặc tham gia Hội đồng đánh giá luận án; Chất lượng luận án đạt yêu cầu thẩm định nếu có ít nhất 02 ý kiến thẩm định đồng ý về chuyên môn; Trường hợp chất lượng luận án không đạt yêu cầu, Đại học Quốc gia Hà Nội ra quyết định thành lập Hội đồng thẩm định luận án và ủy quyền thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức họp Hội đồng thẩm định luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội; đ) Hội đồng thẩm định luận án Hội đồng thẩm định luận án gồm 07 thành viên, trong đó có ít nhất 03 thành viên chưa tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án tại đơn vị chuyên môn, không là phản biện độc lập hoặc trong Hội đồng đánh giá luận án của luận án được thẩm định; những nhà khoa học thẩm định không tán thành luận án là thành viên đương nhiên của Hội đồng; Hội đồng thẩm định luận án có Chủ tịch, Thư ký và các Ủy viên; Tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng thẩm định luận án như tiêu chuẩn của các thành viên trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định tại điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này. Cán bộ hướng dẫn luận án không tham gia vào Hội đồng thẩm định luận án; Trước khi họp Hội đồng thẩm định, các thành viên Hội đồng có bản nhận xét về tính cấp thiết của đề tài luận án, sự phù hợp với ngành/ chuyên ngành; không trùng lặp về đề tài, nội dung, kết quả nghiên cứu với các công trình đã được công bố; tính trung thực, minh bạch trong trích dẫn tư liệu; bố cục và hình thức trình bày; nội dung, phương pháp, kết quả, ý nghĩa, độ tin cậy của các kết quả đạt được; những phát hiện, luận điểm mới của luận án; đánh giá thành công và hạn chế của luận án, khẳng định mức độ đáp ứng yêu cầu của một luận án; Hội đồng chỉ họp khi có mặt ít nhất 06 thành viên Hội đồng bao gồm Chủ tịch, Thư ký và các thành viên Hội đồng có ý kiến không tán thành luận án (nếu có). Hội đồng thẩm định luận án có trách nhiệm xem xét, đánh giá chất lượng luận án; làm rõ những nội dung đơn thư khiếu nại, tố cáo; nội dung nhận xét, kết luận của những người thẩm định độc lập luận án. Hội đồng phải có biên bản ghi chi tiết các ý kiến thảo luận, trao đổi, kết luận và quyết nghị về chất lượng luận án; Luận án không đạt yêu cầu thẩm định khi có từ 02 thành viên Hội đồng có mặt trở lên không tán thành, bỏ phiếu đánh giá luận án ở mức “Không đạt”. Trường hợp luận án không đạt yêu cầu của Hội đồng thẩm định Thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức cuộc họp đối thoại giữa Hội đồng thẩm định luận án với Hội đồng đánh giá luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội. Số lượng thành viên của hai Hội đồng dự họp ít nhất là 12 người, trong đó Chủ tịch, Phản biện, Thư ký và các thành viên có ý kiến không tán thành của hai Hội đồng phải có mặt; Thủ trưởng đơn vị đào tạo trực tiếp điều hành cuộc họp, bầu thư ký. Thành viên của hai Hội đồng tranh luận về nội dung và chất lượng luận án, bỏ phiếu đánh giá lại luận án. Luận án không được thông qua nếu có từ 03 thành viên có mặt tại buổi đối thoại trở lên không tán thành (bỏ phiếu đánh giá ở mức “Không đạt”). Kết quả cuộc họp đối thoại là kết quả thẩm định cuối cùng về chất lượng luận án. Đối với luận án đạt yêu cầu thẩm định nhưng có ý kiến của người thẩm định hoặc của Hội đồng thẩm định yêu cầu phải sửa chữa, trong thời hạn tối đa 45 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo kết quả thẩm định, nghiên cứu sinh cùng với cán bộ hướng dẫn luận án xem xét chỉnh sửa chi tiết các nội dung luận án theo yêu cầu của người/ Hội đồng thẩm định, có bản hiệu đính ghi rõ những nội dung đã được chỉnh sửa (hoặc những nội dung bảo lưu ý kiến) và chỉ rõ số trang tương ứng báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo trực thuộc), thủ trưởng đơn vị đào tạo (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo thành viên) kèm theo luận án đã chỉnh sửa; đồng thời nộp lại bản luận án đã chỉnh sửa, hiệu đính kèm công văn của đơn vị đào tạo gửi cho các thư viện để thay thế cho bản luận án đã nộp lưu chiểu (với các trường hợp đã gửi luận án cho các thư viện). Trường hợp quá trình đào tạo và chất lượng luận án sau khi thực hiện quy định tại khoản 4 và khoản 5, Điều này vẫn không đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo xem xét, quyết định thực hiện theo các phương án sau: Nếu nghiên cứu sinh chưa được cấp bằng tiến sĩ, đơn vị đào tạo cho phép nghiên cứu sinh bổ sung, hoàn thiện các điều kiện để được cấp bằng trong thời gian đào tạo ghi tại quyết định công nhận nghiên cứu sinh và bao gồm cả thời gian được phép kéo dài (nếu có) (đối với trường hợp kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo); hoặc sửa đổi, bổ sung và đề nghị được đánh giá lại luận án theo quy định tại khoản 7, Điều 29 của Quy chế này nếu chưa đánh giá lần thứ hai trong thời hạn tối đa 06 tháng (đối với trường hợp thẩm định chất lượng luận án); Nếu nghiên cứu sinh đã được cấp bằng tiến sĩ, việc thu hồi bằng được thực hiện theo quy định hiện hành và trong những trường hợp: Hồ sơ quá trình đào tạo được xác nhận có vi phạm, sai sót nghiêm trọng dẫn đến người được cấp bằng không còn bảo đảm đáp ứng đủ điều kiện dự tuyển, công nhận nghiên cứu sinh và duy trì các điều kiện bảo đảm chất lượng trong quá trình học tập và nghiên cứu tại đơn vị đào tạo; Luận án có nội dung sao chép, trích dẫn không đúng quy định và bị Hội đồng thẩm định kết luận nếu cắt bỏ những phần sao chép, trích dẫn đó thì luận án không đáp ứng yêu cầu quy định của Quy chế này; Luận án của nghiên cứu sinh không được thông qua theo quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này. Trong thời gian tối đa 60 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Đại học Quốc gia Hà Nội về kết quả kiểm tra, thẩm định cuối cùng hoặc ngày có kết quả cuộc họp đối thoại, đơn vị đào tạo có văn bản báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội về việc xử lý kết quả kiểm tra, thẩm định kèm theo minh chứng. Đơn vị đào tạo có từ 20% trở lên số hồ sơ quá trình đào tạo hoặc luận án không đạt yêu cầu kiểm tra/thẩm định trong năm sẽ bị dừng tuyển sinh ít nhất trong một năm kế tiếp; có từ 20% trở lên số luận án không đạt yêu cầu thẩm định trong hai năm liên tiếp sẽ bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ ít nhất trong một năm kế tiếp. Việc dừng các hoạt động này được thông báo công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo và của Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong thời gian bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ, việc tổ chức đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh của các đơn vị đào tạo thành viên do Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện như đối với các đơn vị đào tạo trực thuộc. Đơn vị đào tạo phải có giải pháp khắc phục và báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội kết quả thực hiện các giải pháp đó. Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định cho phép đơn vị đào tạo tiếp tục tuyển sinh, tổ chức Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Có, hồ sơ quá trình đào tạo của nghiên cứu sinh có thể bị kiểm tra lại ngay cả sau khi đã tốt nghiệp. Việc kiểm tra này được thực hiện trong các trường hợp như kiểm tra ngẫu nhiên theo yêu cầu quản lý, kiểm tra khi có phản ánh hoặc đơn thư khiếu nại, tố cáo, hoặc theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo."
}
],
"id": "36032",
"is_impossible": false,
"question": "Sau khi tốt nghiệp, hồ sơ của nghiên cứu sinh có thể bị kiểm tra lại không?"
}
]
}
],
"title": "Sau khi tốt nghiệp, hồ sơ của nghiên cứu sinh có thể bị kiểm tra lại không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 31. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án Vào ngày làm việc cuối cùng của các tháng chẵn trong năm, các đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội danh sách và thông tin trích ngang của các nghiên cứu sinh bảo vệ luận án trong 02 tháng trước đó. Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, lựa chọn kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án của nghiên cứu sinh. Việc kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án được thực hiện trong các trường hợp sau: Kiểm tra, thẩm định ngẫu nhiên theo yêu cầu của công tác quản lý, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chế này và những quy định có liên quan: Lựa chọn xác suất trong số hồ sơ, luận án đã bảo vệ theo báo cáo của đơn vị đào tạo; Kiểm tra, thẩm định đối với những hồ sơ, luận án cụ thể khi có phản ánh hoặc có đơn thư khiếu nại, tố cáo; Kiểm tra, thẩm định theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quy trình kiểm tra, thẩm định: Trong thời gian 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của đơn vị đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội rà soát và có văn bản thông báo cho đơn vị đào tạo danh sách các trường hợp cần kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo hoặc thẩm định chất lượng luận án; Đơn vị đào tạo có trách nhiệm nộp đầy đủ các hồ sơ/luận án theo yêu cầu kiểm tra, thẩm định của Đại học Quốc gia Hà Nội; Đại học Quốc gia Hà Nội tiến hành kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo trong thời gian tối đa 30 ngày làm việc và thẩm định chất lượng luận án trong thời gian tối đa 90 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ theo quy định tại điểm a, khoản 4 Điều này hoặc điểm a, khoản 5, Điều này; có văn bản thông báo kết quả kiểm tra, thẩm định cho đơn vị đào tạo. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo Danh mục hồ sơ kiểm tra Hồ sơ dự tuyển, thi tuyển, xét tuyển và quyết định công nhận nghiên cứu sinh; Hồ sơ thực hiện quy trình seminar, phản biện độc lập và bảo vệ luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Hồ sơ xét cấp bằng tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 01 bộ. Hồ sơ quá trình đào tạo đạt yêu cầu khi đảm bảo các quy định về tuyển sinh, tổ chức và quản lý đào tạo, quy trình tổ chức đánh giá luận án các cấp theo các quy định tại Quy chế này; Đối với những trường hợp hồ sơ kiểm tra quá trình đào tạo chưa đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo có trách nhiệm giải trình những vấn đề liên quan, bổ sung minh chứng và đề xuất hướng xử lý với Đại học Quốc gia Hà Nội theo quy định hiện hành. Thẩm định chất lượng luận án Hồ sơ thẩm định chất lượng luận án Luận án và tóm tắt luận án đã xoá thông tin về nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn và đơn vị đào tạo; Bản sao các công bố kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh đã xóa thông tin về nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 03 bộ. Chất lượng luận án được thẩm định bằng hình thức lấy ý kiến thẩm định độc lập của 03 nhà khoa học ở trong hoặc ngoài nước, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học hoặc tiến sĩ, đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu như các Phản biện trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định ở điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này, am hiểu đề tài và lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh, có chính kiến và bản lĩnh khoa học, khách quan, trung thực, không trong danh sách những người đã tham gia phản biện độc lập hoặc tham gia Hội đồng đánh giá luận án; Chất lượng luận án đạt yêu cầu thẩm định nếu có ít nhất 02 ý kiến thẩm định đồng ý về chuyên môn; Trường hợp chất lượng luận án không đạt yêu cầu, Đại học Quốc gia Hà Nội ra quyết định thành lập Hội đồng thẩm định luận án và ủy quyền thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức họp Hội đồng thẩm định luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội; đ) Hội đồng thẩm định luận án Hội đồng thẩm định luận án gồm 07 thành viên, trong đó có ít nhất 03 thành viên chưa tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án tại đơn vị chuyên môn, không là phản biện độc lập hoặc trong Hội đồng đánh giá luận án của luận án được thẩm định; những nhà khoa học thẩm định không tán thành luận án là thành viên đương nhiên của Hội đồng; Hội đồng thẩm định luận án có Chủ tịch, Thư ký và các Ủy viên; Tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng thẩm định luận án như tiêu chuẩn của các thành viên trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định tại điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này. Cán bộ hướng dẫn luận án không tham gia vào Hội đồng thẩm định luận án; Trước khi họp Hội đồng thẩm định, các thành viên Hội đồng có bản nhận xét về tính cấp thiết của đề tài luận án, sự phù hợp với ngành/ chuyên ngành; không trùng lặp về đề tài, nội dung, kết quả nghiên cứu với các công trình đã được công bố; tính trung thực, minh bạch trong trích dẫn tư liệu; bố cục và hình thức trình bày; nội dung, phương pháp, kết quả, ý nghĩa, độ tin cậy của các kết quả đạt được; những phát hiện, luận điểm mới của luận án; đánh giá thành công và hạn chế của luận án, khẳng định mức độ đáp ứng yêu cầu của một luận án; Hội đồng chỉ họp khi có mặt ít nhất 06 thành viên Hội đồng bao gồm Chủ tịch, Thư ký và các thành viên Hội đồng có ý kiến không tán thành luận án (nếu có). Hội đồng thẩm định luận án có trách nhiệm xem xét, đánh giá chất lượng luận án; làm rõ những nội dung đơn thư khiếu nại, tố cáo; nội dung nhận xét, kết luận của những người thẩm định độc lập luận án. Hội đồng phải có biên bản ghi chi tiết các ý kiến thảo luận, trao đổi, kết luận và quyết nghị về chất lượng luận án; Luận án không đạt yêu cầu thẩm định khi có từ 02 thành viên Hội đồng có mặt trở lên không tán thành, bỏ phiếu đánh giá luận án ở mức “Không đạt”. Trường hợp luận án không đạt yêu cầu của Hội đồng thẩm định Thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức cuộc họp đối thoại giữa Hội đồng thẩm định luận án với Hội đồng đánh giá luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội. Số lượng thành viên của hai Hội đồng dự họp ít nhất là 12 người, trong đó Chủ tịch, Phản biện, Thư ký và các thành viên có ý kiến không tán thành của hai Hội đồng phải có mặt; Thủ trưởng đơn vị đào tạo trực tiếp điều hành cuộc họp, bầu thư ký. Thành viên của hai Hội đồng tranh luận về nội dung và chất lượng luận án, bỏ phiếu đánh giá lại luận án. Luận án không được thông qua nếu có từ 03 thành viên có mặt tại buổi đối thoại trở lên không tán thành (bỏ phiếu đánh giá ở mức “Không đạt”). Kết quả cuộc họp đối thoại là kết quả thẩm định cuối cùng về chất lượng luận án. Đối với luận án đạt yêu cầu thẩm định nhưng có ý kiến của người thẩm định hoặc của Hội đồng thẩm định yêu cầu phải sửa chữa, trong thời hạn tối đa 45 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo kết quả thẩm định, nghiên cứu sinh cùng với cán bộ hướng dẫn luận án xem xét chỉnh sửa chi tiết các nội dung luận án theo yêu cầu của người/ Hội đồng thẩm định, có bản hiệu đính ghi rõ những nội dung đã được chỉnh sửa (hoặc những nội dung bảo lưu ý kiến) và chỉ rõ số trang tương ứng báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo trực thuộc), thủ trưởng đơn vị đào tạo (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo thành viên) kèm theo luận án đã chỉnh sửa; đồng thời nộp lại bản luận án đã chỉnh sửa, hiệu đính kèm công văn của đơn vị đào tạo gửi cho các thư viện để thay thế cho bản luận án đã nộp lưu chiểu (với các trường hợp đã gửi luận án cho các thư viện). Trường hợp quá trình đào tạo và chất lượng luận án sau khi thực hiện quy định tại khoản 4 và khoản 5, Điều này vẫn không đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo xem xét, quyết định thực hiện theo các phương án sau: Nếu nghiên cứu sinh chưa được cấp bằng tiến sĩ, đơn vị đào tạo cho phép nghiên cứu sinh bổ sung, hoàn thiện các điều kiện để được cấp bằng trong thời gian đào tạo ghi tại quyết định công nhận nghiên cứu sinh và bao gồm cả thời gian được phép kéo dài (nếu có) (đối với trường hợp kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo); hoặc sửa đổi, bổ sung và đề nghị được đánh giá lại luận án theo quy định tại khoản 7, Điều 29 của Quy chế này nếu chưa đánh giá lần thứ hai trong thời hạn tối đa 06 tháng (đối với trường hợp thẩm định chất lượng luận án); Nếu nghiên cứu sinh đã được cấp bằng tiến sĩ, việc thu hồi bằng được thực hiện theo quy định hiện hành và trong những trường hợp: Hồ sơ quá trình đào tạo được xác nhận có vi phạm, sai sót nghiêm trọng dẫn đến người được cấp bằng không còn bảo đảm đáp ứng đủ điều kiện dự tuyển, công nhận nghiên cứu sinh và duy trì các điều kiện bảo đảm chất lượng trong quá trình học tập và nghiên cứu tại đơn vị đào tạo; Luận án có nội dung sao chép, trích dẫn không đúng quy định và bị Hội đồng thẩm định kết luận nếu cắt bỏ những phần sao chép, trích dẫn đó thì luận án không đáp ứng yêu cầu quy định của Quy chế này; Luận án của nghiên cứu sinh không được thông qua theo quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này. Trong thời gian tối đa 60 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Đại học Quốc gia Hà Nội về kết quả kiểm tra, thẩm định cuối cùng hoặc ngày có kết quả cuộc họp đối thoại, đơn vị đào tạo có văn bản báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội về việc xử lý kết quả kiểm tra, thẩm định kèm theo minh chứng. Đơn vị đào tạo có từ 20% trở lên số hồ sơ quá trình đào tạo hoặc luận án không đạt yêu cầu kiểm tra/thẩm định trong năm sẽ bị dừng tuyển sinh ít nhất trong một năm kế tiếp; có từ 20% trở lên số luận án không đạt yêu cầu thẩm định trong hai năm liên tiếp sẽ bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ ít nhất trong một năm kế tiếp. Việc dừng các hoạt động này được thông báo công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo và của Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong thời gian bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ, việc tổ chức đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh của các đơn vị đào tạo thành viên do Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện như đối với các đơn vị đào tạo trực thuộc. Đơn vị đào tạo phải có giải pháp khắc phục và báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội kết quả thực hiện các giải pháp đó. Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định cho phép đơn vị đào tạo tiếp tục tuyển sinh, tổ chức Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Hồ sơ đào tạo của nghiên cứu sinh tốt nghiệp bị kiểm tra sẽ bao gồm hồ sơ dự tuyển, thi tuyển, xét tuyển và quyết định công nhận nghiên cứu sinh; hồ sơ thực hiện quy trình seminar, phản biện độc lập và bảo vệ luận án tiến sĩ; và hồ sơ xét cấp bằng tiến sĩ của nghiên cứu sinh."
}
],
"id": "36033",
"is_impossible": false,
"question": "Hồ sơ đào tạo của sinh viên tốt nghiệp bị kiểm tra sẽ bao gồm những gì?"
}
]
}
],
"title": "Hồ sơ đào tạo của sinh viên tốt nghiệp bị kiểm tra sẽ bao gồm những gì?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan Điều 31. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án Vào ngày làm việc cuối cùng của các tháng chẵn trong năm, các đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội danh sách và thông tin trích ngang của các nghiên cứu sinh bảo vệ luận án trong 02 tháng trước đó. Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, lựa chọn kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án của nghiên cứu sinh. Việc kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án được thực hiện trong các trường hợp sau: Kiểm tra, thẩm định ngẫu nhiên theo yêu cầu của công tác quản lý, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chế này và những quy định có liên quan: Lựa chọn xác suất trong số hồ sơ, luận án đã bảo vệ theo báo cáo của đơn vị đào tạo; Kiểm tra, thẩm định đối với những hồ sơ, luận án cụ thể khi có phản ánh hoặc có đơn thư khiếu nại, tố cáo; Kiểm tra, thẩm định theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quy trình kiểm tra, thẩm định: Trong thời gian 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của đơn vị đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội rà soát và có văn bản thông báo cho đơn vị đào tạo danh sách các trường hợp cần kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo hoặc thẩm định chất lượng luận án; Đơn vị đào tạo có trách nhiệm nộp đầy đủ các hồ sơ/luận án theo yêu cầu kiểm tra, thẩm định của Đại học Quốc gia Hà Nội; Đại học Quốc gia Hà Nội tiến hành kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo trong thời gian tối đa 30 ngày làm việc và thẩm định chất lượng luận án trong thời gian tối đa 90 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ theo quy định tại điểm a, khoản 4 Điều này hoặc điểm a, khoản 5, Điều này; có văn bản thông báo kết quả kiểm tra, thẩm định cho đơn vị đào tạo. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo Danh mục hồ sơ kiểm tra Hồ sơ dự tuyển, thi tuyển, xét tuyển và quyết định công nhận nghiên cứu sinh; Hồ sơ thực hiện quy trình seminar, phản biện độc lập và bảo vệ luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Hồ sơ xét cấp bằng tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 01 bộ. Hồ sơ quá trình đào tạo đạt yêu cầu khi đảm bảo các quy định về tuyển sinh, tổ chức và quản lý đào tạo, quy trình tổ chức đánh giá luận án các cấp theo các quy định tại Quy chế này; Đối với những trường hợp hồ sơ kiểm tra quá trình đào tạo chưa đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo có trách nhiệm giải trình những vấn đề liên quan, bổ sung minh chứng và đề xuất hướng xử lý với Đại học Quốc gia Hà Nội theo quy định hiện hành. Thẩm định chất lượng luận án Hồ sơ thẩm định chất lượng luận án Luận án và tóm tắt luận án đã xoá thông tin về nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn và đơn vị đào tạo; Bản sao các công bố kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh đã xóa thông tin về nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 03 bộ. Chất lượng luận án được thẩm định bằng hình thức lấy ý kiến thẩm định độc lập của 03 nhà khoa học ở trong hoặc ngoài nước, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học hoặc tiến sĩ, đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu như các Phản biện trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định ở điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này, am hiểu đề tài và lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh, có chính kiến và bản lĩnh khoa học, khách quan, trung thực, không trong danh sách những người đã tham gia phản biện độc lập hoặc tham gia Hội đồng đánh giá luận án; Chất lượng luận án đạt yêu cầu thẩm định nếu có ít nhất 02 ý kiến thẩm định đồng ý về chuyên môn; Trường hợp chất lượng luận án không đạt yêu cầu, Đại học Quốc gia Hà Nội ra quyết định thành lập Hội đồng thẩm định luận án và ủy quyền thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức họp Hội đồng thẩm định luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội; đ) Hội đồng thẩm định luận án Hội đồng thẩm định luận án gồm 07 thành viên, trong đó có ít nhất 03 thành viên chưa tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án tại đơn vị chuyên môn, không là phản biện độc lập hoặc trong Hội đồng đánh giá luận án của luận án được thẩm định; những nhà khoa học thẩm định không tán thành luận án là thành viên đương nhiên của Hội đồng; Hội đồng thẩm định luận án có Chủ tịch, Thư ký và các Ủy viên; Tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng thẩm định luận án như tiêu chuẩn của các thành viên trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định tại điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này. Cán bộ hướng dẫn luận án không tham gia vào Hội đồng thẩm định luận án; Trước khi họp Hội đồng thẩm định, các thành viên Hội đồng có bản nhận xét về tính cấp thiết của đề tài luận án, sự phù hợp với ngành/ chuyên ngành; không trùng lặp về đề tài, nội dung, kết quả nghiên cứu với các công trình đã được công bố; tính trung thực, minh bạch trong trích dẫn tư liệu; bố cục và hình thức trình bày; nội dung, phương pháp, kết quả, ý nghĩa, độ tin cậy của các kết quả đạt được; những phát hiện, luận điểm mới của luận án; đánh giá thành công và hạn chế của luận án, khẳng định mức độ đáp ứng yêu cầu của một luận án; Hội đồng chỉ họp khi có mặt ít nhất 06 thành viên Hội đồng bao gồm Chủ tịch, Thư ký và các thành viên Hội đồng có ý kiến không tán thành luận án (nếu có). Hội đồng thẩm định luận án có trách nhiệm xem xét, đánh giá chất lượng luận án; làm rõ những nội dung đơn thư khiếu nại, tố cáo; nội dung nhận xét, kết luận của những người thẩm định độc lập luận án. Hội đồng phải có biên bản ghi chi tiết các ý kiến thảo luận, trao đổi, kết luận và quyết nghị về chất lượng luận án; Luận án không đạt yêu cầu thẩm định khi có từ 02 thành viên Hội đồng có mặt trở lên không tán thành, bỏ phiếu đánh giá luận án ở mức “Không đạt”. Trường hợp luận án không đạt yêu cầu của Hội đồng thẩm định Thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức cuộc họp đối thoại giữa Hội đồng thẩm định luận án với Hội đồng đánh giá luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội. Số lượng thành viên của hai Hội đồng dự họp ít nhất là 12 người, trong đó Chủ tịch, Phản biện, Thư ký và các thành viên có ý kiến không tán thành của hai Hội đồng phải có mặt; Thủ trưởng đơn vị đào tạo trực tiếp điều hành cuộc họp, bầu thư ký. Thành viên của hai Hội đồng tranh luận về nội dung và chất lượng luận án, bỏ phiếu đánh giá lại luận án. Luận án không được thông qua nếu có từ 03 thành viên có mặt tại buổi đối thoại trở lên không tán thành (bỏ phiếu đánh giá ở mức “Không đạt”). Kết quả cuộc họp đối thoại là kết quả thẩm định cuối cùng về chất lượng luận án. Đối với luận án đạt yêu cầu thẩm định nhưng có ý kiến của người thẩm định hoặc của Hội đồng thẩm định yêu cầu phải sửa chữa, trong thời hạn tối đa 45 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo kết quả thẩm định, nghiên cứu sinh cùng với cán bộ hướng dẫn luận án xem xét chỉnh sửa chi tiết các nội dung luận án theo yêu cầu của người/ Hội đồng thẩm định, có bản hiệu đính ghi rõ những nội dung đã được chỉnh sửa (hoặc những nội dung bảo lưu ý kiến) và chỉ rõ số trang tương ứng báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo trực thuộc), thủ trưởng đơn vị đào tạo (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo thành viên) kèm theo luận án đã chỉnh sửa; đồng thời nộp lại bản luận án đã chỉnh sửa, hiệu đính kèm công văn của đơn vị đào tạo gửi cho các thư viện để thay thế cho bản luận án đã nộp lưu chiểu (với các trường hợp đã gửi luận án cho các thư viện). Trường hợp quá trình đào tạo và chất lượng luận án sau khi thực hiện quy định tại khoản 4 và khoản 5, Điều này vẫn không đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo xem xét, quyết định thực hiện theo các phương án sau: Nếu nghiên cứu sinh chưa được cấp bằng tiến sĩ, đơn vị đào tạo cho phép nghiên cứu sinh bổ sung, hoàn thiện các điều kiện để được cấp bằng trong thời gian đào tạo ghi tại quyết định công nhận nghiên cứu sinh và bao gồm cả thời gian được phép kéo dài (nếu có) (đối với trường hợp kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo); hoặc sửa đổi, bổ sung và đề nghị được đánh giá lại luận án theo quy định tại khoản 7, Điều 29 của Quy chế này nếu chưa đánh giá lần thứ hai trong thời hạn tối đa 06 tháng (đối với trường hợp thẩm định chất lượng luận án); Nếu nghiên cứu sinh đã được cấp bằng tiến sĩ, việc thu hồi bằng được thực hiện theo quy định hiện hành và trong những trường hợp: Hồ sơ quá trình đào tạo được xác nhận có vi phạm, sai sót nghiêm trọng dẫn đến người được cấp bằng không còn bảo đảm đáp ứng đủ điều kiện dự tuyển, công nhận nghiên cứu sinh và duy trì các điều kiện bảo đảm chất lượng trong quá trình học tập và nghiên cứu tại đơn vị đào tạo; Luận án có nội dung sao chép, trích dẫn không đúng quy định và bị Hội đồng thẩm định kết luận nếu cắt bỏ những phần sao chép, trích dẫn đó thì luận án không đáp ứng yêu cầu quy định của Quy chế này; Luận án của nghiên cứu sinh không được thông qua theo quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này. Trong thời gian tối đa 60 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Đại học Quốc gia Hà Nội về kết quả kiểm tra, thẩm định cuối cùng hoặc ngày có kết quả cuộc họp đối thoại, đơn vị đào tạo có văn bản báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội về việc xử lý kết quả kiểm tra, thẩm định kèm theo minh chứng. Đơn vị đào tạo có từ 20% trở lên số hồ sơ quá trình đào tạo hoặc luận án không đạt yêu cầu kiểm tra/thẩm định trong năm sẽ bị dừng tuyển sinh ít nhất trong một năm kế tiếp; có từ 20% trở lên số luận án không đạt yêu cầu thẩm định trong hai năm liên tiếp sẽ bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ ít nhất trong một năm kế tiếp. Việc dừng các hoạt động này được thông báo công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo và của Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong thời gian bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ, việc tổ chức đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh của các đơn vị đào tạo thành viên do Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện như đối với các đơn vị đào tạo trực thuộc. Đơn vị đào tạo phải có giải pháp khắc phục và báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội kết quả thực hiện các giải pháp đó. Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định cho phép đơn vị đào tạo tiếp tục tuyển sinh, tổ chức Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Sinh viên đã tốt nghiệp sẽ không phải bảo vệ lại luận án nếu hồ sơ quá trình đào tạo hoặc chất lượng luận án không đạt yêu cầu. Thay vào đó, theo Điều 31 của quy chế, nếu nghiên cứu sinh đã được cấp bằng tiến sĩ mà hồ sơ quá trình đào tạo có vi phạm, sai sót nghiêm trọng hoặc luận án có nội dung sao chép, trích dẫn không đúng quy định dẫn đến không đáp ứng yêu cầu, bằng tiến sĩ sẽ bị thu hồi. Trường hợp nghiên cứu sinh chưa được cấp bằng tiến sĩ nhưng chất lượng luận án không đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo có thể yêu cầu sửa đổi, bổ sung và đề nghị được đánh giá lại luận án."
}
],
"id": "36034",
"is_impossible": false,
"question": "Sinh viên đã tốt nghiệp có thể phải bảo vệ lại luận án nếu hồ sơ không đạt yêu cầu không?"
}
]
}
],
"title": "Sinh viên đã tốt nghiệp có thể phải bảo vệ lại luận án nếu hồ sơ không đạt yêu cầu không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 31. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án Vào ngày làm việc cuối cùng của các tháng chẵn trong năm, các đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội danh sách và thông tin trích ngang của các nghiên cứu sinh bảo vệ luận án trong 02 tháng trước đó. Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, lựa chọn kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án của nghiên cứu sinh. Việc kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án được thực hiện trong các trường hợp sau: Kiểm tra, thẩm định ngẫu nhiên theo yêu cầu của công tác quản lý, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chế này và những quy định có liên quan: Lựa chọn xác suất trong số hồ sơ, luận án đã bảo vệ theo báo cáo của đơn vị đào tạo; Kiểm tra, thẩm định đối với những hồ sơ, luận án cụ thể khi có phản ánh hoặc có đơn thư khiếu nại, tố cáo; Kiểm tra, thẩm định theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quy trình kiểm tra, thẩm định: Trong thời gian 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của đơn vị đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội rà soát và có văn bản thông báo cho đơn vị đào tạo danh sách các trường hợp cần kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo hoặc thẩm định chất lượng luận án; Đơn vị đào tạo có trách nhiệm nộp đầy đủ các hồ sơ/luận án theo yêu cầu kiểm tra, thẩm định của Đại học Quốc gia Hà Nội; Đại học Quốc gia Hà Nội tiến hành kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo trong thời gian tối đa 30 ngày làm việc và thẩm định chất lượng luận án trong thời gian tối đa 90 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ theo quy định tại điểm a, khoản 4 Điều này hoặc điểm a, khoản 5, Điều này; có văn bản thông báo kết quả kiểm tra, thẩm định cho đơn vị đào tạo. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo Danh mục hồ sơ kiểm tra Hồ sơ dự tuyển, thi tuyển, xét tuyển và quyết định công nhận nghiên cứu sinh; Hồ sơ thực hiện quy trình seminar, phản biện độc lập và bảo vệ luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Hồ sơ xét cấp bằng tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 01 bộ. Hồ sơ quá trình đào tạo đạt yêu cầu khi đảm bảo các quy định về tuyển sinh, tổ chức và quản lý đào tạo, quy trình tổ chức đánh giá luận án các cấp theo các quy định tại Quy chế này; Đối với những trường hợp hồ sơ kiểm tra quá trình đào tạo chưa đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo có trách nhiệm giải trình những vấn đề liên quan, bổ sung minh chứng và đề xuất hướng xử lý với Đại học Quốc gia Hà Nội theo quy định hiện hành. Thẩm định chất lượng luận án Hồ sơ thẩm định chất lượng luận án Luận án và tóm tắt luận án đã xoá thông tin về nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn và đơn vị đào tạo; Bản sao các công bố kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh đã xóa thông tin về nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 03 bộ. Chất lượng luận án được thẩm định bằng hình thức lấy ý kiến thẩm định độc lập của 03 nhà khoa học ở trong hoặc ngoài nước, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học hoặc tiến sĩ, đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu như các Phản biện trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định ở điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này, am hiểu đề tài và lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh, có chính kiến và bản lĩnh khoa học, khách quan, trung thực, không trong danh sách những người đã tham gia phản biện độc lập hoặc tham gia Hội đồng đánh giá luận án; Chất lượng luận án đạt yêu cầu thẩm định nếu có ít nhất 02 ý kiến thẩm định đồng ý về chuyên môn; Trường hợp chất lượng luận án không đạt yêu cầu, Đại học Quốc gia Hà Nội ra quyết định thành lập Hội đồng thẩm định luận án và ủy quyền thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức họp Hội đồng thẩm định luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội; đ) Hội đồng thẩm định luận án Hội đồng thẩm định luận án gồm 07 thành viên, trong đó có ít nhất 03 thành viên chưa tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án tại đơn vị chuyên môn, không là phản biện độc lập hoặc trong Hội đồng đánh giá luận án của luận án được thẩm định; những nhà khoa học thẩm định không tán thành luận án là thành viên đương nhiên của Hội đồng; Hội đồng thẩm định luận án có Chủ tịch, Thư ký và các Ủy viên; Tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng thẩm định luận án như tiêu chuẩn của các thành viên trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định tại điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này. Cán bộ hướng dẫn luận án không tham gia vào Hội đồng thẩm định luận án; Trước khi họp Hội đồng thẩm định, các thành viên Hội đồng có bản nhận xét về tính cấp thiết của đề tài luận án, sự phù hợp với ngành/ chuyên ngành; không trùng lặp về đề tài, nội dung, kết quả nghiên cứu với các công trình đã được công bố; tính trung thực, minh bạch trong trích dẫn tư liệu; bố cục và hình thức trình bày; nội dung, phương pháp, kết quả, ý nghĩa, độ tin cậy của các kết quả đạt được; những phát hiện, luận điểm mới của luận án; đánh giá thành công và hạn chế của luận án, khẳng định mức độ đáp ứng yêu cầu của một luận án; Hội đồng chỉ họp khi có mặt ít nhất 06 thành viên Hội đồng bao gồm Chủ tịch, Thư ký và các thành viên Hội đồng có ý kiến không tán thành luận án (nếu có). Hội đồng thẩm định luận án có trách nhiệm xem xét, đánh giá chất lượng luận án; làm rõ những nội dung đơn thư khiếu nại, tố cáo; nội dung nhận xét, kết luận của những người thẩm định độc lập luận án. Hội đồng phải có biên bản ghi chi tiết các ý kiến thảo luận, trao đổi, kết luận và quyết nghị về chất lượng luận án; Luận án không đạt yêu cầu thẩm định khi có từ 02 thành viên Hội đồng có mặt trở lên không tán thành, bỏ phiếu đánh giá luận án ở mức “Không đạt”. Trường hợp luận án không đạt yêu cầu của Hội đồng thẩm định Thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức cuộc họp đối thoại giữa Hội đồng thẩm định luận án với Hội đồng đánh giá luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội. Số lượng thành viên của hai Hội đồng dự họp ít nhất là 12 người, trong đó Chủ tịch, Phản biện, Thư ký và các thành viên có ý kiến không tán thành của hai Hội đồng phải có mặt; Thủ trưởng đơn vị đào tạo trực tiếp điều hành cuộc họp, bầu thư ký. Thành viên của hai Hội đồng tranh luận về nội dung và chất lượng luận án, bỏ phiếu đánh giá lại luận án. Luận án không được thông qua nếu có từ 03 thành viên có mặt tại buổi đối thoại trở lên không tán thành (bỏ phiếu đánh giá ở mức “Không đạt”). Kết quả cuộc họp đối thoại là kết quả thẩm định cuối cùng về chất lượng luận án. Đối với luận án đạt yêu cầu thẩm định nhưng có ý kiến của người thẩm định hoặc của Hội đồng thẩm định yêu cầu phải sửa chữa, trong thời hạn tối đa 45 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo kết quả thẩm định, nghiên cứu sinh cùng với cán bộ hướng dẫn luận án xem xét chỉnh sửa chi tiết các nội dung luận án theo yêu cầu của người/ Hội đồng thẩm định, có bản hiệu đính ghi rõ những nội dung đã được chỉnh sửa (hoặc những nội dung bảo lưu ý kiến) và chỉ rõ số trang tương ứng báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo trực thuộc), thủ trưởng đơn vị đào tạo (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo thành viên) kèm theo luận án đã chỉnh sửa; đồng thời nộp lại bản luận án đã chỉnh sửa, hiệu đính kèm công văn của đơn vị đào tạo gửi cho các thư viện để thay thế cho bản luận án đã nộp lưu chiểu (với các trường hợp đã gửi luận án cho các thư viện). Trường hợp quá trình đào tạo và chất lượng luận án sau khi thực hiện quy định tại khoản 4 và khoản 5, Điều này vẫn không đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo xem xét, quyết định thực hiện theo các phương án sau: Nếu nghiên cứu sinh chưa được cấp bằng tiến sĩ, đơn vị đào tạo cho phép nghiên cứu sinh bổ sung, hoàn thiện các điều kiện để được cấp bằng trong thời gian đào tạo ghi tại quyết định công nhận nghiên cứu sinh và bao gồm cả thời gian được phép kéo dài (nếu có) (đối với trường hợp kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo); hoặc sửa đổi, bổ sung và đề nghị được đánh giá lại luận án theo quy định tại khoản 7, Điều 29 của Quy chế này nếu chưa đánh giá lần thứ hai trong thời hạn tối đa 06 tháng (đối với trường hợp thẩm định chất lượng luận án); Nếu nghiên cứu sinh đã được cấp bằng tiến sĩ, việc thu hồi bằng được thực hiện theo quy định hiện hành và trong những trường hợp: Hồ sơ quá trình đào tạo được xác nhận có vi phạm, sai sót nghiêm trọng dẫn đến người được cấp bằng không còn bảo đảm đáp ứng đủ điều kiện dự tuyển, công nhận nghiên cứu sinh và duy trì các điều kiện bảo đảm chất lượng trong quá trình học tập và nghiên cứu tại đơn vị đào tạo; Luận án có nội dung sao chép, trích dẫn không đúng quy định và bị Hội đồng thẩm định kết luận nếu cắt bỏ những phần sao chép, trích dẫn đó thì luận án không đáp ứng yêu cầu quy định của Quy chế này; Luận án của nghiên cứu sinh không được thông qua theo quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này. Trong thời gian tối đa 60 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Đại học Quốc gia Hà Nội về kết quả kiểm tra, thẩm định cuối cùng hoặc ngày có kết quả cuộc họp đối thoại, đơn vị đào tạo có văn bản báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội về việc xử lý kết quả kiểm tra, thẩm định kèm theo minh chứng. Đơn vị đào tạo có từ 20% trở lên số hồ sơ quá trình đào tạo hoặc luận án không đạt yêu cầu kiểm tra/thẩm định trong năm sẽ bị dừng tuyển sinh ít nhất trong một năm kế tiếp; có từ 20% trở lên số luận án không đạt yêu cầu thẩm định trong hai năm liên tiếp sẽ bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ ít nhất trong một năm kế tiếp. Việc dừng các hoạt động này được thông báo công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo và của Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong thời gian bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ, việc tổ chức đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh của các đơn vị đào tạo thành viên do Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện như đối với các đơn vị đào tạo trực thuộc. Đơn vị đào tạo phải có giải pháp khắc phục và báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội kết quả thực hiện các giải pháp đó. Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định cho phép đơn vị đào tạo tiếp tục tuyển sinh, tổ chức Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Sinh viên đã tốt nghiệp có thể bị thu hồi bằng tiến sĩ nếu hồ sơ quá trình đào tạo được xác nhận có vi phạm, sai sót nghiêm trọng, dẫn đến việc người được cấp bằng không còn đảm bảo đáp ứng đủ điều kiện dự tuyển, công nhận nghiên cứu sinh và duy trì các điều kiện đảm bảo chất lượng trong quá trình học tập và nghiên cứu tại đơn vị đào tạo."
}
],
"id": "36035",
"is_impossible": false,
"question": "Sinh viên tốt nghiệp có thể bị thu hồi bằng tiến sĩ không nếu có sai phạm trong hồ sơ đào tạo?"
}
]
}
],
"title": "Sinh viên tốt nghiệp có thể bị thu hồi bằng tiến sĩ không nếu có sai phạm trong hồ sơ đào tạo?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan Điều 31. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án Vào ngày làm việc cuối cùng của các tháng chẵn trong năm, các đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội danh sách và thông tin trích ngang của các nghiên cứu sinh bảo vệ luận án trong 02 tháng trước đó. Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, lựa chọn kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án của nghiên cứu sinh. Việc kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án được thực hiện trong các trường hợp sau: Kiểm tra, thẩm định ngẫu nhiên theo yêu cầu của công tác quản lý, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chế này và những quy định có liên quan: Lựa chọn xác suất trong số hồ sơ, luận án đã bảo vệ theo báo cáo của đơn vị đào tạo; Kiểm tra, thẩm định đối với những hồ sơ, luận án cụ thể khi có phản ánh hoặc có đơn thư khiếu nại, tố cáo; Kiểm tra, thẩm định theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quy trình kiểm tra, thẩm định: Trong thời gian 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của đơn vị đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội rà soát và có văn bản thông báo cho đơn vị đào tạo danh sách các trường hợp cần kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo hoặc thẩm định chất lượng luận án; Đơn vị đào tạo có trách nhiệm nộp đầy đủ các hồ sơ/luận án theo yêu cầu kiểm tra, thẩm định của Đại học Quốc gia Hà Nội; Đại học Quốc gia Hà Nội tiến hành kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo trong thời gian tối đa 30 ngày làm việc và thẩm định chất lượng luận án trong thời gian tối đa 90 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ theo quy định tại điểm a, khoản 4 Điều này hoặc điểm a, khoản 5, Điều này; có văn bản thông báo kết quả kiểm tra, thẩm định cho đơn vị đào tạo. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo Danh mục hồ sơ kiểm tra Hồ sơ dự tuyển, thi tuyển, xét tuyển và quyết định công nhận nghiên cứu sinh; Hồ sơ thực hiện quy trình seminar, phản biện độc lập và bảo vệ luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Hồ sơ xét cấp bằng tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 01 bộ. Hồ sơ quá trình đào tạo đạt yêu cầu khi đảm bảo các quy định về tuyển sinh, tổ chức và quản lý đào tạo, quy trình tổ chức đánh giá luận án các cấp theo các quy định tại Quy chế này; Đối với những trường hợp hồ sơ kiểm tra quá trình đào tạo chưa đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo có trách nhiệm giải trình những vấn đề liên quan, bổ sung minh chứng và đề xuất hướng xử lý với Đại học Quốc gia Hà Nội theo quy định hiện hành. Thẩm định chất lượng luận án Hồ sơ thẩm định chất lượng luận án Luận án và tóm tắt luận án đã xoá thông tin về nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn và đơn vị đào tạo; Bản sao các công bố kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh đã xóa thông tin về nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 03 bộ. Chất lượng luận án được thẩm định bằng hình thức lấy ý kiến thẩm định độc lập của 03 nhà khoa học ở trong hoặc ngoài nước, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học hoặc tiến sĩ, đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu như các Phản biện trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định ở điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này, am hiểu đề tài và lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh, có chính kiến và bản lĩnh khoa học, khách quan, trung thực, không trong danh sách những người đã tham gia phản biện độc lập hoặc tham gia Hội đồng đánh giá luận án; Chất lượng luận án đạt yêu cầu thẩm định nếu có ít nhất 02 ý kiến thẩm định đồng ý về chuyên môn; Trường hợp chất lượng luận án không đạt yêu cầu, Đại học Quốc gia Hà Nội ra quyết định thành lập Hội đồng thẩm định luận án và ủy quyền thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức họp Hội đồng thẩm định luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội; đ) Hội đồng thẩm định luận án Hội đồng thẩm định luận án gồm 07 thành viên, trong đó có ít nhất 03 thành viên chưa tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án tại đơn vị chuyên môn, không là phản biện độc lập hoặc trong Hội đồng đánh giá luận án của luận án được thẩm định; những nhà khoa học thẩm định không tán thành luận án là thành viên đương nhiên của Hội đồng; Hội đồng thẩm định luận án có Chủ tịch, Thư ký và các Ủy viên; Tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng thẩm định luận án như tiêu chuẩn của các thành viên trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định tại điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này. Cán bộ hướng dẫn luận án không tham gia vào Hội đồng thẩm định luận án; Trước khi họp Hội đồng thẩm định, các thành viên Hội đồng có bản nhận xét về tính cấp thiết của đề tài luận án, sự phù hợp với ngành/ chuyên ngành; không trùng lặp về đề tài, nội dung, kết quả nghiên cứu với các công trình đã được công bố; tính trung thực, minh bạch trong trích dẫn tư liệu; bố cục và hình thức trình bày; nội dung, phương pháp, kết quả, ý nghĩa, độ tin cậy của các kết quả đạt được; những phát hiện, luận điểm mới của luận án; đánh giá thành công và hạn chế của luận án, khẳng định mức độ đáp ứng yêu cầu của một luận án; Hội đồng chỉ họp khi có mặt ít nhất 06 thành viên Hội đồng bao gồm Chủ tịch, Thư ký và các thành viên Hội đồng có ý kiến không tán thành luận án (nếu có). Hội đồng thẩm định luận án có trách nhiệm xem xét, đánh giá chất lượng luận án; làm rõ những nội dung đơn thư khiếu nại, tố cáo; nội dung nhận xét, kết luận của những người thẩm định độc lập luận án. Hội đồng phải có biên bản ghi chi tiết các ý kiến thảo luận, trao đổi, kết luận và quyết nghị về chất lượng luận án; Luận án không đạt yêu cầu thẩm định khi có từ 02 thành viên Hội đồng có mặt trở lên không tán thành, bỏ phiếu đánh giá luận án ở mức “Không đạt”. Trường hợp luận án không đạt yêu cầu của Hội đồng thẩm định Thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức cuộc họp đối thoại giữa Hội đồng thẩm định luận án với Hội đồng đánh giá luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội. Số lượng thành viên của hai Hội đồng dự họp ít nhất là 12 người, trong đó Chủ tịch, Phản biện, Thư ký và các thành viên có ý kiến không tán thành của hai Hội đồng phải có mặt; Thủ trưởng đơn vị đào tạo trực tiếp điều hành cuộc họp, bầu thư ký. Thành viên của hai Hội đồng tranh luận về nội dung và chất lượng luận án, bỏ phiếu đánh giá lại luận án. Luận án không được thông qua nếu có từ 03 thành viên có mặt tại buổi đối thoại trở lên không tán thành (bỏ phiếu đánh giá ở mức “Không đạt”). Kết quả cuộc họp đối thoại là kết quả thẩm định cuối cùng về chất lượng luận án. Đối với luận án đạt yêu cầu thẩm định nhưng có ý kiến của người thẩm định hoặc của Hội đồng thẩm định yêu cầu phải sửa chữa, trong thời hạn tối đa 45 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo kết quả thẩm định, nghiên cứu sinh cùng với cán bộ hướng dẫn luận án xem xét chỉnh sửa chi tiết các nội dung luận án theo yêu cầu của người/ Hội đồng thẩm định, có bản hiệu đính ghi rõ những nội dung đã được chỉnh sửa (hoặc những nội dung bảo lưu ý kiến) và chỉ rõ số trang tương ứng báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo trực thuộc), thủ trưởng đơn vị đào tạo (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo thành viên) kèm theo luận án đã chỉnh sửa; đồng thời nộp lại bản luận án đã chỉnh sửa, hiệu đính kèm công văn của đơn vị đào tạo gửi cho các thư viện để thay thế cho bản luận án đã nộp lưu chiểu (với các trường hợp đã gửi luận án cho các thư viện). Trường hợp quá trình đào tạo và chất lượng luận án sau khi thực hiện quy định tại khoản 4 và khoản 5, Điều này vẫn không đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo xem xét, quyết định thực hiện theo các phương án sau: Nếu nghiên cứu sinh chưa được cấp bằng tiến sĩ, đơn vị đào tạo cho phép nghiên cứu sinh bổ sung, hoàn thiện các điều kiện để được cấp bằng trong thời gian đào tạo ghi tại quyết định công nhận nghiên cứu sinh và bao gồm cả thời gian được phép kéo dài (nếu có) (đối với trường hợp kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo); hoặc sửa đổi, bổ sung và đề nghị được đánh giá lại luận án theo quy định tại khoản 7, Điều 29 của Quy chế này nếu chưa đánh giá lần thứ hai trong thời hạn tối đa 06 tháng (đối với trường hợp thẩm định chất lượng luận án); Nếu nghiên cứu sinh đã được cấp bằng tiến sĩ, việc thu hồi bằng được thực hiện theo quy định hiện hành và trong những trường hợp: Hồ sơ quá trình đào tạo được xác nhận có vi phạm, sai sót nghiêm trọng dẫn đến người được cấp bằng không còn bảo đảm đáp ứng đủ điều kiện dự tuyển, công nhận nghiên cứu sinh và duy trì các điều kiện bảo đảm chất lượng trong quá trình học tập và nghiên cứu tại đơn vị đào tạo; Luận án có nội dung sao chép, trích dẫn không đúng quy định và bị Hội đồng thẩm định kết luận nếu cắt bỏ những phần sao chép, trích dẫn đó thì luận án không đáp ứng yêu cầu quy định của Quy chế này; Luận án của nghiên cứu sinh không được thông qua theo quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này. Trong thời gian tối đa 60 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Đại học Quốc gia Hà Nội về kết quả kiểm tra, thẩm định cuối cùng hoặc ngày có kết quả cuộc họp đối thoại, đơn vị đào tạo có văn bản báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội về việc xử lý kết quả kiểm tra, thẩm định kèm theo minh chứng. Đơn vị đào tạo có từ 20% trở lên số hồ sơ quá trình đào tạo hoặc luận án không đạt yêu cầu kiểm tra/thẩm định trong năm sẽ bị dừng tuyển sinh ít nhất trong một năm kế tiếp; có từ 20% trở lên số luận án không đạt yêu cầu thẩm định trong hai năm liên tiếp sẽ bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ ít nhất trong một năm kế tiếp. Việc dừng các hoạt động này được thông báo công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo và của Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong thời gian bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ, việc tổ chức đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh của các đơn vị đào tạo thành viên do Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện như đối với các đơn vị đào tạo trực thuộc. Đơn vị đào tạo phải có giải pháp khắc phục và báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội kết quả thực hiện các giải pháp đó. Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định cho phép đơn vị đào tạo tiếp tục tuyển sinh, tổ chức Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Giảng viên không trực tiếp tham gia vào quá trình kiểm tra hồ sơ đào tạo của nghiên cứu sinh đã tốt nghiệp. Quá trình kiểm tra này do Đại học Quốc gia Hà Nội tiến hành. Tuy nhiên, giảng viên có thể liên quan gián tiếp bằng cách cung cấp thông tin hoặc tài liệu liên quan đến quá trình đào tạo của nghiên cứu sinh nếu có yêu cầu từ Đại học Quốc gia Hà Nội hoặc đơn vị đào tạo."
}
],
"id": "36036",
"is_impossible": false,
"question": "Giảng viên có thể tham gia vào quá trình kiểm tra hồ sơ đào tạo của nghiên cứu sinh đã tốt nghiệp không?"
}
]
}
],
"title": "Giảng viên có thể tham gia vào quá trình kiểm tra hồ sơ đào tạo của nghiên cứu sinh đã tốt nghiệp không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 31. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án Vào ngày làm việc cuối cùng của các tháng chẵn trong năm, các đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội danh sách và thông tin trích ngang của các nghiên cứu sinh bảo vệ luận án trong 02 tháng trước đó. Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, lựa chọn kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án của nghiên cứu sinh. Việc kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án được thực hiện trong các trường hợp sau: Kiểm tra, thẩm định ngẫu nhiên theo yêu cầu của công tác quản lý, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chế này và những quy định có liên quan: Lựa chọn xác suất trong số hồ sơ, luận án đã bảo vệ theo báo cáo của đơn vị đào tạo; Kiểm tra, thẩm định đối với những hồ sơ, luận án cụ thể khi có phản ánh hoặc có đơn thư khiếu nại, tố cáo; Kiểm tra, thẩm định theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quy trình kiểm tra, thẩm định: Trong thời gian 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của đơn vị đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội rà soát và có văn bản thông báo cho đơn vị đào tạo danh sách các trường hợp cần kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo hoặc thẩm định chất lượng luận án; Đơn vị đào tạo có trách nhiệm nộp đầy đủ các hồ sơ/luận án theo yêu cầu kiểm tra, thẩm định của Đại học Quốc gia Hà Nội; Đại học Quốc gia Hà Nội tiến hành kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo trong thời gian tối đa 30 ngày làm việc và thẩm định chất lượng luận án trong thời gian tối đa 90 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ theo quy định tại điểm a, khoản 4 Điều này hoặc điểm a, khoản 5, Điều này; có văn bản thông báo kết quả kiểm tra, thẩm định cho đơn vị đào tạo. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo Danh mục hồ sơ kiểm tra Hồ sơ dự tuyển, thi tuyển, xét tuyển và quyết định công nhận nghiên cứu sinh; Hồ sơ thực hiện quy trình seminar, phản biện độc lập và bảo vệ luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Hồ sơ xét cấp bằng tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 01 bộ. Hồ sơ quá trình đào tạo đạt yêu cầu khi đảm bảo các quy định về tuyển sinh, tổ chức và quản lý đào tạo, quy trình tổ chức đánh giá luận án các cấp theo các quy định tại Quy chế này; Đối với những trường hợp hồ sơ kiểm tra quá trình đào tạo chưa đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo có trách nhiệm giải trình những vấn đề liên quan, bổ sung minh chứng và đề xuất hướng xử lý với Đại học Quốc gia Hà Nội theo quy định hiện hành. Thẩm định chất lượng luận án Hồ sơ thẩm định chất lượng luận án Luận án và tóm tắt luận án đã xoá thông tin về nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn và đơn vị đào tạo; Bản sao các công bố kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh đã xóa thông tin về nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 03 bộ. Chất lượng luận án được thẩm định bằng hình thức lấy ý kiến thẩm định độc lập của 03 nhà khoa học ở trong hoặc ngoài nước, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học hoặc tiến sĩ, đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu như các Phản biện trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định ở điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này, am hiểu đề tài và lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh, có chính kiến và bản lĩnh khoa học, khách quan, trung thực, không trong danh sách những người đã tham gia phản biện độc lập hoặc tham gia Hội đồng đánh giá luận án; Chất lượng luận án đạt yêu cầu thẩm định nếu có ít nhất 02 ý kiến thẩm định đồng ý về chuyên môn; Trường hợp chất lượng luận án không đạt yêu cầu, Đại học Quốc gia Hà Nội ra quyết định thành lập Hội đồng thẩm định luận án và ủy quyền thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức họp Hội đồng thẩm định luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội; đ) Hội đồng thẩm định luận án Hội đồng thẩm định luận án gồm 07 thành viên, trong đó có ít nhất 03 thành viên chưa tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án tại đơn vị chuyên môn, không là phản biện độc lập hoặc trong Hội đồng đánh giá luận án của luận án được thẩm định; những nhà khoa học thẩm định không tán thành luận án là thành viên đương nhiên của Hội đồng; Hội đồng thẩm định luận án có Chủ tịch, Thư ký và các Ủy viên; Tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng thẩm định luận án như tiêu chuẩn của các thành viên trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định tại điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này. Cán bộ hướng dẫn luận án không tham gia vào Hội đồng thẩm định luận án; Trước khi họp Hội đồng thẩm định, các thành viên Hội đồng có bản nhận xét về tính cấp thiết của đề tài luận án, sự phù hợp với ngành/ chuyên ngành; không trùng lặp về đề tài, nội dung, kết quả nghiên cứu với các công trình đã được công bố; tính trung thực, minh bạch trong trích dẫn tư liệu; bố cục và hình thức trình bày; nội dung, phương pháp, kết quả, ý nghĩa, độ tin cậy của các kết quả đạt được; những phát hiện, luận điểm mới của luận án; đánh giá thành công và hạn chế của luận án, khẳng định mức độ đáp ứng yêu cầu của một luận án; Hội đồng chỉ họp khi có mặt ít nhất 06 thành viên Hội đồng bao gồm Chủ tịch, Thư ký và các thành viên Hội đồng có ý kiến không tán thành luận án (nếu có). Hội đồng thẩm định luận án có trách nhiệm xem xét, đánh giá chất lượng luận án; làm rõ những nội dung đơn thư khiếu nại, tố cáo; nội dung nhận xét, kết luận của những người thẩm định độc lập luận án. Hội đồng phải có biên bản ghi chi tiết các ý kiến thảo luận, trao đổi, kết luận và quyết nghị về chất lượng luận án; Luận án không đạt yêu cầu thẩm định khi có từ 02 thành viên Hội đồng có mặt trở lên không tán thành, bỏ phiếu đánh giá luận án ở mức “Không đạt”. Trường hợp luận án không đạt yêu cầu của Hội đồng thẩm định Thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức cuộc họp đối thoại giữa Hội đồng thẩm định luận án với Hội đồng đánh giá luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội. Số lượng thành viên của hai Hội đồng dự họp ít nhất là 12 người, trong đó Chủ tịch, Phản biện, Thư ký và các thành viên có ý kiến không tán thành của hai Hội đồng phải có mặt; Thủ trưởng đơn vị đào tạo trực tiếp điều hành cuộc họp, bầu thư ký. Thành viên của hai Hội đồng tranh luận về nội dung và chất lượng luận án, bỏ phiếu đánh giá lại luận án. Luận án không được thông qua nếu có từ 03 thành viên có mặt tại buổi đối thoại trở lên không tán thành (bỏ phiếu đánh giá ở mức “Không đạt”). Kết quả cuộc họp đối thoại là kết quả thẩm định cuối cùng về chất lượng luận án. Đối với luận án đạt yêu cầu thẩm định nhưng có ý kiến của người thẩm định hoặc của Hội đồng thẩm định yêu cầu phải sửa chữa, trong thời hạn tối đa 45 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo kết quả thẩm định, nghiên cứu sinh cùng với cán bộ hướng dẫn luận án xem xét chỉnh sửa chi tiết các nội dung luận án theo yêu cầu của người/ Hội đồng thẩm định, có bản hiệu đính ghi rõ những nội dung đã được chỉnh sửa (hoặc những nội dung bảo lưu ý kiến) và chỉ rõ số trang tương ứng báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo trực thuộc), thủ trưởng đơn vị đào tạo (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo thành viên) kèm theo luận án đã chỉnh sửa; đồng thời nộp lại bản luận án đã chỉnh sửa, hiệu đính kèm công văn của đơn vị đào tạo gửi cho các thư viện để thay thế cho bản luận án đã nộp lưu chiểu (với các trường hợp đã gửi luận án cho các thư viện). Trường hợp quá trình đào tạo và chất lượng luận án sau khi thực hiện quy định tại khoản 4 và khoản 5, Điều này vẫn không đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo xem xét, quyết định thực hiện theo các phương án sau: Nếu nghiên cứu sinh chưa được cấp bằng tiến sĩ, đơn vị đào tạo cho phép nghiên cứu sinh bổ sung, hoàn thiện các điều kiện để được cấp bằng trong thời gian đào tạo ghi tại quyết định công nhận nghiên cứu sinh và bao gồm cả thời gian được phép kéo dài (nếu có) (đối với trường hợp kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo); hoặc sửa đổi, bổ sung và đề nghị được đánh giá lại luận án theo quy định tại khoản 7, Điều 29 của Quy chế này nếu chưa đánh giá lần thứ hai trong thời hạn tối đa 06 tháng (đối với trường hợp thẩm định chất lượng luận án); Nếu nghiên cứu sinh đã được cấp bằng tiến sĩ, việc thu hồi bằng được thực hiện theo quy định hiện hành và trong những trường hợp: Hồ sơ quá trình đào tạo được xác nhận có vi phạm, sai sót nghiêm trọng dẫn đến người được cấp bằng không còn bảo đảm đáp ứng đủ điều kiện dự tuyển, công nhận nghiên cứu sinh và duy trì các điều kiện bảo đảm chất lượng trong quá trình học tập và nghiên cứu tại đơn vị đào tạo; Luận án có nội dung sao chép, trích dẫn không đúng quy định và bị Hội đồng thẩm định kết luận nếu cắt bỏ những phần sao chép, trích dẫn đó thì luận án không đáp ứng yêu cầu quy định của Quy chế này; Luận án của nghiên cứu sinh không được thông qua theo quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này. Trong thời gian tối đa 60 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Đại học Quốc gia Hà Nội về kết quả kiểm tra, thẩm định cuối cùng hoặc ngày có kết quả cuộc họp đối thoại, đơn vị đào tạo có văn bản báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội về việc xử lý kết quả kiểm tra, thẩm định kèm theo minh chứng. Đơn vị đào tạo có từ 20% trở lên số hồ sơ quá trình đào tạo hoặc luận án không đạt yêu cầu kiểm tra/thẩm định trong năm sẽ bị dừng tuyển sinh ít nhất trong một năm kế tiếp; có từ 20% trở lên số luận án không đạt yêu cầu thẩm định trong hai năm liên tiếp sẽ bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ ít nhất trong một năm kế tiếp. Việc dừng các hoạt động này được thông báo công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo và của Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong thời gian bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ, việc tổ chức đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh của các đơn vị đào tạo thành viên do Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện như đối với các đơn vị đào tạo trực thuộc. Đơn vị đào tạo phải có giải pháp khắc phục và báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội kết quả thực hiện các giải pháp đó. Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định cho phép đơn vị đào tạo tiếp tục tuyển sinh, tổ chức Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Dựa trên Điều 31 của quy chế, trách nhiệm nộp đầy đủ hồ sơ/luận án theo yêu cầu kiểm tra, thẩm định thuộc về đơn vị đào tạo. Quy chế không quy định cụ thể về việc giảng viên cần trực tiếp chuẩn bị tài liệu gì khi hồ sơ của nghiên cứu sinh do mình hướng dẫn bị kiểm tra."
}
],
"id": "36037",
"is_impossible": false,
"question": "Giảng viên cần chuẩn bị gì nếu hồ sơ của nghiên cứu sinh do mình hướng dẫn bị kiểm tra?"
}
]
}
],
"title": "Giảng viên cần chuẩn bị gì nếu hồ sơ của nghiên cứu sinh do mình hướng dẫn bị kiểm tra?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 31. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án Vào ngày làm việc cuối cùng của các tháng chẵn trong năm, các đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội danh sách và thông tin trích ngang của các nghiên cứu sinh bảo vệ luận án trong 02 tháng trước đó. Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, lựa chọn kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án của nghiên cứu sinh. Việc kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án được thực hiện trong các trường hợp sau: Kiểm tra, thẩm định ngẫu nhiên theo yêu cầu của công tác quản lý, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chế này và những quy định có liên quan: Lựa chọn xác suất trong số hồ sơ, luận án đã bảo vệ theo báo cáo của đơn vị đào tạo; Kiểm tra, thẩm định đối với những hồ sơ, luận án cụ thể khi có phản ánh hoặc có đơn thư khiếu nại, tố cáo; Kiểm tra, thẩm định theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quy trình kiểm tra, thẩm định: Trong thời gian 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của đơn vị đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội rà soát và có văn bản thông báo cho đơn vị đào tạo danh sách các trường hợp cần kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo hoặc thẩm định chất lượng luận án; Đơn vị đào tạo có trách nhiệm nộp đầy đủ các hồ sơ/luận án theo yêu cầu kiểm tra, thẩm định của Đại học Quốc gia Hà Nội; Đại học Quốc gia Hà Nội tiến hành kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo trong thời gian tối đa 30 ngày làm việc và thẩm định chất lượng luận án trong thời gian tối đa 90 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ theo quy định tại điểm a, khoản 4 Điều này hoặc điểm a, khoản 5, Điều này; có văn bản thông báo kết quả kiểm tra, thẩm định cho đơn vị đào tạo. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo Danh mục hồ sơ kiểm tra Hồ sơ dự tuyển, thi tuyển, xét tuyển và quyết định công nhận nghiên cứu sinh; Hồ sơ thực hiện quy trình seminar, phản biện độc lập và bảo vệ luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Hồ sơ xét cấp bằng tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 01 bộ. Hồ sơ quá trình đào tạo đạt yêu cầu khi đảm bảo các quy định về tuyển sinh, tổ chức và quản lý đào tạo, quy trình tổ chức đánh giá luận án các cấp theo các quy định tại Quy chế này; Đối với những trường hợp hồ sơ kiểm tra quá trình đào tạo chưa đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo có trách nhiệm giải trình những vấn đề liên quan, bổ sung minh chứng và đề xuất hướng xử lý với Đại học Quốc gia Hà Nội theo quy định hiện hành. Thẩm định chất lượng luận án Hồ sơ thẩm định chất lượng luận án Luận án và tóm tắt luận án đã xoá thông tin về nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn và đơn vị đào tạo; Bản sao các công bố kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh đã xóa thông tin về nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 03 bộ. Chất lượng luận án được thẩm định bằng hình thức lấy ý kiến thẩm định độc lập của 03 nhà khoa học ở trong hoặc ngoài nước, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học hoặc tiến sĩ, đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu như các Phản biện trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định ở điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này, am hiểu đề tài và lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh, có chính kiến và bản lĩnh khoa học, khách quan, trung thực, không trong danh sách những người đã tham gia phản biện độc lập hoặc tham gia Hội đồng đánh giá luận án; Chất lượng luận án đạt yêu cầu thẩm định nếu có ít nhất 02 ý kiến thẩm định đồng ý về chuyên môn; Trường hợp chất lượng luận án không đạt yêu cầu, Đại học Quốc gia Hà Nội ra quyết định thành lập Hội đồng thẩm định luận án và ủy quyền thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức họp Hội đồng thẩm định luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội; đ) Hội đồng thẩm định luận án Hội đồng thẩm định luận án gồm 07 thành viên, trong đó có ít nhất 03 thành viên chưa tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án tại đơn vị chuyên môn, không là phản biện độc lập hoặc trong Hội đồng đánh giá luận án của luận án được thẩm định; những nhà khoa học thẩm định không tán thành luận án là thành viên đương nhiên của Hội đồng; Hội đồng thẩm định luận án có Chủ tịch, Thư ký và các Ủy viên; Tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng thẩm định luận án như tiêu chuẩn của các thành viên trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định tại điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này. Cán bộ hướng dẫn luận án không tham gia vào Hội đồng thẩm định luận án; Trước khi họp Hội đồng thẩm định, các thành viên Hội đồng có bản nhận xét về tính cấp thiết của đề tài luận án, sự phù hợp với ngành/ chuyên ngành; không trùng lặp về đề tài, nội dung, kết quả nghiên cứu với các công trình đã được công bố; tính trung thực, minh bạch trong trích dẫn tư liệu; bố cục và hình thức trình bày; nội dung, phương pháp, kết quả, ý nghĩa, độ tin cậy của các kết quả đạt được; những phát hiện, luận điểm mới của luận án; đánh giá thành công và hạn chế của luận án, khẳng định mức độ đáp ứng yêu cầu của một luận án; Hội đồng chỉ họp khi có mặt ít nhất 06 thành viên Hội đồng bao gồm Chủ tịch, Thư ký và các thành viên Hội đồng có ý kiến không tán thành của hai Hội đồng phải có mặt; Thủ trưởng đơn vị đào tạo trực tiếp điều hành cuộc họp, bầu thư ký. Thành viên của hai Hội đồng tranh luận về nội dung và chất lượng luận án, bỏ phiếu đánh giá lại luận án. Luận án không được thông qua nếu có từ 03 thành viên có mặt tại buổi đối thoại trở lên không tán thành (bỏ phiếu đánh giá ở mức “Không đạt”). Kết quả cuộc họp đối thoại là kết quả thẩm định cuối cùng về chất lượng luận án. Đối với luận án đạt yêu cầu thẩm định nhưng có ý kiến của người thẩm định hoặc của Hội đồng thẩm định yêu cầu phải sửa chữa, trong thời hạn tối đa 45 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo kết quả thẩm định, nghiên cứu sinh cùng với cán bộ hướng dẫn luận án xem xét chỉnh sửa chi tiết các nội dung luận án theo yêu cầu của người/ Hội đồng thẩm định, có bản hiệu đính ghi rõ những nội dung đã được chỉnh sửa (hoặc những nội dung bảo lưu ý kiến) và chỉ rõ số trang tương ứng báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo trực thuộc), thủ trưởng đơn vị đào tạo (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo thành viên) kèm theo luận án đã chỉnh sửa; đồng thời nộp lại bản luận án đã chỉnh sửa, hiệu đính kèm công văn của đơn vị đào tạo gửi cho các thư viện để thay thế cho bản luận án đã nộp lưu chiểu (với các trường hợp đã gửi luận án cho các thư viện). Trường hợp quá trình đào tạo và chất lượng luận án sau khi thực hiện quy định tại khoản 4 và khoản 5, Điều này vẫn không đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo xem xét, quyết định thực hiện theo các phương án sau: Nếu nghiên cứu sinh chưa được cấp bằng tiến sĩ, đơn vị đào tạo cho phép nghiên cứu sinh bổ sung, hoàn thiện các điều kiện để được cấp bằng trong thời gian đào tạo ghi tại quyết định công nhận nghiên cứu sinh và bao gồm cả thời gian được phép kéo dài (nếu có) (đối với trường hợp kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo); hoặc sửa đổi, bổ sung và đề nghị được đánh giá lại luận án theo quy định tại khoản 7, Điều 29 của Quy chế này nếu chưa đánh giá lần thứ hai trong thời hạn tối đa 06 tháng (đối với trường hợp thẩm định chất lượng luận án); Nếu nghiên cứu sinh đã được cấp bằng tiến sĩ, việc thu hồi bằng được thực hiện theo quy định hiện hành và trong những trường hợp: Hồ sơ quá trình đào tạo được xác nhận có vi phạm, sai sót nghiêm trọng dẫn đến người được cấp bằng không còn bảo đảm đáp ứng đủ điều kiện dự tuyển, công nhận nghiên cứu sinh và duy trì các điều kiện bảo đảm chất lượng trong quá trình học tập và nghiên cứu tại đơn vị đào tạo; Luận án có nội dung sao chép, trích dẫn không đúng quy định và bị Hội đồng thẩm định kết luận nếu cắt bỏ những phần sao chép, trích dẫn đó thì luận án không đáp ứng yêu cầu quy định của Quy chế này; Luận án của nghiên cứu sinh không được thông qua theo quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này. Trong thời gian tối đa 60 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Đại học Quốc gia Hà Nội về kết quả kiểm tra, thẩm định cuối cùng hoặc ngày có kết quả cuộc họp đối thoại, đơn vị đào tạo có văn bản báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội về việc xử lý kết quả kiểm tra, thẩm định kèm theo minh chứng. Đơn vị đào tạo có từ 20% trở lên số hồ sơ quá trình đào tạo hoặc luận án không đạt yêu cầu kiểm tra/thẩm định trong năm sẽ bị dừng tuyển sinh ít nhất trong một năm kế tiếp; có từ 20% trở lên số luận án không đạt yêu cầu thẩm định trong hai năm liên tiếp sẽ bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ ít nhất trong một năm kế tiếp. Việc dừng các hoạt động này được thông báo công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo và của Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong thời gian bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ, việc tổ chức đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh của các đơn vị đào tạo thành viên do Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện như đối với các đơn vị đào tạo trực thuộc. Đơn vị đào tạo phải có giải pháp khắc phục và báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội kết quả thực hiện các giải pháp đó. Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định cho phép đơn vị đào tạo tiếp tục tuyển sinh, tổ chức Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Thông tin trong tài liệu tham khảo được cung cấp không nêu rõ trách nhiệm cụ thể của giảng viên hướng dẫn trong trường hợp luận án không đạt yêu cầu sau thẩm định. Tài liệu chỉ đề cập đến việc nghiên cứu sinh cùng cán bộ hướng dẫn xem xét chỉnh sửa luận án nếu luận án đạt yêu cầu thẩm định nhưng có yêu cầu sửa chữa, trong thời hạn tối đa 45 ngày làm việc."
}
],
"id": "36038",
"is_impossible": false,
"question": "Nếu luận án không đạt yêu cầu sau thẩm định, giảng viên hướng dẫn có trách nhiệm gì?"
}
]
}
],
"title": "Nếu luận án không đạt yêu cầu sau thẩm định, giảng viên hướng dẫn có trách nhiệm gì?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 31. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án Vào ngày làm việc cuối cùng của các tháng chẵn trong năm, các đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội danh sách và thông tin trích ngang của các nghiên cứu sinh bảo vệ luận án trong 02 tháng trước đó. Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, lựa chọn kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án của nghiên cứu sinh. Việc kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án được thực hiện trong các trường hợp sau: Kiểm tra, thẩm định ngẫu nhiên theo yêu cầu của công tác quản lý, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chế này và những quy định có liên quan: Lựa chọn xác suất trong số hồ sơ, luận án đã bảo vệ theo báo cáo của đơn vị đào tạo; Kiểm tra, thẩm định đối với những hồ sơ, luận án cụ thể khi có phản ánh hoặc có đơn thư khiếu nại, tố cáo; Kiểm tra, thẩm định theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quy trình kiểm tra, thẩm định: Trong thời gian 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của đơn vị đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội rà soát và có văn bản thông báo cho đơn vị đào tạo danh sách các trường hợp cần kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo hoặc thẩm định chất lượng luận án; Đơn vị đào tạo có trách nhiệm nộp đầy đủ các hồ sơ/luận án theo yêu cầu kiểm tra, thẩm định của Đại học Quốc gia Hà Nội; Đại học Quốc gia Hà Nội tiến hành kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo trong thời gian tối đa 30 ngày làm việc và thẩm định chất lượng luận án trong thời gian tối đa 90 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ theo quy định tại điểm a, khoản 4 Điều này hoặc điểm a, khoản 5, Điều này; có văn bản thông báo kết quả kiểm tra, thẩm định cho đơn vị đào tạo. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo Danh mục hồ sơ kiểm tra Hồ sơ dự tuyển, thi tuyển, xét tuyển và quyết định công nhận nghiên cứu sinh; Hồ sơ thực hiện quy trình seminar, phản biện độc lập và bảo vệ luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Hồ sơ xét cấp bằng tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 01 bộ. Hồ sơ quá trình đào tạo đạt yêu cầu khi đảm bảo các quy định về tuyển sinh, tổ chức và quản lý đào tạo, quy trình tổ chức đánh giá luận án các cấp theo các quy định tại Quy chế này; Đối với những trường hợp hồ sơ kiểm tra quá trình đào tạo chưa đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo có trách nhiệm giải trình những vấn đề liên quan, bổ sung minh chứng và đề xuất hướng xử lý với Đại học Quốc gia Hà Nội theo quy định hiện hành. Thẩm định chất lượng luận án Hồ sơ thẩm định chất lượng luận án Luận án và tóm tắt luận án đã xoá thông tin về nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn và đơn vị đào tạo; Bản sao các công bố kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh đã xóa thông tin về nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 03 bộ. Chất lượng luận án được thẩm định bằng hình thức lấy ý kiến thẩm định độc lập của 03 nhà khoa học ở trong hoặc ngoài nước, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học hoặc tiến sĩ, đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu như các Phản biện trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định ở điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này, am hiểu đề tài và lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh, có chính kiến và bản lĩnh khoa học, khách quan, trung thực, không trong danh sách những người đã tham gia phản biện độc lập hoặc tham gia Hội đồng đánh giá luận án; Chất lượng luận án đạt yêu cầu thẩm định nếu có ít nhất 02 ý kiến thẩm định đồng ý về chuyên môn; Trường hợp chất lượng luận án không đạt yêu cầu, Đại học Quốc gia Hà Nội ra quyết định thành lập Hội đồng thẩm định luận án và ủy quyền thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức họp Hội đồng thẩm định luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội; đ) Hội đồng thẩm định luận án Hội đồng thẩm định luận án gồm 07 thành viên, trong đó có ít nhất 03 thành viên chưa tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án tại đơn vị chuyên môn, không là phản biện độc lập hoặc trong Hội đồng đánh giá luận án của luận án được thẩm định; những nhà khoa học thẩm định không tán thành luận án là thành viên đương nhiên của Hội đồng; Hội đồng thẩm định luận án có Chủ tịch, Thư ký và các Ủy viên; Tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng thẩm định luận án như tiêu chuẩn của các thành viên trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định tại điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này. Cán bộ hướng dẫn luận án không tham gia vào Hội đồng thẩm định luận án; Trước khi họp Hội đồng thẩm định, các thành viên Hội đồng có bản nhận xét về tính cấp thiết của đề tài luận án, sự phù hợp với ngành/ chuyên ngành; không trùng lặp về đề tài, nội dung, kết quả nghiên cứu với các công trình đã được công bố; tính trung thực, minh bạch trong trích dẫn tư liệu; bố cục và hình thức trình bày; nội dung, phương pháp, kết quả, ý nghĩa, độ tin cậy của các kết quả đạt được; những phát hiện, luận điểm mới của luận án; đánh giá thành công và hạn chế của luận án, khẳng định mức độ đáp ứng yêu cầu của một luận án; Hội đồng chỉ họp khi có mặt ít nhất 06 thành viên Hội đồng bao gồm Chủ tịch, Thư ký và các thành viên Hội đồng có ý kiến không tán thành luận án (nếu có). Hội đồng thẩm định luận án có trách nhiệm xem xét, đánh giá chất lượng luận án; làm rõ những nội dung đơn thư khiếu nại, tố cáo; nội dung nhận xét, kết luận của những người thẩm định độc lập luận án. Hội đồng phải có biên bản ghi chi tiết các ý kiến thảo luận, trao đổi, kết luận và quyết nghị về chất lượng luận án; Luận án không đạt yêu cầu thẩm định khi có từ 02 thành viên Hội đồng có mặt trở lên không tán thành, bỏ phiếu đánh giá luận án ở mức “Không đạt”. Trường hợp luận án không đạt yêu cầu của Hội đồng thẩm định Thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức cuộc họp đối thoại giữa Hội đồng thẩm định luận án với Hội đồng đánh giá luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội. Số lượng thành viên của hai Hội đồng dự họp ít nhất là 12 người, trong đó Chủ tịch, Phản biện, Thư ký và các thành viên có ý kiến không tán thành của hai Hội đồng phải có mặt; Thủ trưởng đơn vị đào tạo trực tiếp điều hành cuộc họp, bầu thư ký. Thành viên của hai Hội đồng tranh luận về nội dung và chất lượng luận án, bỏ phiếu đánh giá lại luận án. Luận án không được thông qua nếu có từ 03 thành viên có mặt tại buổi đối thoại trở lên không tán thành (bỏ phiếu đánh giá ở mức “Không đạt”). Kết quả cuộc họp đối thoại là kết quả thẩm định cuối cùng về chất lượng luận án. Đối với luận án đạt yêu cầu thẩm định nhưng có ý kiến của người thẩm định hoặc của Hội đồng thẩm định yêu cầu phải sửa chữa, trong thời hạn tối đa 45 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo kết quả thẩm định, nghiên cứu sinh cùng với cán bộ hướng dẫn luận án xem xét chỉnh sửa chi tiết các nội dung luận án theo yêu cầu của người/ Hội đồng thẩm định, có bản hiệu đính ghi rõ những nội dung đã được chỉnh sửa (hoặc những nội dung bảo lưu ý kiến) và chỉ rõ số trang tương ứng báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo trực thuộc), thủ trưởng đơn vị đào tạo (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo thành viên) kèm theo luận án đã chỉnh sửa; đồng thời nộp lại bản luận án đã chỉnh sửa, hiệu đính kèm công văn của đơn vị đào tạo gửi cho các thư viện để thay thế cho bản luận án đã nộp lưu chiểu (với các trường hợp đã gửi luận án cho các thư viện). Trường hợp quá trình đào tạo và chất lượng luận án sau khi thực hiện quy định tại khoản 4 và khoản 5, Điều này vẫn không đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo xem xét, quyết định thực hiện theo các phương án sau: Nếu nghiên cứu sinh chưa được cấp bằng tiến sĩ, đơn vị đào tạo cho phép nghiên cứu sinh bổ sung, hoàn thiện các điều kiện để được cấp bằng trong thời gian đào tạo ghi tại quyết định công nhận nghiên cứu sinh và bao gồm cả thời gian được phép kéo dài (nếu có) (đối với trường hợp kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo); hoặc sửa đổi, bổ sung và đề nghị được đánh giá lại luận án theo quy định tại khoản 7, Điều 29 của Quy chế này nếu chưa đánh giá lần thứ hai trong thời hạn tối đa 06 tháng (đối với trường hợp thẩm định chất lượng luận án); Nếu nghiên cứu sinh đã được cấp bằng tiến sĩ, việc thu hồi bằng được thực hiện theo quy định hiện hành và trong những trường hợp: Hồ sơ quá trình đào tạo được xác nhận có vi phạm, sai sót nghiêm trọng dẫn đến người được cấp bằng không còn bảo đảm đáp ứng đủ điều kiện dự tuyển, công nhận nghiên cứu sinh và duy trì các điều kiện bảo đảm chất lượng trong quá trình học tập và nghiên cứu tại đơn vị đào tạo; Luận án có nội dung sao chép, trích dẫn không đúng quy định và bị Hội đồng thẩm định kết luận nếu cắt bỏ những phần sao chép, trích dẫn đó thì luận án không đáp ứng yêu cầu quy định của Quy chế này; Luận án của nghiên cứu sinh không được thông qua theo quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này. Trong thời gian tối đa 60 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Đại học Quốc gia Hà Nội về kết quả kiểm tra, thẩm định cuối cùng hoặc ngày có kết quả cuộc họp đối thoại, đơn vị đào tạo có văn bản báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội về việc xử lý kết quả kiểm tra, thẩm định kèm theo minh chứng. Đơn vị đào tạo có từ 20% trở lên số hồ sơ quá trình đào tạo hoặc luận án không đạt yêu cầu kiểm tra/thẩm định trong năm sẽ bị dừng tuyển sinh ít nhất trong một năm kế tiếp; có từ 20% trở lên số luận án không đạt yêu cầu thẩm định trong hai năm liên tiếp sẽ bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ ít nhất trong một năm kế tiếp. Việc dừng các hoạt động này được thông báo công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo và của Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong thời gian bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ, việc tổ chức đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh của các đơn vị đào tạo thành viên do Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện như đối với các đơn vị đào tạo trực thuộc. Đơn vị đào tạo phải có giải pháp khắc phục và báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội kết quả thực hiện các giải pháp đó. Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định cho phép đơn vị đào tạo tiếp tục tuyển sinh, tổ chức Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Có. Giảng viên có thể bị ảnh hưởng nếu luận án của nghiên cứu sinh không đạt yêu cầu thẩm định. Theo Điều 31, nếu đơn vị đào tạo có từ 20% trở lên số luận án không đạt yêu cầu thẩm định trong hai năm liên tiếp, đơn vị đó sẽ bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ ít nhất trong một năm kế tiếp. Việc này sẽ gián tiếp ảnh hưởng đến khả năng hướng dẫn nghiên cứu sinh mới hoặc tổ chức bảo vệ luận án cho nghiên cứu sinh hiện tại của giảng viên."
}
],
"id": "36039",
"is_impossible": false,
"question": "Giảng viên có thể bị ảnh hưởng nếu nghiên cứu sinh không đạt thẩm định chất lượng luận án không?"
}
]
}
],
"title": "Giảng viên có thể bị ảnh hưởng nếu nghiên cứu sinh không đạt thẩm định chất lượng luận án không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 31. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án Vào ngày làm việc cuối cùng của các tháng chẵn trong năm, các đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội danh sách và thông tin trích ngang của các nghiên cứu sinh bảo vệ luận án trong 02 tháng trước đó. Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, lựa chọn kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án của nghiên cứu sinh. Việc kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án được thực hiện trong các trường hợp sau: Kiểm tra, thẩm định ngẫu nhiên theo yêu cầu của công tác quản lý, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chế này và những quy định có liên quan: Lựa chọn xác suất trong số hồ sơ, luận án đã bảo vệ theo báo cáo của đơn vị đào tạo; Kiểm tra, thẩm định đối với những hồ sơ, luận án cụ thể khi có phản ánh hoặc có đơn thư khiếu nại, tố cáo; Kiểm tra, thẩm định theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quy trình kiểm tra, thẩm định: Trong thời gian 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của đơn vị đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội rà soát và có văn bản thông báo cho đơn vị đào tạo danh sách các trường hợp cần kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo hoặc thẩm định chất lượng luận án; Đơn vị đào tạo có trách nhiệm nộp đầy đủ các hồ sơ/luận án theo yêu cầu kiểm tra, thẩm định của Đại học Quốc gia Hà Nội; Đại học Quốc gia Hà Nội tiến hành kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo trong thời gian tối đa 30 ngày làm việc và thẩm định chất lượng luận án trong thời gian tối đa 90 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ theo quy định tại điểm a, khoản 4 Điều này hoặc điểm a, khoản 5, Điều này; có văn bản thông báo kết quả kiểm tra, thẩm định cho đơn vị đào tạo. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo Danh mục hồ sơ kiểm tra Hồ sơ dự tuyển, thi tuyển, xét tuyển và quyết định công nhận nghiên cứu sinh; Hồ sơ thực hiện quy trình seminar, phản biện độc lập và bảo vệ luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Hồ sơ xét cấp bằng tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 01 bộ. Hồ sơ quá trình đào tạo đạt yêu cầu khi đảm bảo các quy định về tuyển sinh, tổ chức và quản lý đào tạo, quy trình tổ chức đánh giá luận án các cấp theo các quy định tại Quy chế này; Đối với những trường hợp hồ sơ kiểm tra quá trình đào tạo chưa đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo có trách nhiệm giải trình những vấn đề liên quan, bổ sung minh chứng và đề xuất hướng xử lý với Đại học Quốc gia Hà Nội theo quy định hiện hành. Thẩm định chất lượng luận án Hồ sơ thẩm định chất lượng luận án Luận án và tóm tắt luận án đã xoá thông tin về nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn và đơn vị đào tạo; Bản sao các công bố kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh đã xóa thông tin về nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 03 bộ. Chất lượng luận án được thẩm định bằng hình thức lấy ý kiến thẩm định độc lập của 03 nhà khoa học ở trong hoặc ngoài nước, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học hoặc tiến sĩ, đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu như các Phản biện trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định ở điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này, am hiểu đề tài và lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh, có chính kiến và bản lĩnh khoa học, khách quan, trung thực, không trong danh sách những người đã tham gia phản biện độc lập hoặc tham gia Hội đồng đánh giá luận án; Chất lượng luận án đạt yêu cầu thẩm định nếu có ít nhất 02 ý kiến thẩm định đồng ý về chuyên môn; Trường hợp chất lượng luận án không đạt yêu cầu, Đại học Quốc gia Hà Nội ra quyết định thành lập Hội đồng thẩm định luận án và ủy quyền thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức họp Hội đồng thẩm định luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội; đ) Hội đồng thẩm định luận án Hội đồng thẩm định luận án gồm 07 thành viên, trong đó có ít nhất 03 thành viên chưa tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án tại đơn vị chuyên môn, không là phản biện độc lập hoặc trong Hội đồng đánh giá luận án của luận án được thẩm định; những nhà khoa học thẩm định không tán thành luận án là thành viên đương nhiên của Hội đồng; Hội đồng thẩm định luận án có Chủ tịch, Thư ký và các Ủy viên; Tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng thẩm định luận án như tiêu chuẩn của các thành viên trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định tại điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này. Cán bộ hướng dẫn luận án không tham gia vào Hội đồng thẩm định luận án; Trước khi họp Hội đồng thẩm định, các thành viên Hội đồng có bản nhận xét về tính cấp thiết của đề tài luận án, sự phù hợp với ngành/ chuyên ngành; không trùng lặp về đề tài, nội dung, kết quả nghiên cứu với các công trình đã được công bố; tính trung thực, minh bạch trong trích dẫn tư liệu; bố cục và hình thức trình bày; nội dung, phương pháp, kết quả, ý nghĩa, độ tin cậy của các kết quả đạt được; những phát hiện, luận điểm mới của luận án; đánh giá thành công và hạn chế của luận án, khẳng định mức độ đáp ứng yêu cầu của một luận án; Hội đồng chỉ họp khi có mặt ít nhất 06 thành viên Hội đồng bao gồm Chủ tịch, Thư ký và các thành viên Hội đồng có ý kiến không tán thành luận án (nếu có). Hội đồng thẩm định luận án có trách nhiệm xem xét, đánh giá chất lượng luận án; làm rõ những nội dung đơn thư khiếu nại, tố cáo; nội dung nhận xét, kết luận của những người thẩm định độc lập luận án. Luận án không đạt yêu cầu thẩm định khi có từ 02 thành viên Hội đồng có mặt trở lên không tán thành, bỏ phiếu đánh giá luận án ở mức “Không đạt”. Trường hợp luận án không đạt yêu cầu của Hội đồng thẩm định Thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức cuộc họp đối thoại giữa Hội đồng thẩm định luận án với Hội đồng đánh giá luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội. Số lượng thành viên của hai Hội đồng dự họp ít nhất là 12 người, trong đó Chủ tịch, Phản biện, Thư ký và các thành viên có ý kiến không tán thành của hai Hội đồng phải có mặt; Thủ trưởng đơn vị đào tạo trực tiếp điều hành cuộc họp, bầu thư ký. Thành viên của hai Hội đồng tranh luận về nội dung và chất lượng luận án, bỏ phiếu đánh giá lại luận án. Luận án không được thông qua nếu có từ 03 thành viên có mặt tại buổi đối thoại trở lên không tán thành (bỏ phiếu đánh giá ở mức “Không đạt”). Kết quả cuộc họp đối thoại là kết quả thẩm định cuối cùng về chất lượng luận án. Đối với luận án đạt yêu cầu thẩm định nhưng có ý kiến của người thẩm định hoặc của Hội đồng thẩm định yêu cầu phải sửa chữa, trong thời hạn tối đa 45 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo kết quả thẩm định, nghiên cứu sinh cùng với cán bộ hướng dẫn luận án xem xét chỉnh sửa chi tiết các nội dung luận án theo yêu cầu của người/ Hội đồng thẩm định, có bản hiệu đính ghi rõ những nội dung đã được chỉnh sửa (hoặc những nội dung bảo lưu ý kiến) và chỉ rõ số trang tương ứng báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo trực thuộc), thủ trưởng đơn vị đào tạo (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo thành viên) kèm theo luận án đã chỉnh sửa; đồng thời nộp lại bản luận án đã chỉnh sửa, hiệu đính kèm công văn của đơn vị đào tạo gửi cho các thư viện để thay thế cho bản luận án đã nộp lưu chiểu (với các trường hợp đã gửi luận án cho các thư viện). Trường hợp quá trình đào tạo và chất lượng luận án sau khi thực hiện quy định tại khoản 4 và khoản 5, Điều này vẫn không đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo xem xét, quyết định thực hiện theo các phương án sau: Nếu nghiên cứu sinh chưa được cấp bằng tiến sĩ, đơn vị đào tạo cho phép nghiên cứu sinh bổ sung, hoàn thiện các điều kiện để được cấp bằng trong thời gian đào tạo ghi tại quyết định công nhận nghiên cứu sinh và bao gồm cả thời gian được phép kéo dài (nếu có) (đối với trường hợp kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo); hoặc sửa đổi, bổ sung và đề nghị được đánh giá lại luận án theo quy định tại khoản 7, Điều 29 của Quy chế này nếu chưa đánh giá lần thứ hai trong thời hạn tối đa 06 tháng (đối với trường hợp thẩm định chất lượng luận án); Nếu nghiên cứu sinh đã được cấp bằng tiến sĩ, việc thu hồi bằng được thực hiện theo quy định hiện hành và trong những trường hợp: Hồ sơ quá trình đào tạo được xác nhận có vi phạm, sai sót nghiêm trọng dẫn đến người được cấp bằng không còn bảo đảm đáp ứng đủ điều kiện dự tuyển, công nhận nghiên cứu sinh và duy trì các điều kiện bảo đảm chất lượng trong quá trình học tập và nghiên cứu tại đơn vị đào tạo; Luận án có nội dung sao chép, trích dẫn không đúng quy định và bị Hội đồng thẩm định kết luận nếu cắt bỏ những phần sao chép, trích dẫn đó thì luận án không đáp ứng yêu cầu quy định của Quy chế này; Luận án của nghiên cứu sinh không được thông qua theo quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này. Trong thời gian tối đa 60 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Đại học Quốc gia Hà Nội về kết quả kiểm tra, thẩm định cuối cùng hoặc ngày có kết quả cuộc họp đối thoại, đơn vị đào tạo có văn bản báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội về việc xử lý kết quả kiểm tra, thẩm định kèm theo minh chứng. Đơn vị đào tạo có từ 20% trở lên số hồ sơ quá trình đào tạo hoặc luận án không đạt yêu cầu kiểm tra/thẩm định trong năm sẽ bị dừng tuyển sinh ít nhất trong một năm kế tiếp; có từ 20% trở lên số luận án không đạt yêu cầu thẩm định trong hai năm liên tiếp sẽ bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ ít nhất trong một năm kế tiếp. Việc dừng các hoạt động này được thông báo công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo và của Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong thời gian bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ, việc tổ chức đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh của các đơn vị đào tạo thành viên do Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện như đối với các đơn vị đào tạo trực thuộc. Đơn vị đào tạo phải có giải pháp khắc phục và báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội kết quả thực hiện các giải pháp đó. Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định cho phép đơn vị đào tạo tiếp tục tuyển sinh, tổ chức Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Việc thẩm định chất lượng luận án được thực hiện bằng hình thức lấy ý kiến thẩm định độc lập của 03 nhà khoa học. Các nhà khoa học này (bao gồm nghiên cứu viên) có thể tham gia nếu đáp ứng các tiêu chuẩn về chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư, học vị tiến sĩ khoa học hoặc tiến sĩ, am hiểu đề tài và lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh, có chính kiến khoa học, và không có mối quan hệ trực tiếp với nghiên cứu sinh hoặc giảng viên hướng dẫn. Vì vậy, nghiên cứu viên không có trách nhiệm chung phải tham gia thẩm định, mà sẽ tham gia nếu được mời và đáp ứng đủ các tiêu chí theo quy định."
}
],
"id": "36040",
"is_impossible": false,
"question": "Nghiên cứu viên có trách nhiệm tham gia vào việc thẩm định chất lượng luận án không?"
}
]
}
],
"title": "Nghiên cứu viên có trách nhiệm tham gia vào việc thẩm định chất lượng luận án không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 31. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án Vào ngày làm việc cuối cùng của các tháng chẵn trong năm, các đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội danh sách và thông tin trích ngang của các nghiên cứu sinh bảo vệ luận án trong 02 tháng trước đó. Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, lựa chọn kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án của nghiên cứu sinh. Việc kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án được thực hiện trong các trường hợp sau: Kiểm tra, thẩm định ngẫu nhiên theo yêu cầu của công tác quản lý, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chế này và những quy định có liên quan: Lựa chọn xác suất trong số hồ sơ, luận án đã bảo vệ theo báo cáo của đơn vị đào tạo; Kiểm tra, thẩm định đối với những hồ sơ, luận án cụ thể khi có phản ánh hoặc có đơn thư khiếu nại, tố cáo; Kiểm tra, thẩm định theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quy trình kiểm tra, thẩm định: Trong thời gian 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của đơn vị đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội rà soát và có văn bản thông báo cho đơn vị đào tạo danh sách các trường hợp cần kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo hoặc thẩm định chất lượng luận án; Đơn vị đào tạo có trách nhiệm nộp đầy đủ các hồ sơ/luận án theo yêu cầu kiểm tra, thẩm định của Đại học Quốc gia Hà Nội; Đại học Quốc gia Hà Nội tiến hành kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo trong thời gian tối đa 30 ngày làm việc và thẩm định chất lượng luận án trong thời gian tối đa 90 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ theo quy định tại điểm a, khoản 4 Điều này hoặc điểm a, khoản 5, Điều này; có văn bản thông báo kết quả kiểm tra, thẩm định cho đơn vị đào tạo. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo Danh mục hồ sơ kiểm tra Hồ sơ dự tuyển, thi tuyển, xét tuyển và quyết định công nhận nghiên cứu sinh; Hồ sơ thực hiện quy trình seminar, phản biện độc lập và bảo vệ luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Hồ sơ xét cấp bằng tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 01 bộ. Hồ sơ quá trình đào tạo đạt yêu cầu khi đảm bảo các quy định về tuyển sinh, tổ chức và quản lý đào tạo, quy trình tổ chức đánh giá luận án các cấp theo các quy định tại Quy chế này; Đối với những trường hợp hồ sơ kiểm tra quá trình đào tạo chưa đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo có trách nhiệm giải trình những vấn đề liên quan, bổ sung minh chứng và đề xuất hướng xử lý với Đại học Quốc gia Hà Nội theo quy định hiện hành. Thẩm định chất lượng luận án Hồ sơ thẩm định chất lượng luận án Luận án và tóm tắt luận án đã xoá thông tin về nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn và đơn vị đào tạo; Bản sao các công bố kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh đã xóa thông tin về nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 03 bộ. Chất lượng luận án được thẩm định bằng hình thức lấy ý kiến thẩm định độc lập của 03 nhà khoa học ở trong hoặc ngoài nước, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học hoặc tiến sĩ, đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu như các Phản biện trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định ở điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này, am hiểu đề tài và lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh, có chính kiến và bản lĩnh khoa học, khách quan, trung thực, không trong danh sách những người đã tham gia phản biện độc lập hoặc tham gia Hội đồng đánh giá luận án; Chất lượng luận án đạt yêu cầu thẩm định nếu có ít nhất 02 ý kiến thẩm định đồng ý về chuyên môn; Trường hợp chất lượng luận án không đạt yêu cầu, Đại học Quốc gia Hà Nội ra quyết định thành lập Hội đồng thẩm định luận án và ủy quyền thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức họp Hội đồng thẩm định luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội; đ) Hội đồng thẩm định luận án Hội đồng thẩm định luận án gồm 07 thành viên, trong đó có ít nhất 03 thành viên chưa tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án tại đơn vị chuyên môn, không là phản biện độc lập hoặc trong Hội đồng đánh giá luận án của luận án được thẩm định; những nhà khoa học thẩm định không tán thành luận án là thành viên đương nhiên của Hội đồng; Hội đồng thẩm định luận án có Chủ tịch, Thư ký và các Ủy viên; Tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng thẩm định luận án như tiêu chuẩn của các thành viên trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định tại điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này. Cán bộ hướng dẫn luận án không tham gia vào Hội đồng thẩm định luận án; Trước khi họp Hội đồng thẩm định, các thành viên Hội đồng có bản nhận xét về tính cấp thiết của đề tài luận án, sự phù hợp với ngành/ chuyên ngành; không trùng lặp về đề tài, nội dung, kết quả nghiên cứu với các công trình đã được công bố; tính trung thực, minh bạch trong trích dẫn tư liệu; bố cục và hình thức trình bày; nội dung, phương pháp, kết quả, ý nghĩa, độ tin cậy của các kết quả đạt được; những phát hiện, luận điểm mới của luận án; đánh giá thành công và hạn chế của luận án, khẳng định mức độ đáp ứng yêu cầu của một luận án; Hội đồng chỉ họp khi có mặt ít nhất 06 thành viên Hội đồng bao gồm Chủ tịch, Thư ký và các thành viên Hội đồng có ý kiến không tán thành luận án (nếu có). Hội đồng thẩm định luận án có trách nhiệm xem xét, đánh giá chất lượng luận án; làm rõ những nội dung đơn thư khiếu nại, tố cáo; nội dung nhận xét, kết luận của những người thẩm định độc lập luận án. Hội đồng phải có biên bản ghi chi tiết các ý kiến thảo luận, trao đổi, kết luận và quyết nghị về chất lượng luận án; Luận án không đạt yêu cầu thẩm định khi có từ 02 thành viên Hội đồng có mặt trở lên không tán thành, bỏ phiếu đánh giá luận án ở mức “Không đạt”. Trường hợp luận án không đạt yêu cầu của Hội đồng thẩm định Thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức cuộc họp đối thoại giữa Hội đồng thẩm định luận án với Hội đồng đánh giá luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội. Số lượng thành viên của hai Hội đồng dự họp ít nhất là 12 người, trong đó Chủ tịch, Phản biện, Thư ký và các thành viên có ý kiến không tán thành của hai Hội đồng phải có mặt; Thủ trưởng đơn vị đào tạo trực tiếp điều hành cuộc họp, bầu thư ký. Thành viên của hai Hội đồng tranh luận về nội dung và chất lượng luận án, bỏ phiếu đánh giá lại luận án. Luận án không được thông qua nếu có từ 03 thành viên có mặt tại buổi đối thoại trở lên không tán thành (bỏ phiếu đánh giá ở mức “Không đạt”). Kết quả cuộc họp đối thoại là kết quả thẩm định cuối cùng về chất lượng luận án. Đối với luận án đạt yêu cầu thẩm định nhưng có ý kiến của người thẩm định hoặc của Hội đồng thẩm định yêu cầu phải sửa chữa, trong thời hạn tối đa 45 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo kết quả thẩm định, nghiên cứu sinh cùng với cán bộ hướng dẫn luận án xem xét chỉnh sửa chi tiết các nội dung luận án theo yêu cầu của người/ Hội đồng thẩm định, có bản hiệu đính ghi rõ những nội dung đã được chỉnh sửa (hoặc những nội dung bảo lưu ý kiến) và chỉ rõ số trang tương ứng báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo trực thuộc), thủ trưởng đơn vị đào tạo (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo thành viên) kèm theo luận án đã chỉnh sửa; đồng thời nộp lại bản luận án đã chỉnh sửa, hiệu đính kèm công văn của đơn vị đào tạo gửi cho các thư viện để thay thế cho bản luận án đã nộp lưu chiểu (với các trường hợp đã gửi luận án cho các thư viện). Trường hợp quá trình đào tạo và chất lượng luận án sau khi thực hiện quy định tại khoản 4 và khoản 5, Điều này vẫn không đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo xem xét, quyết định thực hiện theo các phương án sau: Nếu nghiên cứu sinh chưa được cấp bằng tiến sĩ, đơn vị đào tạo cho phép nghiên cứu sinh bổ sung, hoàn thiện các điều kiện để được cấp bằng trong thời gian đào tạo ghi tại quyết định công nhận nghiên cứu sinh và bao gồm cả thời gian được phép kéo dài (nếu có) (đối với trường hợp kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo); hoặc sửa đổi, bổ sung và đề nghị được đánh giá lại luận án theo quy định tại khoản 7, Điều 29 của Quy chế này nếu chưa đánh giá lần thứ hai trong thời hạn tối đa 06 tháng (đối với trường hợp thẩm định chất lượng luận án); Nếu nghiên cứu sinh đã được cấp bằng tiến sĩ, việc thu hồi bằng được thực hiện theo quy định hiện hành và trong những trường hợp: Hồ sơ quá trình đào tạo được xác nhận có vi phạm, sai sót nghiêm trọng dẫn đến người được cấp bằng không còn bảo đảm đáp ứng đủ điều kiện dự tuyển, công nhận nghiên cứu sinh và duy trì các điều kiện bảo đảm chất lượng trong quá trình học tập và nghiên cứu tại đơn vị đào tạo; Luận án có nội dung sao chép, trích dẫn không đúng quy định và bị Hội đồng thẩm định kết luận nếu cắt bỏ những phần sao chép, trích dẫn đó thì luận án không đáp ứng yêu cầu quy định của Quy chế này; Luận án của nghiên cứu sinh không được thông qua theo quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này. Trong thời gian tối đa 60 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Đại học Quốc gia Hà Nội về kết quả kiểm tra, thẩm định cuối cùng hoặc ngày có kết quả cuộc họp đối thoại, đơn vị đào tạo có văn bản báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội về việc xử lý kết quả kiểm tra, thẩm định kèm theo minh chứng. Đơn vị đào tạo có từ 20% trở lên số hồ sơ quá trình đào tạo hoặc luận án không đạt yêu cầu kiểm tra/thẩm định trong năm sẽ bị dừng tuyển sinh ít nhất trong một năm kế tiếp; có từ 20% trở lên số luận án không đạt yêu cầu thẩm định trong hai năm liên tiếp sẽ bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ ít nhất trong một năm kế tiếp. Việc dừng các hoạt động này được thông báo công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo và của Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong thời gian bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ, việc tổ chức đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh của các đơn vị đào tạo thành viên do Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện như đối với các đơn vị đào tạo trực thuộc. Đơn vị đào tạo phải có giải pháp khắc phục và báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội kết quả thực hiện các giải pháp đó. Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định cho phép đơn vị đào tạo tiếp tục tuyển sinh, tổ chức Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Khi được mời thẩm định chất lượng luận án, nghiên cứu viên cần chuẩn bị một bản nhận xét đánh giá các khía cạnh sau: tính cấp thiết của đề tài luận án, sự phù hợp của luận án với ngành/chuyên ngành, việc không trùng lặp về đề tài, nội dung và kết quả nghiên cứu với các công trình đã công bố, tính trung thực và minh bạch trong trích dẫn tư liệu, bố cục và hình thức trình bày, nội dung, phương pháp, kết quả, ý nghĩa, độ tin cậy của các kết quả đạt được, những phát hiện và luận điểm mới của luận án, cùng với việc đánh giá thành công, hạn chế và mức độ đáp ứng yêu cầu của một luận án."
}
],
"id": "36041",
"is_impossible": false,
"question": "Nghiên cứu viên cần chuẩn bị gì khi được mời thẩm định chất lượng luận án?"
}
]
}
],
"title": "Nghiên cứu viên cần chuẩn bị gì khi được mời thẩm định chất lượng luận án?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 31. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án Vào ngày làm việc cuối cùng của các tháng chẵn trong năm, các đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội danh sách và thông tin trích ngang của các nghiên cứu sinh bảo vệ luận án trong 02 tháng trước đó. Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, lựa chọn kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án của nghiên cứu sinh. Việc kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án được thực hiện trong các trường hợp sau: Kiểm tra, thẩm định ngẫu nhiên theo yêu cầu của công tác quản lý, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chế này và những quy định có liên quan: Lựa chọn xác suất trong số hồ sơ, luận án đã bảo vệ theo báo cáo của đơn vị đào tạo; Kiểm tra, thẩm định đối với những hồ sơ, luận án cụ thể khi có phản ánh hoặc có đơn thư khiếu nại, tố cáo; Kiểm tra, thẩm định theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quy trình kiểm tra, thẩm định: Trong thời gian 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của đơn vị đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội rà soát và có văn bản thông báo cho đơn vị đào tạo danh sách các trường hợp cần kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo hoặc thẩm định chất lượng luận án; Đơn vị đào tạo có trách nhiệm nộp đầy đủ các hồ sơ/luận án theo yêu cầu kiểm tra, thẩm định của Đại học Quốc gia Hà Nội; Đại học Quốc gia Hà Nội tiến hành kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo trong thời gian tối đa 30 ngày làm việc và thẩm định chất lượng luận án trong thời gian tối đa 90 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ theo quy định tại điểm a, khoản 4 Điều này hoặc điểm a, khoản 5, Điều này; có văn bản thông báo kết quả kiểm tra, thẩm định cho đơn vị đào tạo. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo Danh mục hồ sơ kiểm tra Hồ sơ dự tuyển, thi tuyển, xét tuyển và quyết định công nhận nghiên cứu sinh; Hồ sơ thực hiện quy trình seminar, phản biện độc lập và bảo vệ luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Hồ sơ xét cấp bằng tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 01 bộ. Hồ sơ quá trình đào tạo đạt yêu cầu khi đảm bảo các quy định về tuyển sinh, tổ chức và quản lý đào tạo, quy trình tổ chức đánh giá luận án các cấp theo các quy định tại Quy chế này; Đối với những trường hợp hồ sơ kiểm tra quá trình đào tạo chưa đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo có trách nhiệm giải trình những vấn đề liên quan, bổ sung minh chứng và đề xuất hướng xử lý với Đại học Quốc gia Hà Nội theo quy định hiện hành. Thẩm định chất lượng luận án Hồ sơ thẩm định chất lượng luận án Luận án và tóm tắt luận án đã xoá thông tin về nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn và đơn vị đào tạo; Bản sao các công bố kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh đã xóa thông tin về nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 03 bộ. Chất lượng luận án được thẩm định bằng hình thức lấy ý kiến thẩm định độc lập của 03 nhà khoa học ở trong hoặc ngoài nước, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học hoặc tiến sĩ, đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu như các Phản biện trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định ở điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này, am hiểu đề tài và lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh, có chính kiến và bản lĩnh khoa học, khách quan, trung thực, không trong danh sách những người đã tham gia phản biện độc lập hoặc tham gia Hội đồng đánh giá luận án; Chất lượng luận án đạt yêu cầu thẩm định nếu có ít nhất 02 ý kiến thẩm định đồng ý về chuyên môn; Trường hợp chất lượng luận án không đạt yêu cầu, Đại học Quốc gia Hà Nội ra quyết định thành lập Hội đồng thẩm định luận án và ủy quyền thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức họp Hội đồng thẩm định luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội; đ) Hội đồng thẩm định luận án Hội đồng thẩm định luận án gồm 07 thành viên, trong đó có ít nhất 03 thành viên chưa tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án tại đơn vị chuyên môn, không là phản biện độc lập hoặc trong Hội đồng đánh giá luận án của luận án được thẩm định; những nhà khoa học thẩm định không tán thành luận án là thành viên đương nhiên của Hội đồng; Hội đồng thẩm định luận án có Chủ tịch, Thư ký và các Ủy viên; Tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng thẩm định luận án như tiêu chuẩn của các thành viên trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định tại điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này. Cán bộ hướng dẫn luận án không tham gia vào Hội đồng thẩm định luận án; Trước khi họp Hội đồng thẩm định, các thành viên Hội đồng có bản nhận xét về tính cấp thiết của đề tài luận án, sự phù hợp với ngành/ chuyên ngành; không trùng lặp về đề tài, nội dung, kết quả nghiên cứu với các công trình đã được công bố; tính trung thực, minh bạch trong trích dẫn tư liệu; bố cục và hình thức trình bày; nội dung, phương pháp, kết quả, ý nghĩa, độ tin cậy của các kết quả đạt được; những phát hiện, luận điểm mới của luận án; đánh giá thành công và hạn chế của luận án, khẳng định mức độ đáp ứng yêu cầu của một luận án; Hội đồng chỉ họp khi có mặt ít nhất 06 thành viên Hội đồng bao gồm Chủ tịch, Thư ký và các thành viên Hội đồng có ý kiến không tán thành luận án (nếu có). Hội đồng thẩm định luận án có trách nhiệm xem xét, đánh giá chất lượng luận án; làm rõ những nội dung đơn thư khiếu nại, tố cáo; nội dung nhận xét, kết luận của những người thẩm định độc lập luận án. Hội đồng phải có biên bản ghi chi tiết các ý kiến thảo luận, trao đổi, kết luận và quyết nghị về chất lượng luận án; Luận án không đạt yêu cầu thẩm định khi có từ 02 thành viên Hội đồng có mặt trở lên không tán thành, bỏ phiếu đánh giá luận án ở mức “Không đạt”. Trường hợp luận án không đạt yêu cầu của Hội đồng thẩm định Thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức cuộc họp đối thoại giữa Hội đồng thẩm định luận án với Hội đồng đánh giá luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội. Số lượng thành viên của hai Hội đồng dự họp ít nhất là 12 người, trong đó Chủ tịch, Phản biện, Thư ký và các thành viên có ý kiến không tán thành của hai Hội đồng phải có mặt; Thủ trưởng đơn vị đào tạo trực tiếp điều hành cuộc họp, bầu thư ký. Thành viên của hai Hội đồng tranh luận về nội dung và chất lượng luận án, bỏ phiếu đánh giá lại luận án. Luận án không được thông qua nếu có từ 03 thành viên có mặt tại buổi đối thoại trở lên không tán thành (bỏ phiếu đánh giá ở mức “Không đạt”). Kết quả cuộc họp đối thoại là kết quả thẩm định cuối cùng về chất lượng luận án. Đối với luận án đạt yêu cầu thẩm định nhưng có ý kiến của người thẩm định hoặc của Hội đồng thẩm định yêu cầu phải sửa chữa, trong thời hạn tối đa 45 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo kết quả thẩm định, nghiên cứu sinh cùng với cán bộ hướng dẫn luận án xem xét chỉnh sửa chi tiết các nội dung luận án theo yêu cầu của người/ Hội đồng thẩm định, có bản hiệu đính ghi rõ những nội dung đã được chỉnh sửa (hoặc những nội dung bảo lưu ý kiến) và chỉ rõ số trang tương ứng báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo trực thuộc), thủ trưởng đơn vị đào tạo (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo thành viên) kèm theo luận án đã chỉnh sửa; đồng thời nộp lại bản luận án đã chỉnh sửa, hiệu đính kèm công văn của đơn vị đào tạo gửi cho các thư viện để thay thế cho bản luận án đã nộp lưu chiểu (với các trường hợp đã gửi luận án cho các thư viện). Trường hợp quá trình đào tạo và chất lượng luận án sau khi thực hiện quy định tại khoản 4 và khoản 5, Điều này vẫn không đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo xem xét, quyết định thực hiện theo các phương án sau: Nếu nghiên cứu sinh chưa được cấp bằng tiến sĩ, đơn vị đào tạo cho phép nghiên cứu sinh bổ sung, hoàn thiện các điều kiện để được cấp bằng trong thời gian đào tạo ghi tại quyết định công nhận nghiên cứu sinh và bao gồm cả thời gian được phép kéo dài (nếu có) (đối với trường hợp kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo); hoặc sửa đổi, bổ sung và đề nghị được đánh giá lại luận án theo quy định tại khoản 7, Điều 29 của Quy chế này nếu chưa đánh giá lần thứ hai trong thời hạn tối đa 06 tháng (đối với trường hợp thẩm định chất lượng luận án); Nếu nghiên cứu sinh đã được cấp bằng tiến sĩ, việc thu hồi bằng được thực hiện theo quy định hiện hành và trong những trường hợp: Hồ sơ quá trình đào tạo được xác nhận có vi phạm, sai sót nghiêm trọng dẫn đến người được cấp bằng không còn bảo đảm đáp ứng đủ điều kiện dự tuyển, công nhận nghiên cứu sinh và duy trì các điều kiện bảo đảm chất lượng trong quá trình học tập và nghiên cứu tại đơn vị đào tạo; Luận án có nội dung sao chép, trích dẫn không đúng quy định và bị Hội đồng thẩm định kết luận nếu cắt bỏ những phần sao chép, trích dẫn đó thì luận án không đáp ứng yêu cầu quy định của Quy chế này; Luận án của nghiên cứu sinh không được thông qua theo quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này. Trong thời gian tối đa 60 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Đại học Quốc gia Hà Nội về kết quả kiểm tra, thẩm định cuối cùng hoặc ngày có kết quả cuộc họp đối thoại, đơn vị đào tạo có văn bản báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội về việc xử lý kết quả kiểm tra, thẩm định kèm theo minh chứng. Đơn vị đào tạo có từ 20% trở lên số hồ sơ quá trình đào tạo hoặc luận án không đạt yêu cầu kiểm tra/thẩm định trong năm sẽ bị dừng tuyển sinh ít nhất trong một năm kế tiếp; có từ 20% trở lên số luận án không đạt yêu cầu thẩm định trong hai năm liên tiếp sẽ bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ ít nhất trong một năm kế tiếp. Việc dừng các hoạt động này được thông báo công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo và của Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong thời gian bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ, việc tổ chức đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh của các đơn vị đào tạo thành viên do Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện như đối với các đơn vị đào tạo trực thuộc. Đơn vị đào tạo phải có giải pháp khắc phục và báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội kết quả thực hiện các giải pháp đó. Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định cho phép đơn vị đào tạo tiếp tục tuyển sinh, tổ chức Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nghiên cứu viên phải từ chối thẩm định luận án nếu có mối quan hệ cá nhân với nghiên cứu sinh hoặc giảng viên hướng dẫn để đảm bảo tính khách quan trong đánh giá."
}
],
"id": "36042",
"is_impossible": false,
"question": "Nghiên cứu viên có thể từ chối thẩm định luận án nếu có mối quan hệ với nghiên cứu sinh không?"
}
]
}
],
"title": "Nghiên cứu viên có thể từ chối thẩm định luận án nếu có mối quan hệ với nghiên cứu sinh không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 31. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án Vào ngày làm việc cuối cùng của các tháng chẵn trong năm, các đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội danh sách và thông tin trích ngang của các nghiên cứu sinh bảo vệ luận án trong 02 tháng trước đó. Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, lựa chọn kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án của nghiên cứu sinh. Việc kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án được thực hiện trong các trường hợp sau: Kiểm tra, thẩm định ngẫu nhiên theo yêu cầu của công tác quản lý, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chế này và những quy định có liên quan: Lựa chọn xác suất trong số hồ sơ, luận án đã bảo vệ theo báo cáo của đơn vị đào tạo; Kiểm tra, thẩm định đối với những hồ sơ, luận án cụ thể khi có phản ánh hoặc có đơn thư khiếu nại, tố cáo; Kiểm tra, thẩm định theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quy trình kiểm tra, thẩm định: Trong thời gian 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của đơn vị đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội rà soát và có văn bản thông báo cho đơn vị đào tạo danh sách các trường hợp cần kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo hoặc thẩm định chất lượng luận án; Đơn vị đào tạo có trách nhiệm nộp đầy đủ các hồ sơ/luận án theo yêu cầu kiểm tra, thẩm định của Đại học Quốc gia Hà Nội; Đại học Quốc gia Hà Nội tiến hành kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo trong thời gian tối đa 30 ngày làm việc và thẩm định chất lượng luận án trong thời gian tối đa 90 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ theo quy định tại điểm a, khoản 4 Điều này hoặc điểm a, khoản 5, Điều này; có văn bản thông báo kết quả kiểm tra, thẩm định cho đơn vị đào tạo. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo Danh mục hồ sơ kiểm tra Hồ sơ dự tuyển, thi tuyển, xét tuyển và quyết định công nhận nghiên cứu sinh; Hồ sơ thực hiện quy trình seminar, phản biện độc lập và bảo vệ luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Hồ sơ xét cấp bằng tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 01 bộ. Hồ sơ quá trình đào tạo đạt yêu cầu khi đảm bảo các quy định về tuyển sinh, tổ chức và quản lý đào tạo, quy trình tổ chức đánh giá luận án các cấp theo các quy định tại Quy chế này; Đối với những trường hợp hồ sơ kiểm tra quá trình đào tạo chưa đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo có trách nhiệm giải trình những vấn đề liên quan, bổ sung minh chứng và đề xuất hướng xử lý với Đại học Quốc gia Hà Nội theo quy định hiện hành. Thẩm định chất lượng luận án Hồ sơ thẩm định chất lượng luận án Luận án và tóm tắt luận án đã xoá thông tin về nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn và đơn vị đào tạo; Bản sao các công bố kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh đã xóa thông tin về nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 03 bộ. Chất lượng luận án được thẩm định bằng hình thức lấy ý kiến thẩm định độc lập của 03 nhà khoa học ở trong hoặc ngoài nước, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học hoặc tiến sĩ, đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu như các Phản biện trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định ở điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này, am hiểu đề tài và lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh, có chính kiến và bản lĩnh khoa học, khách quan, trung thực, không trong danh sách những người đã tham gia phản biện độc lập hoặc tham gia Hội đồng đánh giá luận án; Chất lượng luận án đạt yêu cầu thẩm định nếu có ít nhất 02 ý kiến thẩm định đồng ý về chuyên môn; Trường hợp chất lượng luận án không đạt yêu cầu, Đại học Quốc gia Hà Nội ra quyết định thành lập Hội đồng thẩm định luận án và ủy quyền thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức họp Hội đồng thẩm định luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội; đ) Hội đồng thẩm định luận án Hội đồng thẩm định luận án gồm 07 thành viên, trong đó có ít nhất 03 thành viên chưa tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án tại đơn vị chuyên môn, không là phản biện độc lập hoặc trong Hội đồng đánh giá luận án của luận án được thẩm định; những nhà khoa học thẩm định không tán thành luận án là thành viên đương nhiên của Hội đồng; Hội đồng thẩm định luận án có Chủ tịch, Thư ký và các Ủy viên; Tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng thẩm định luận án như tiêu chuẩn của các thành viên trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định tại điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này. Cán bộ hướng dẫn luận án không tham gia vào Hội đồng thẩm định luận án; Trước khi họp Hội đồng thẩm định, các thành viên Hội đồng có bản nhận xét về tính cấp thiết của đề tài luận án, sự phù hợp với ngành/ chuyên ngành; không trùng lặp về đề tài, nội dung, kết quả nghiên cứu với các công trình đã được công bố; tính trung thực, minh bạch trong trích dẫn tư liệu; bố cục và hình thức trình bày; nội dung, phương pháp, kết quả, ý nghĩa, độ tin cậy của các kết quả đạt được; những phát hiện, luận điểm mới của luận án; đánh giá thành công và hạn chế của luận án, khẳng định mức độ đáp ứng yêu cầu của một luận án; Hội đồng chỉ họp khi có mặt ít nhất 06 thành viên Hội đồng bao gồm Chủ tịch, Thư ký và các thành viên Hội đồng có ý kiến không tán thành luận án (nếu có). Hội đồng thẩm định luận án có trách nhiệm xem xét, đánh giá chất lượng luận án; làm rõ những nội dung đơn thư khiếu nại, tố cáo; nội dung nhận xét, kết luận của những người thẩm định độc lập luận án. Hội đồng phải có biên bản ghi chi tiết các ý kiến thảo luận, trao đổi, kết luận và quyết nghị về chất lượng luận án; Luận án không đạt yêu cầu thẩm định khi có từ 02 thành viên Hội đồng có mặt trở lên không tán thành, bỏ phiếu đánh giá luận án ở mức “Không đạt”. Trường hợp luận án không đạt yêu cầu của Hội đồng thẩm định Thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức cuộc họp đối thoại giữa Hội đồng thẩm định luận án với Hội đồng đánh giá luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội. Số lượng thành viên của hai Hội đồng dự họp ít nhất là 12 người, trong đó Chủ tịch, Phản biện, Thư ký và các thành viên có ý kiến không tán thành của hai Hội đồng phải có mặt; Thủ trưởng đơn vị đào tạo trực tiếp điều hành cuộc họp, bầu thư ký. Thành viên của hai Hội đồng tranh luận về nội dung và chất lượng luận án, bỏ phiếu đánh giá lại luận án. Luận án không được thông qua nếu có từ 03 thành viên có mặt tại buổi đối thoại trở lên không tán thành (bỏ phiếu đánh giá ở mức “Không đạt”). Kết quả cuộc họp đối thoại là kết quả thẩm định cuối cùng về chất lượng luận án. Đối với luận án đạt yêu cầu thẩm định nhưng có ý kiến của người thẩm định hoặc của Hội đồng thẩm định yêu cầu phải sửa chữa, trong thời hạn tối đa 45 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo kết quả thẩm định, nghiên cứu sinh cùng với cán bộ hướng dẫn luận án xem xét chỉnh sửa chi tiết các nội dung luận án theo yêu cầu của người/ Hội đồng thẩm định, có bản hiệu đính ghi rõ những nội dung đã được chỉnh sửa (hoặc những nội dung bảo lưu ý kiến) và chỉ rõ số trang tương ứng báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo trực thuộc), thủ trưởng đơn vị đào tạo (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo thành viên) kèm theo luận án đã chỉnh sửa; đồng thời nộp lại bản luận án đã chỉnh sửa, hiệu đính kèm công văn của đơn vị đào tạo gửi cho các thư viện để thay thế cho bản luận án đã nộp lưu chiểu (với các trường hợp đã gửi luận án cho các thư viện). Trường hợp quá trình đào tạo và chất lượng luận án sau khi thực hiện quy định tại khoản 4 và khoản 5, Điều này vẫn không đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo xem xét, quyết định thực hiện theo các phương án sau: Nếu nghiên cứu sinh chưa được cấp bằng tiến sĩ, đơn vị đào tạo cho phép nghiên cứu sinh bổ sung, hoàn thiện các điều kiện để được cấp bằng trong thời gian đào tạo ghi tại quyết định công nhận nghiên cứu sinh và bao gồm cả thời gian được phép kéo dài (nếu có) (đối với trường hợp kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo); hoặc sửa đổi, bổ sung và đề nghị được đánh giá lại luận án theo quy định tại khoản 7, Điều 29 của Quy chế này nếu chưa đánh giá lần thứ hai trong thời hạn tối đa 06 tháng (đối với trường hợp thẩm định chất lượng luận án); Nếu nghiên cứu sinh đã được cấp bằng tiến sĩ, việc thu hồi bằng được thực hiện theo quy định hiện hành và trong những trường hợp: Hồ sơ quá trình đào tạo được xác nhận có vi phạm, sai sót nghiêm trọng dẫn đến người được cấp bằng không còn bảo đảm đáp ứng đủ điều kiện dự tuyển, công nhận nghiên cứu sinh và duy trì các điều kiện bảo đảm chất lượng trong quá trình học tập và nghiên cứu tại đơn vị đào tạo; Luận án có nội dung sao chép, trích dẫn không đúng quy định và bị Hội đồng thẩm định kết luận nếu cắt bỏ những phần sao chép, trích dẫn đó thì luận án không đáp ứng yêu cầu quy định của Quy chế này; Luận án của nghiên cứu sinh không được thông qua theo quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này. Trong thời gian tối đa 60 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Đại học Quốc gia Hà Nội về kết quả kiểm tra, thẩm định cuối cùng hoặc ngày có kết quả cuộc họp đối thoại, đơn vị đào tạo có văn bản báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội về việc xử lý kết quả kiểm tra, thẩm định kèm theo minh chứng. Đơn vị đào tạo có từ 20% trở lên số hồ sơ quá trình đào tạo hoặc luận án không đạt yêu cầu kiểm tra/thẩm định trong năm sẽ bị dừng tuyển sinh ít nhất trong một năm kế tiếp; có từ 20% trở lên số luận án không đạt yêu cầu thẩm định trong hai năm liên tiếp sẽ bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ ít nhất trong một năm kế tiếp. Việc dừng các hoạt động này được thông báo công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo và của Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong thời gian bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ, việc tổ chức đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh của các đơn vị đào tạo thành viên do Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện như đối với các đơn vị đào tạo trực thuộc. Đơn vị đào tạo phải có giải pháp khắc phục và báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội kết quả thực hiện các giải pháp đó. Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định cho phép đơn vị đào tạo tiếp tục tuyển sinh, tổ chức Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Có, nếu luận án đạt yêu cầu thẩm định nhưng có ý kiến từ người thẩm định hoặc Hội đồng thẩm định yêu cầu sửa chữa, nghiên cứu sinh phải chỉnh sửa chi tiết các nội dung luận án theo yêu cầu đó trong thời hạn tối đa 45 ngày làm việc."
}
],
"id": "36043",
"is_impossible": false,
"question": "Nghiên cứu viên có thể yêu cầu nghiên cứu sinh sửa chữa luận án không?"
}
]
}
],
"title": "Nghiên cứu viên có thể yêu cầu nghiên cứu sinh sửa chữa luận án không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan Điều 31. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án Vào ngày làm việc cuối cùng của các tháng chẵn trong năm, các đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội danh sách và thông tin trích ngang của các nghiên cứu sinh bảo vệ luận án trong 02 tháng trước đó. Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, lựa chọn kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án của nghiên cứu sinh. Việc kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án được thực hiện trong các trường hợp sau: Kiểm tra, thẩm định ngẫu nhiên theo yêu cầu của công tác quản lý, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chế này và những quy định có liên quan: Lựa chọn xác suất trong số hồ sơ, luận án đã bảo vệ theo báo cáo của đơn vị đào tạo; Kiểm tra, thẩm định đối với những hồ sơ, luận án cụ thể khi có phản ánh hoặc có đơn thư khiếu nại, tố cáo; Kiểm tra, thẩm định theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quy trình kiểm tra, thẩm định: Trong thời gian 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của đơn vị đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội rà soát và có văn bản thông báo cho đơn vị đào tạo danh sách các trường hợp cần kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo hoặc thẩm định chất lượng luận án; Đơn vị đào tạo có trách nhiệm nộp đầy đủ các hồ sơ/luận án theo yêu cầu kiểm tra, thẩm định của Đại học Quốc gia Hà Nội; Đại học Quốc gia Hà Nội tiến hành kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo trong thời gian tối đa 30 ngày làm việc và thẩm định chất lượng luận án trong thời gian tối đa 90 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ theo quy định tại điểm a, khoản 4 Điều này hoặc điểm a, khoản 5, Điều này; có văn bản thông báo kết quả kiểm tra, thẩm định cho đơn vị đào tạo. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo Danh mục hồ sơ kiểm tra Hồ sơ dự tuyển, thi tuyển, xét tuyển và quyết định công nhận nghiên cứu sinh; Hồ sơ thực hiện quy trình seminar, phản biện độc lập và bảo vệ luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Hồ sơ xét cấp bằng tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 01 bộ. Hồ sơ quá trình đào tạo đạt yêu cầu khi đảm bảo các quy định về tuyển sinh, tổ chức và quản lý đào tạo, quy trình tổ chức đánh giá luận án các cấp theo các quy định tại Quy chế này; Đối với những trường hợp hồ sơ kiểm tra quá trình đào tạo chưa đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo có trách nhiệm giải trình những vấn đề liên quan, bổ sung minh chứng và đề xuất hướng xử lý với Đại học Quốc gia Hà Nội theo quy định hiện hành. Thẩm định chất lượng luận án Hồ sơ thẩm định chất lượng luận án Luận án và tóm tắt luận án đã xoá thông tin về nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn và đơn vị đào tạo; Bản sao các công bố kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh đã xóa thông tin về nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 03 bộ. Chất lượng luận án được thẩm định bằng hình thức lấy ý kiến thẩm định độc lập của 03 nhà khoa học ở trong hoặc ngoài nước, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học hoặc tiến sĩ, đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu như các Phản biện trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định ở điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này, am hiểu đề tài và lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh, có chính kiến và bản lĩnh khoa học, khách quan, trung thực, không trong danh sách những người đã tham gia phản biện độc lập hoặc tham gia Hội đồng đánh giá luận án; Chất lượng luận án đạt yêu cầu thẩm định nếu có ít nhất 02 ý kiến thẩm định đồng ý về chuyên môn; Trường hợp chất lượng luận án không đạt yêu cầu, Đại học Quốc gia Hà Nội ra quyết định thành lập Hội đồng thẩm định luận án và ủy quyền thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức họp Hội đồng thẩm định luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội; đ) Hội đồng thẩm định luận án Hội đồng thẩm định luận án gồm 07 thành viên, trong đó có ít nhất 03 thành viên chưa tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án tại đơn vị chuyên môn, không là phản biện độc lập hoặc trong Hội đồng đánh giá luận án của luận án được thẩm định; những nhà khoa học thẩm định không tán thành luận án là thành viên đương nhiên của Hội đồng; Hội đồng thẩm định luận án có Chủ tịch, Thư ký và các Ủy viên; Tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng thẩm định luận án như tiêu chuẩn của các thành viên trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định tại điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này. Cán bộ hướng dẫn luận án không tham gia vào Hội đồng thẩm định luận án; Trước khi họp Hội đồng thẩm định, các thành viên Hội đồng có bản nhận xét về tính cấp thiết của đề tài luận án, sự phù hợp với ngành/ chuyên ngành; không trùng lặp về đề tài, nội dung, kết quả nghiên cứu với các công trình đã được công bố; tính trung thực, minh bạch trong trích dẫn tư liệu; bố cục và hình thức trình bày; nội dung, phương pháp, kết quả, ý nghĩa, độ tin cậy của các kết quả đạt được; những phát hiện, luận điểm mới của luận án; đánh giá thành công và hạn chế của luận án, khẳng định mức độ đáp ứng yêu cầu của một luận án; Hội đồng chỉ họp khi có mặt ít nhất 06 thành viên Hội đồng bao gồm Chủ tịch, Thư ký và các thành viên Hội đồng có ý kiến không tán thành luận án (nếu có). Hội đồng thẩm định luận án có trách nhiệm xem xét, đánh giá chất lượng luận án; làm rõ những nội dung đơn thư khiếu nại, tố cáo; nội dung nhận xét, kết luận của những người thẩm định độc lập luận án. Hội đồng phải có biên bản ghi chi tiết các ý kiến thảo luận, trao đổi, kết luận và quyết nghị về chất lượng luận án; Luận án không đạt yêu cầu thẩm định khi có từ 02 thành viên Hội đồng có mặt trở lên không tán thành, bỏ phiếu đánh giá luận án ở mức “Không đạt”. Trường hợp luận án không đạt yêu cầu của Hội đồng thẩm định Thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức cuộc họp đối thoại giữa Hội đồng thẩm định luận án với Hội đồng đánh giá luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội. Số lượng thành viên của hai Hội đồng dự họp ít nhất là 12 người, trong đó Chủ tịch, Phản biện, Thư ký và các thành viên có ý kiến không tán thành của hai Hội đồng phải có mặt; Thủ trưởng đơn vị đào tạo trực tiếp điều hành cuộc họp, bầu thư ký. Thành viên của hai Hội đồng tranh luận về nội dung và chất lượng luận án, bỏ phiếu đánh giá lại luận án. Luận án không được thông qua nếu có từ 03 thành viên có mặt tại buổi đối thoại trở lên không tán thành (bỏ phiếu đánh giá ở mức “Không đạt”). Kết quả cuộc họp đối thoại là kết quả thẩm định cuối cùng về chất lượng luận án. Đối với luận án đạt yêu cầu thẩm định nhưng có ý kiến của người thẩm định hoặc của Hội đồng thẩm định yêu cầu phải sửa chữa, trong thời hạn tối đa 45 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo kết quả thẩm định, nghiên cứu sinh cùng với cán bộ hướng dẫn luận án xem xét chỉnh sửa chi tiết các nội dung luận án theo yêu cầu của người/ Hội đồng thẩm định, có bản hiệu đính ghi rõ những nội dung đã được chỉnh sửa (hoặc những nội dung bảo lưu ý kiến) và chỉ rõ số trang tương ứng báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo trực thuộc), thủ trưởng đơn vị đào tạo (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo thành viên) kèm theo luận án đã chỉnh sửa; đồng thời nộp lại bản luận án đã chỉnh sửa, hiệu đính kèm công văn của đơn vị đào tạo gửi cho các thư viện để thay thế cho bản luận án đã nộp lưu chiểu (với các trường hợp đã gửi luận án cho các thư viện). Trường hợp quá trình đào tạo và chất lượng luận án sau khi thực hiện quy định tại khoản 4 và khoản 5, Điều này vẫn không đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo xem xét, quyết định thực hiện theo các phương án sau: Nếu nghiên cứu sinh chưa được cấp bằng tiến sĩ, đơn vị đào tạo cho phép nghiên cứu sinh bổ sung, hoàn thiện các điều kiện để được cấp bằng trong thời gian đào tạo ghi tại quyết định công nhận nghiên cứu sinh và bao gồm cả thời gian được phép kéo dài (nếu có) (đối với trường hợp kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo); hoặc sửa đổi, bổ sung và đề nghị được đánh giá lại luận án theo quy định tại khoản 7, Điều 29 của Quy chế này nếu chưa đánh giá lần thứ hai trong thời hạn tối đa 06 tháng (đối với trường hợp thẩm định chất lượng luận án); Nếu nghiên cứu sinh đã được cấp bằng tiến sĩ, việc thu hồi bằng được thực hiện theo quy định hiện hành và trong những trường hợp: Hồ sơ quá trình đào tạo được xác nhận có vi phạm, sai sót nghiêm trọng dẫn đến người được cấp bằng không còn bảo đảm đáp ứng đủ điều kiện dự tuyển, công nhận nghiên cứu sinh và duy trì các điều kiện bảo đảm chất lượng trong quá trình học tập và nghiên cứu tại đơn vị đào tạo; Luận án có nội dung sao chép, trích dẫn không đúng quy định và bị Hội đồng thẩm định kết luận nếu cắt bỏ những phần sao chép, trích dẫn đó thì luận án không đáp ứng yêu cầu quy định của Quy chế này; Luận án của nghiên cứu sinh không được thông qua theo quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này. Trong thời gian tối đa 60 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Đại học Quốc gia Hà Nội về kết quả kiểm tra, thẩm định cuối cùng hoặc ngày có kết quả cuộc họp đối thoại, đơn vị đào tạo có văn bản báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội về việc xử lý kết quả kiểm tra, thẩm định kèm theo minh chứng. Đơn vị đào tạo có từ 20% trở lên số hồ sơ quá trình đào tạo hoặc luận án không đạt yêu cầu kiểm tra/thẩm định trong năm sẽ bị dừng tuyển sinh ít nhất trong một năm kế tiếp; có từ 20% trở lên số luận án không đạt yêu cầu thẩm định trong hai năm liên tiếp sẽ bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ ít nhất trong một năm kế tiếp. Việc dừng các hoạt động này được thông báo công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo và của Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong thời gian bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ, việc tổ chức đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh của các đơn vị đào tạo thành viên do Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện như đối với các đơn vị đào tạo trực thuộc. Đơn vị đào tạo phải có giải pháp khắc phục và báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội kết quả thực hiện các giải pháp đó. Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định cho phép đơn vị đào tạo tiếp tục tuyển sinh, tổ chức Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Có, chuyên gia trong ngành có thể được mời tham gia thẩm định chất lượng luận án. Các chuyên gia này cần đáp ứng các tiêu chuẩn của một nhà khoa học thẩm định độc lập, bao gồm: có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học hoặc tiến sĩ; am hiểu đề tài và lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh; có chính kiến, bản lĩnh khoa học, khách quan, trung thực; và không nằm trong danh sách những người đã tham gia phản biện độc lập hoặc Hội đồng đánh giá luận án trước đó."
}
],
"id": "36044",
"is_impossible": false,
"question": "Chuyên gia trong ngành có thể được mời tham gia thẩm định luận án không?"
}
]
}
],
"title": "Chuyên gia trong ngành có thể được mời tham gia thẩm định luận án không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 31. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án Vào ngày làm việc cuối cùng của các tháng chẵn trong năm, các đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội danh sách và thông tin trích ngang của các nghiên cứu sinh bảo vệ luận án trong 02 tháng trước đó. Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, lựa chọn kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án của nghiên cứu sinh. Việc kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án được thực hiện trong các trường hợp sau: Kiểm tra, thẩm định ngẫu nhiên theo yêu cầu của công tác quản lý, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chế này và những quy định có liên quan: Lựa chọn xác suất trong số hồ sơ, luận án đã bảo vệ theo báo cáo của đơn vị đào vị; Kiểm tra, thẩm định đối với những hồ sơ, luận án cụ thể khi có phản ánh hoặc có đơn thư khiếu nại, tố cáo; Kiểm tra, thẩm định theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quy trình kiểm tra, thẩm định: Trong thời gian 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của đơn vị đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội rà soát và có văn bản thông báo cho đơn vị đào tạo danh sách các trường hợp cần kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo hoặc thẩm định chất lượng luận án; Đơn vị đào tạo có trách nhiệm nộp đầy đủ các hồ sơ/luận án theo yêu cầu kiểm tra, thẩm định của Đại học Quốc gia Hà Nội; Đại học Quốc gia Hà Nội tiến hành kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo trong thời gian tối đa 30 ngày làm việc và thẩm định chất lượng luận án trong thời gian tối đa 90 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ theo quy định tại điểm a, khoản 4 Điều này hoặc điểm a, khoản 5, Điều này; có văn bản thông báo kết quả kiểm tra, thẩm định cho đơn vị đào tạo. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo Danh mục hồ sơ kiểm tra Hồ sơ dự tuyển, thi tuyển, xét tuyển và quyết định công nhận nghiên cứu sinh; Hồ sơ thực hiện quy trình seminar, phản biện độc lập và bảo vệ luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Hồ sơ xét cấp bằng tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 01 bộ. Hồ sơ quá trình đào tạo đạt yêu cầu khi đảm bảo các quy định về tuyển sinh, tổ chức và quản lý đào tạo, quy trình tổ chức đánh giá luận án các cấp theo các quy định tại Quy chế này; Đối với những trường hợp hồ sơ kiểm tra quá trình đào tạo chưa đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo có trách nhiệm giải trình những vấn đề liên quan, bổ sung minh chứng và đề xuất hướng xử lý với Đại học Quốc gia Hà Nội theo quy định hiện hành. Thẩm định chất lượng luận án Hồ sơ thẩm định chất lượng luận án Luận án và tóm tắt luận án đã xoá thông tin về nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn và đơn vị đào tạo; Bản sao các công bố kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh đã xóa thông tin về nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 03 bộ. Chất lượng luận án được thẩm định bằng hình thức lấy ý kiến thẩm định độc lập của 03 nhà khoa học ở trong hoặc ngoài nước, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học hoặc tiến sĩ, đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu như các Phản biện trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định ở điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này, am hiểu đề tài và lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh, có chính kiến và bản lĩnh khoa học, khách quan, trung thực, không trong danh sách những người đã tham gia phản biện độc lập hoặc tham gia Hội đồng đánh giá luận án; Chất lượng luận án đạt yêu cầu thẩm định nếu có ít nhất 02 ý kiến thẩm định đồng ý về chuyên môn; Trường hợp chất lượng luận án không đạt yêu cầu, Đại học Quốc gia Hà Nội ra quyết định thành lập Hội đồng thẩm định luận án và ủy quyền thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức họp Hội đồng thẩm định luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội; đ) Hội đồng thẩm định luận án Hội đồng thẩm định luận án gồm 07 thành viên, trong đó có ít nhất 03 thành viên chưa tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án tại đơn vị chuyên môn, không là phản biện độc lập hoặc trong Hội đồng đánh giá luận án của luận án được thẩm định; những nhà khoa học thẩm định không tán thành luận án là thành viên đương nhiên của Hội đồng; Hội đồng thẩm định luận án có Chủ tịch, Thư ký và các Ủy viên; Tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng thẩm định luận án như tiêu chuẩn của các thành viên trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định tại điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này. Cán bộ hướng dẫn luận án không tham gia vào Hội đồng thẩm định luận án; Trước khi họp Hội đồng thẩm định, các thành viên Hội đồng có bản nhận xét về tính cấp thiết của đề tài luận án, sự phù hợp với ngành/ chuyên ngành; không trùng lặp về đề tài, nội dung, kết quả nghiên cứu với các công trình đã được công bố; tính trung thực, minh bạch trong trích dẫn tư liệu; bố cục và hình thức trình bày; nội dung, phương pháp, kết quả, ý nghĩa, độ tin cậy của các kết quả đạt được; những phát hiện, luận điểm mới của luận án; đánh giá thành công và hạn chế của luận án, khẳng định mức độ đáp ứng yêu cầu của một luận án; Hội đồng chỉ họp khi có mặt ít nhất 06 thành viên Hội đồng bao gồm Chủ tịch, Thư ký và các thành viên Hội đồng có ý kiến không tán thành luận án (nếu có). Hội đồng thẩm định luận án có trách nhiệm xem xét, đánh giá chất lượng luận án; làm rõ những nội dung đơn thư khiếu nại, tố cáo; nội dung nhận xét, kết luận của những người thẩm định độc lập luận án. Hội đồng phải có biên bản ghi chi tiết các ý kiến thảo luận, trao đổi, kết luận và quyết nghị về chất lượng luận án; Luận án không đạt yêu cầu thẩm định khi có từ 02 thành viên Hội đồng có mặt trở lên không tán thành, bỏ phiếu đánh giá luận án ở mức “Không đạt”. Trường hợp luận án không đạt yêu cầu của Hội đồng thẩm định Thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức cuộc họp đối thoại giữa Hội đồng thẩm định luận án với Hội đồng đánh giá luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội. Số lượng thành viên của hai Hội đồng dự họp ít nhất là 12 người, trong đó Chủ tịch, Phản biện, Thư ký và các thành viên có ý kiến không tán thành của hai Hội đồng phải có mặt; Thủ trưởng đơn vị đào tạo trực tiếp điều hành cuộc họp, bầu thư ký. Thành viên của hai Hội đồng tranh luận về nội dung và chất lượng luận án, bỏ phiếu đánh giá lại luận án. Luận án không được thông qua nếu có từ 03 thành viên có mặt tại buổi đối thoại trở lên không tán thành (bỏ phiếu đánh giá ở mức “Không đạt”). Kết quả cuộc họp đối thoại là kết quả thẩm định cuối cùng về chất lượng luận án. Đối với luận án đạt yêu cầu thẩm định nhưng có ý kiến của người thẩm định hoặc của Hội đồng thẩm định yêu cầu phải sửa chữa, trong thời hạn tối đa 45 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo kết quả thẩm định, nghiên cứu sinh cùng với cán bộ hướng dẫn luận án xem xét chỉnh sửa chi tiết các nội dung luận án theo yêu cầu của người/ Hội đồng thẩm định, có bản hiệu đính ghi rõ những nội dung đã được chỉnh sửa (hoặc những nội dung bảo lưu ý kiến) và chỉ rõ số trang tương ứng báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo trực thuộc), thủ trưởng đơn vị đào tạo (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo thành viên) kèm theo luận án đã chỉnh sửa; đồng thời nộp lại bản luận án đã chỉnh sửa, hiệu đính kèm công văn của đơn vị đào tạo gửi cho các thư viện để thay thế cho bản luận án đã nộp lưu chiểu (với các trường hợp đã gửi luận án cho các thư viện). Trường hợp quá trình đào tạo và chất lượng luận án sau khi thực hiện quy định tại khoản 4 và khoản 5, Điều này vẫn không đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo xem xét, quyết định thực hiện theo các phương án sau: Nếu nghiên cứu sinh chưa được cấp bằng tiến sĩ, đơn vị đào tạo cho phép nghiên cứu sinh bổ sung, hoàn thiện các điều kiện để được cấp bằng trong thời gian đào tạo ghi tại quyết định công nhận nghiên cứu sinh và bao gồm cả thời gian được phép kéo dài (nếu có) (đối với trường hợp kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo); hoặc sửa đổi, bổ sung và đề nghị được đánh giá lại luận án theo quy định tại khoản 7, Điều 29 của Quy chế này nếu chưa đánh giá lần thứ hai trong thời hạn tối đa 06 tháng (đối với trường hợp thẩm định chất lượng luận án); Nếu nghiên cứu sinh đã được cấp bằng tiến sĩ, việc thu hồi bằng được thực hiện theo quy định hiện hành và trong những trường hợp: Hồ sơ quá trình đào tạo được xác nhận có vi phạm, sai sót nghiêm trọng dẫn đến người được cấp bằng không còn bảo đảm đáp ứng đủ điều kiện dự tuyển, công nhận nghiên cứu sinh và duy trì các điều kiện bảo đảm chất lượng trong quá trình học tập và nghiên cứu tại đơn vị đào tạo; Luận án có nội dung sao chép, trích dẫn không đúng quy định và bị Hội đồng thẩm định kết luận nếu cắt bỏ những phần sao chép, trích dẫn đó thì luận án không đáp ứng yêu cầu quy định của Quy chế này; Luận án của nghiên cứu sinh không được thông qua theo quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này. Trong thời gian tối đa 60 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Đại học Quốc gia Hà Nội về kết quả kiểm tra, thẩm định cuối cùng hoặc ngày có kết quả cuộc họp đối thoại, đơn vị đào tạo có văn bản báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội về việc xử lý kết quả kiểm tra, thẩm định kèm theo minh chứng. Đơn vị đào tạo có từ 20% trở lên số hồ sơ quá trình đào tạo hoặc luận án không đạt yêu cầu kiểm tra/thẩm định trong năm sẽ bị dừng tuyển sinh ít nhất trong một năm kế tiếp; có từ 20% trở lên số luận án không đạt yêu cầu thẩm định trong hai năm liên tiếp sẽ bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ ít nhất trong một năm kế tiếp. Việc dừng các hoạt động này được thông báo công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo và của Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong thời gian bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ, việc tổ chức đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh của các đơn vị đào tạo thành viên do Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện như đối với các đơn vị đào tạo trực thuộc. Đơn vị đào tạo phải có giải pháp khắc phục và báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội kết quả thực hiện các giải pháp đó. Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định cho phép đơn vị đào tạo tiếp tục tuyển sinh, tổ chức Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Khi thẩm định chất lượng luận án, các chuyên gia cần đánh giá những yếu tố sau: tính cấp thiết của đề tài luận án, sự phù hợp với ngành/chuyên ngành, việc không trùng lặp về đề tài, nội dung và kết quả nghiên cứu với các công trình đã công bố, tính trung thực và minh bạch trong trích dẫn tư liệu, bố cục và hình thức trình bày, nội dung, phương pháp, kết quả, ý nghĩa, độ tin cậy của các kết quả đạt được, những phát hiện và luận điểm mới của luận án, cũng như đánh giá thành công và hạn chế của luận án để khẳng định mức độ đáp ứng yêu cầu."
}
],
"id": "36045",
"is_impossible": false,
"question": "Chuyên gia trong ngành cần đánh giá những yếu tố nào khi thẩm định chất lượng luận án?"
}
]
}
],
"title": "Chuyên gia trong ngành cần đánh giá những yếu tố nào khi thẩm định chất lượng luận án?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 31. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án Vào ngày làm việc cuối cùng của các tháng chẵn trong năm, các đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội danh sách và thông tin trích ngang của các nghiên cứu sinh bảo vệ luận án trong 02 tháng trước đó. Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, lựa chọn kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án của nghiên cứu sinh. Việc kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án được thực hiện trong các trường hợp sau: Kiểm tra, thẩm định ngẫu nhiên theo yêu cầu của công tác quản lý, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chế này và những quy định có liên quan: Lựa chọn xác suất trong số hồ sơ, luận án đã bảo vệ theo báo cáo của đơn vị đào tạo; Kiểm tra, thẩm định đối với những hồ sơ, luận án cụ thể khi có phản ánh hoặc có đơn thư khiếu nại, tố cáo; Kiểm tra, thẩm định theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quy trình kiểm tra, thẩm định: Trong thời gian 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của đơn vị đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội rà soát và có văn bản thông báo cho đơn vị đào tạo danh sách các trường hợp cần kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo hoặc thẩm định chất lượng luận án; Đơn vị đào tạo có trách nhiệm nộp đầy đủ các hồ sơ/luận án theo yêu cầu kiểm tra, thẩm định của Đại học Quốc gia Hà Nội; Đại học Quốc gia Hà Nội tiến hành kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo trong thời gian tối đa 30 ngày làm việc và thẩm định chất lượng luận án trong thời gian tối đa 90 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ theo quy định tại điểm a, khoản 4 Điều này hoặc điểm a, khoản 5, Điều này; có văn bản thông báo kết quả kiểm tra, thẩm định cho đơn vị đào tạo. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo Danh mục hồ sơ kiểm tra Hồ sơ dự tuyển, thi tuyển, xét tuyển và quyết định công nhận nghiên cứu sinh; Hồ sơ thực hiện quy trình seminar, phản biện độc lập và bảo vệ luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Hồ sơ xét cấp bằng tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 01 bộ. Hồ sơ quá trình đào tạo đạt yêu cầu khi đảm bảo các quy định về tuyển sinh, tổ chức và quản lý đào tạo, quy trình tổ chức đánh giá luận án các cấp theo các quy định tại Quy chế này; Đối với những trường hợp hồ sơ kiểm tra quá trình đào tạo chưa đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo có trách nhiệm giải trình những vấn đề liên quan, bổ sung minh chứng và đề xuất hướng xử lý với Đại học Quốc gia Hà Nội theo quy định hiện hành. Thẩm định chất lượng luận án Hồ sơ thẩm định chất lượng luận án Luận án và tóm tắt luận án đã xoá thông tin về nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn và đơn vị đào tạo; Bản sao các công bố kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh đã xóa thông tin về nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 03 bộ. Chất lượng luận án được thẩm định bằng hình thức lấy ý kiến thẩm định độc lập của 03 nhà khoa học ở trong hoặc ngoài nước, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học hoặc tiến sĩ, đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu như các Phản biện trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định ở điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này, am hiểu đề tài và lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh, có chính kiến và bản lĩnh khoa học, khách quan, trung thực, không trong danh sách những người đã tham gia phản biện độc lập hoặc tham gia Hội đồng đánh giá luận án; Chất lượng luận án đạt yêu cầu thẩm định nếu có ít nhất 02 ý kiến thẩm định đồng ý về chuyên môn; Trường hợp chất lượng luận án không đạt yêu cầu, Đại học Quốc gia Hà Nội ra quyết định thành lập Hội đồng thẩm định luận án và ủy quyền thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức họp Hội đồng thẩm định luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội; đ) Hội đồng thẩm định luận án Hội đồng thẩm định luận án gồm 07 thành viên, trong đó có ít nhất 03 thành viên chưa tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án tại đơn vị chuyên môn, không là phản biện độc lập hoặc trong Hội đồng đánh giá luận án của luận án được thẩm định; những nhà khoa học thẩm định không tán thành luận án là thành viên đương nhiên của Hội đồng; Hội đồng thẩm định luận án có Chủ tịch, Thư ký và các Ủy viên; Tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng thẩm định luận án như tiêu chuẩn của các thành viên trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định tại điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này. Cán bộ hướng dẫn luận án không tham gia vào Hội đồng thẩm định luận án; Trước khi họp Hội đồng thẩm định, các thành viên Hội đồng có bản nhận xét về tính cấp thiết của đề tài luận án, sự phù hợp với ngành/ chuyên ngành; không trùng lặp về đề tài, nội dung, kết quả nghiên cứu với các công trình đã được công bố; tính trung thực, minh bạch trong trích dẫn tư liệu; bố cục và hình thức trình bày; nội dung, phương pháp, kết quả, ý nghĩa, độ tin cậy của các kết quả đạt được; những phát hiện, luận điểm mới của luận án; đánh giá thành công và hạn chế của luận án, khẳng định mức độ đáp ứng yêu cầu của một luận án; Hội đồng chỉ họp khi có mặt ít nhất 06 thành viên Hội đồng bao gồm Chủ tịch, Thư ký và các thành viên Hội đồng có ý kiến không tán thành luận án (nếu có). Hội đồng thẩm định luận án có trách nhiệm xem xét, đánh giá chất lượng luận án; làm rõ những nội dung đơn thư khiếu nại, tố cáo; nội dung nhận xét, kết luận của những người thẩm định độc lập luận án. Hội đồng phải có biên bản ghi chi tiết các ý kiến thảo luận, trao đổi, kết luận và quyết nghị về chất lượng luận án; Luận án không đạt yêu cầu thẩm định khi có từ 02 thành viên Hội đồng có mặt trở lên không tán thành, bỏ phiếu đánh giá luận án ở mức “Không đạt”. Trường hợp luận án không đạt yêu cầu của Hội đồng thẩm định Thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức cuộc họp đối thoại giữa Hội đồng thẩm định luận án với Hội đồng đánh giá luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội. Số lượng thành viên của hai Hội đồng dự họp ít nhất là 12 người, trong đó Chủ tịch, Phản biện, Thư ký và các thành viên có ý kiến không tán thành của hai Hội đồng phải có mặt; Thủ trưởng đơn vị đào tạo trực tiếp điều hành cuộc họp, bầu thư ký. Thành viên của hai Hội đồng tranh luận về nội dung và chất lượng luận án, bỏ phiếu đánh giá lại luận án. Luận án không được thông qua nếu có từ 03 thành viên có mặt tại buổi đối thoại trở lên không tán thành (bỏ phiếu đánh giá ở mức “Không đạt”). Kết quả cuộc họp đối thoại là kết quả thẩm định cuối cùng về chất lượng luận án. Đối với luận án đạt yêu cầu thẩm định nhưng có ý kiến của người thẩm định hoặc của Hội đồng thẩm định yêu cầu phải sửa chữa, trong thời hạn tối đa 45 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo kết quả thẩm định, nghiên cứu sinh cùng với cán bộ hướng dẫn luận án xem xét chỉnh sửa chi tiết các nội dung luận án theo yêu cầu của người/ Hội đồng thẩm định, có bản hiệu đính ghi rõ những nội dung đã được chỉnh sửa (hoặc những nội dung bảo lưu ý kiến) và chỉ rõ số trang tương ứng báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo trực thuộc), thủ trưởng đơn vị đào tạo (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo thành viên) kèm theo luận án đã chỉnh sửa; đồng thời nộp lại bản luận án đã chỉnh sửa, hiệu đính kèm công văn của đơn vị đào tạo gửi cho các thư viện để thay thế cho bản luận án đã nộp lưu chiểu (với các trường hợp đã gửi luận án cho các thư viện). Trường hợp quá trình đào tạo và chất lượng luận án sau khi thực hiện quy định tại khoản 4 và khoản 5, Điều này vẫn không đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo xem xét, quyết định thực hiện theo các phương án sau: Nếu nghiên cứu sinh chưa được cấp bằng tiến sĩ, đơn vị đào tạo cho phép nghiên cứu sinh bổ sung, hoàn thiện các điều kiện để được cấp bằng trong thời gian đào tạo ghi tại quyết định công nhận nghiên cứu sinh và bao gồm cả thời gian được phép kéo dài (nếu có) (đối với trường hợp kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo); hoặc sửa đổi, bổ sung và đề nghị được đánh giá lại luận án theo quy định tại khoản 7, Điều 29 của Quy chế này nếu chưa đánh giá lần thứ hai trong thời hạn tối đa 06 tháng (đối với trường hợp thẩm định chất lượng luận án); Nếu nghiên cứu sinh đã được cấp bằng tiến sĩ, việc thu hồi bằng được thực hiện theo quy định hiện hành và trong những trường hợp: Hồ sơ quá trình đào tạo được xác nhận có vi phạm, sai sót nghiêm trọng dẫn đến người được cấp bằng không còn bảo đảm đáp ứng đủ điều kiện dự tuyển, công nhận nghiên cứu sinh và duy trì các điều kiện bảo đảm chất lượng trong quá trình học tập và nghiên cứu tại đơn vị đào tạo; Luận án có nội dung sao chép, trích dẫn không đúng quy định và bị Hội đồng thẩm định kết luận nếu cắt bỏ những phần sao chép, trích dẫn đó thì luận án không đáp ứng yêu cầu quy định của Quy chế này; Luận án của nghiên cứu sinh không được thông qua theo quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này. Trong thời gian tối đa 60 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Đại học Quốc gia Hà Nội về kết quả kiểm tra, thẩm định cuối cùng hoặc ngày có kết quả cuộc họp đối thoại, đơn vị đào tạo có văn bản báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội về việc xử lý kết quả kiểm tra, thẩm định kèm theo minh chứng. Đơn vị đào tạo có từ 20% trở lên số hồ sơ quá trình đào tạo hoặc luận án không đạt yêu cầu kiểm tra/thẩm định trong năm sẽ bị dừng tuyển sinh ít nhất trong một năm kế tiếp; có từ 20% trở lên số luận án không đạt yêu cầu thẩm định trong hai năm liên tiếp sẽ bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ ít nhất trong một năm kế tiếp. Việc dừng các hoạt động này được thông báo công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo và của Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong thời gian bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ, việc tổ chức đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh của các đơn vị đào tạo thành viên do Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện như đối với các đơn vị đào tạo trực thuộc. Đơn vị đào tạo phải có giải pháp khắc phục và báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội kết quả thực hiện các giải pháp đó. Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định cho phép đơn vị đào tạo tiếp tục tuyển sinh, tổ chức Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Có, nếu chất lượng luận án không đạt yêu cầu dựa trên ý kiến thẩm định độc lập của các nhà khoa học (chuyên gia), Đại học Quốc gia Hà Nội sẽ ra quyết định thành lập Hội đồng thẩm định luận án để tiến hành thẩm định lại."
}
],
"id": "36046",
"is_impossible": false,
"question": "Chuyên gia có thể yêu cầu thẩm định lại luận án không nếu phát hiện vấn đề?"
}
]
}
],
"title": "Chuyên gia có thể yêu cầu thẩm định lại luận án không nếu phát hiện vấn đề?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 31. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án Vào ngày làm việc cuối cùng của các tháng chẵn trong năm, các đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội danh sách và thông tin trích ngang của các nghiên cứu sinh bảo vệ luận án trong 02 tháng trước đó. Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, lựa chọn kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án của nghiên cứu sinh. Việc kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án được thực hiện trong các trường hợp sau: Kiểm tra, thẩm định ngẫu nhiên theo yêu cầu của công tác quản lý, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chế này và những quy định có liên quan: Lựa chọn xác suất trong số hồ sơ, luận án đã bảo vệ theo báo cáo của đơn vị đào tạo; Kiểm tra, thẩm định đối với những hồ sơ, luận án cụ thể khi có phản ánh hoặc có đơn thư khiếu nại, tố cáo; Kiểm tra, thẩm định theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quy trình kiểm tra, thẩm định: Trong thời gian 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của đơn vị đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội rà soát và có văn bản thông báo cho đơn vị đào tạo danh sách các trường hợp cần kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo hoặc thẩm định chất lượng luận án; Đơn vị đào tạo có trách nhiệm nộp đầy đủ các hồ sơ/luận án theo yêu cầu kiểm tra, thẩm định của Đại học Quốc gia Hà Nội; Đại học Quốc gia Hà Nội tiến hành kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo trong thời gian tối đa 30 ngày làm việc và thẩm định chất lượng luận án trong thời gian tối đa 90 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ theo quy định tại điểm a, khoản 4 Điều này hoặc điểm a, khoản 5, Điều này; có văn bản thông báo kết quả kiểm tra, thẩm định cho đơn vị đào tạo. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo Danh mục hồ sơ kiểm tra Hồ sơ dự tuyển, thi tuyển, xét tuyển và quyết định công nhận nghiên cứu sinh; Hồ sơ thực hiện quy trình seminar, phản biện độc lập và bảo vệ luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Hồ sơ xét cấp bằng tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 01 bộ. Hồ sơ quá trình đào tạo đạt yêu cầu khi đảm bảo các quy định về tuyển sinh, tổ chức và quản lý đào tạo, quy trình tổ chức đánh giá luận án các cấp theo các quy định tại Quy chế này; Đối với những trường hợp hồ sơ kiểm tra quá trình đào tạo chưa đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo có trách nhiệm giải trình những vấn đề liên quan, bổ sung minh chứng và đề xuất hướng xử lý với Đại học Quốc gia Hà Nội theo quy định hiện hành. Thẩm định chất lượng luận án Hồ sơ thẩm định chất lượng luận án Luận án và tóm tắt luận án đã xoá thông tin về nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn và đơn vị đào tạo; Bản sao các công bố kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh đã xóa thông tin về nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 03 bộ. Chất lượng luận án được thẩm định bằng hình thức lấy ý kiến thẩm định độc lập của 03 nhà khoa học ở trong hoặc ngoài nước, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học hoặc tiến sĩ, đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu như các Phản biện trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định ở điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này, am hiểu đề tài và lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh, có chính kiến và bản lĩnh khoa học, khách quan, trung thực, không trong danh sách những người đã tham gia phản biện độc lập hoặc tham gia Hội đồng đánh giá luận án; Chất lượng luận án đạt yêu cầu thẩm định nếu có ít nhất 02 ý kiến thẩm định đồng ý về chuyên môn; Trường hợp chất lượng luận án không đạt yêu cầu, Đại học Quốc gia Hà Nội ra quyết định thành lập Hội đồng thẩm định luận án và ủy quyền thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức họp Hội đồng thẩm định luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội; đ) Hội đồng thẩm định luận án Hội đồng thẩm định luận án gồm 07 thành viên, trong đó có ít nhất 03 thành viên chưa tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án tại đơn vị chuyên môn, không là phản biện độc lập hoặc trong Hội đồng đánh giá luận án của luận án được thẩm định; những nhà khoa học thẩm định không tán thành luận án là thành viên đương nhiên của Hội đồng; Hội đồng thẩm định luận án có Chủ tịch, Thư ký và các Ủy viên; Tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng thẩm định luận án như tiêu chuẩn của các thành viên trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định tại điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này. Cán bộ hướng dẫn luận án không tham gia vào Hội đồng thẩm định luận án; Trước khi họp Hội đồng thẩm định, các thành viên Hội đồng có bản nhận xét về tính cấp thiết của đề tài luận án, sự phù hợp với ngành/ chuyên ngành; không trùng lặp về đề tài, nội dung, kết quả nghiên cứu với các công trình đã được công bố; tính trung thực, minh bạch trong trích dẫn tư liệu; bố cục và hình thức trình bày; nội dung, phương pháp, kết quả, ý nghĩa, độ tin cậy của các kết quả đạt được; những phát hiện, luận điểm mới của luận án; đánh giá thành công và hạn chế của luận án, khẳng định mức độ đáp ứng yêu cầu của một luận án; Hội đồng chỉ họp khi có mặt ít nhất 06 thành viên Hội đồng bao gồm Chủ tịch, Thư ký và các thành viên Hội đồng có ý kiến không tán thành của hai Hội đồng phải có mặt; Thủ trưởng đơn vị đào tạo trực tiếp điều hành cuộc họp, bầu thư ký. Thành viên của hai Hội đồng tranh luận về nội dung và chất lượng luận án, bỏ phiếu đánh giá lại luận án. Luận án không được thông qua nếu có từ 03 thành viên có mặt tại buổi đối thoại trở lên không tán thành (bỏ phiếu đánh giá ở mức “Không đạt”). Kết quả cuộc họp đối thoại là kết quả thẩm định cuối cùng về chất lượng luận án. Đối với luận án đạt yêu cầu thẩm định nhưng có ý kiến của người thẩm định hoặc của Hội đồng thẩm định yêu cầu phải sửa chữa, trong thời hạn tối đa 45 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo kết quả thẩm định, nghiên cứu sinh cùng với cán bộ hướng dẫn luận án xem xét chỉnh sửa chi tiết các nội dung luận án theo yêu cầu của người/ Hội đồng thẩm định, có bản hiệu đính ghi rõ những nội dung đã được chỉnh sửa (hoặc những nội dung bảo lưu ý kiến) và chỉ rõ số trang tương ứng báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo trực thuộc), thủ trưởng đơn vị đào tạo (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo thành viên) kèm theo luận án đã chỉnh sửa; đồng thời nộp lại bản luận án đã chỉnh sửa, hiệu đính kèm công văn của đơn vị đào tạo gửi cho các thư viện để thay thế cho bản luận án đã nộp lưu chiểu (với các trường hợp đã gửi luận án cho các thư viện). Trường hợp quá trình đào tạo và chất lượng luận án sau khi thực hiện quy định tại khoản 4 và khoản 5, Điều này vẫn không đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo xem xét, quyết định thực hiện theo các phương án sau: Nếu nghiên cứu sinh chưa được cấp bằng tiến sĩ, đơn vị đào tạo cho phép nghiên cứu sinh bổ sung, hoàn thiện các điều kiện để được cấp bằng trong thời gian đào tạo ghi tại quyết định công nhận nghiên cứu sinh và bao gồm cả thời gian được phép kéo dài (nếu có) (đối với trường hợp kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo); hoặc sửa đổi, bổ sung và đề nghị được đánh giá lại luận án theo quy định tại khoản 7, Điều 29 của Quy chế này nếu chưa đánh giá lần thứ hai trong thời hạn tối đa 06 tháng (đối với trường hợp thẩm định chất lượng luận án); Nếu nghiên cứu sinh đã được cấp bằng tiến sĩ, việc thu hồi bằng được thực hiện theo quy định hiện hành và trong những trường hợp: Hồ sơ quá trình đào tạo được xác nhận có vi phạm, sai sót nghiêm trọng dẫn đến người được cấp bằng không còn bảo đảm đáp ứng đủ điều kiện dự tuyển, công nhận nghiên cứu sinh và duy trì các điều kiện bảo đảm chất lượng trong quá trình học tập và nghiên cứu tại đơn vị đào tạo; Luận án có nội dung sao chép, trích dẫn không đúng quy định và bị Hội đồng thẩm định kết luận nếu cắt bỏ những phần sao chép, trích dẫn đó thì luận án không đáp ứng yêu cầu quy định của Quy chế này; Luận án của nghiên cứu sinh không được thông qua theo quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này. Trong thời gian tối đa 60 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Đại học Quốc gia Hà Nội về kết quả kiểm tra, thẩm định cuối cùng hoặc ngày có kết quả cuộc họp đối thoại, đơn vị đào tạo có văn bản báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội về việc xử lý kết quả kiểm tra, thẩm định kèm theo minh chứng. Đơn vị đào tạo có từ 20% trở lên số hồ sơ quá trình đào tạo hoặc luận án không đạt yêu cầu kiểm tra/thẩm định trong năm sẽ bị dừng tuyển sinh ít nhất trong một năm kế tiếp; có từ 20% trở lên số luận án không đạt yêu cầu thẩm định trong hai năm liên tiếp sẽ bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ ít nhất trong một năm kế tiếp. Việc dừng các hoạt động này được thông báo công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo và của Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong thời gian bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ, việc tổ chức đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh của các đơn vị đào tạo thành viên do Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện như đối với các đơn vị đào tạo trực thuộc. Đơn vị đào tạo phải có giải pháp khắc phục và báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội kết quả thực hiện các giải pháp đó. Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định cho phép đơn vị đào tạo tiếp tục tuyển sinh, tổ chức Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Thông tin về việc chuyên gia có thể từ chối thẩm định luận án nếu không đủ thời gian hoặc gặp trở ngại khách quan và cần thông báo cho đơn vị đào tạo trước khi quá hạn thẩm định không được tìm thấy trong tài liệu tham khảo đã cung cấp."
}
],
"id": "36047",
"is_impossible": false,
"question": "Chuyên gia có thể từ chối thẩm định nếu không đủ thời gian không?"
}
]
}
],
"title": "Chuyên gia có thể từ chối thẩm định nếu không đủ thời gian không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 31. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án Vào ngày làm việc cuối cùng của các tháng chẵn trong năm, các đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội danh sách và thông tin trích ngang của các nghiên cứu sinh bảo vệ luận án trong 02 tháng trước đó. Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, lựa chọn kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án của nghiên cứu sinh. Việc kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án được thực hiện trong các trường hợp sau: Kiểm tra, thẩm định ngẫu nhiên theo yêu cầu của công tác quản lý, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chế này và những quy định có liên quan: Lựa chọn xác suất trong số hồ sơ, luận án đã bảo vệ theo báo cáo của đơn vị đào tạo; Kiểm tra, thẩm định đối với những hồ sơ, luận án cụ thể khi có phản ánh hoặc có đơn thư khiếu nại, tố cáo; Kiểm tra, thẩm định theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quy trình kiểm tra, thẩm định: Trong thời gian 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của đơn vị đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội rà soát và có văn bản thông báo cho đơn vị đào tạo danh sách các trường hợp cần kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo hoặc thẩm định chất lượng luận án; Đơn vị đào tạo có trách nhiệm nộp đầy đủ các hồ sơ/luận án theo yêu cầu kiểm tra, thẩm định của Đại học Quốc gia Hà Nội; Đại học Quốc gia Hà Nội tiến hành kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo trong thời gian tối đa 30 ngày làm việc và thẩm định chất lượng luận án trong thời gian tối đa 90 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ theo quy định tại điểm a, khoản 4 Điều này hoặc điểm a, khoản 5, Điều này; có văn bản thông báo kết quả kiểm tra, thẩm định cho đơn vị đào tạo. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo Danh mục hồ sơ kiểm tra Hồ sơ dự tuyển, thi tuyển, xét tuyển và quyết định công nhận nghiên cứu sinh; Hồ sơ thực hiện quy trình seminar, phản biện độc lập và bảo vệ luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Hồ sơ xét cấp bằng tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 01 bộ. Hồ sơ quá trình đào tạo đạt yêu cầu khi đảm bảo các quy định về tuyển sinh, tổ chức và quản lý đào tạo, quy trình tổ chức đánh giá luận án các cấp theo các quy định tại Quy chế này; Đối với những trường hợp hồ sơ kiểm tra quá trình đào tạo chưa đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo có trách nhiệm giảI trình những vấn đề liên quan, bổ sung minh chứng và đề xuất hướng xử lý với Đại học Quốc gia Hà Nội theo quy định hiện hành. Thẩm định chất lượng luận án Hồ sơ thẩm định chất lượng luận án Luận án và tóm tắt luận án đã xoá thông tin về nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn và đơn vị đào tạo; Bản sao các công bố kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh đã xóa thông tin về nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 03 bộ. Chất lượng luận án được thẩm định bằng hình thức lấy ý kiến thẩm định độc lập của 03 nhà khoa học ở trong hoặc ngoài nước, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học hoặc tiến sĩ, đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu như các Phản biện trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định ở điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này, am hiểu đề tài và lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh, có chính kiến và bản lĩnh khoa học, khách quan, trung thực, không trong danh sách những người đã tham gia phản biện độc lập hoặc tham gia Hội đồng đánh giá luận án; Chất lượng luận án đạt yêu cầu thẩm định nếu có ít nhất 02 ý kiến thẩm định đồng ý về chuyên môn; Trường hợp chất lượng luận án không đạt yêu cầu, Đại học Quốc gia Hà Nội ra quyết định thành lập Hội đồng thẩm định luận án và ủy quyền thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức họp Hội đồng thẩm định luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội; đ) Hội đồng thẩm định luận án Hội đồng thẩm định luận án gồm 07 thành viên, trong đó có ít nhất 03 thành viên chưa tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án tại đơn vị chuyên môn, không là phản biện độc lập hoặc trong Hội đồng đánh giá luận án của luận án được thẩm định; những nhà khoa học thẩm định không tán thành luận án là thành viên đương nhiên của Hội đồng; Hội đồng thẩm định luận án có Chủ tịch, Thư ký và các Ủy viên; Tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng thẩm định luận án như tiêu chuẩn của các thành viên trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định tại điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này. Cán bộ hướng dẫn luận án không tham gia vào Hội đồng thẩm định luận án; Trước khi họp Hội đồng thẩm định, các thành viên Hội đồng có bản nhận xét về tính cấp thiết của đề tài luận án, sự phù hợp với ngành/ chuyên ngành; không trùng lặp về đề tài, nội dung, kết quả nghiên cứu với các công trình đã được công bố; tính trung thực, minh bạch trong trích dẫn tư liệu; bố cục và hình thức trình bày; nội dung, phương pháp, kết quả, ý nghĩa, độ tin cậy của các kết quả đạt được; những phát hiện, luận điểm mới của luận án; đánh giá thành công và hạn chế của luận án, khẳng định mức độ đáp ứng yêu cầu của một luận án; Hội đồng chỉ họp khi có mặt ít nhất 06 thành viên Hội đồng bao gồm Chủ tịch, Thư ký và các thành viên Hội đồng có ý kiến không tán thành luận án (nếu có). Hội đồng thẩm định luận án có trách nhiệm xem xét, đánh giá chất lượng luận án; làm rõ những nội dung đơn thư khiếu nại, tố cáo; nội dung nhận xét, kết luận của những người thẩm định độc lập luận án. Hội đồng phải có biên bản ghi chi tiết các ý kiến thảo luận, trao đổi, kết luận và quyết nghị về chất lượng luận án; Luận án không đạt yêu cầu thẩm định khi có từ 02 thành viên Hội đồng có mặt trở lên không tán thành, bỏ phiếu đánh giá luận án ở mức “Không đạt”. Trường hợp luận án không đạt yêu cầu của Hội đồng thẩm định Thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức cuộc họp đối thoại giữa Hội đồng thẩm định luận án với Hội đồng đánh giá luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội. Số lượng thành viên của hai Hội đồng dự họp ít nhất là 12 người, trong đó Chủ tịch, Phản biện, Thư ký và các thành viên có ý kiến không tán thành của hai Hội đồng phải có mặt; Thủ trưởng đơn vị đào tạo trực tiếp điều hành cuộc họp, bầu thư ký. Thành viên của hai Hội đồng tranh luận về nội dung và chất lượng luận án, bỏ phiếu đánh giá lại luận án. Luận án không được thông qua nếu có từ 03 thành viên có mặt tại buổi đối thoại trở lên không tán thành (bỏ phiếu đánh giá ở mức “Không đạt”). Kết quả cuộc họp đối thoại là kết quả thẩm định cuối cùng về chất lượng luận án. Đối với luận án đạt yêu cầu thẩm định nhưng có ý kiến của người thẩm định hoặc của Hội đồng thẩm định yêu cầu phải sửa chữa, trong thời hạn tối đa 45 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo kết quả thẩm định, nghiên cứu sinh cùng với cán bộ hướng dẫn luận án xem xét chỉnh sửa chi tiết các nội dung luận án theo yêu cầu của người/ Hội đồng thẩm định, có bản hiệu đính ghi rõ những nội dung đã được chỉnh sửa (hoặc những nội dung bảo lưu ý kiến) và chỉ rõ số trang tương ứng báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo trực thuộc), thủ trưởng đơn vị đào tạo (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo thành viên) kèm theo luận án đã chỉnh sửa; đồng thời nộp lại bản luận án đã chỉnh sửa, hiệu đính kèm công văn của đơn vị đào tạo gửi cho các thư viện để thay thế cho bản luận án đã nộp lưu chiểu (với các trường hợp đã gửi luận án cho các thư viện). Trường hợp quá trình đào tạo và chất lượng luận án sau khi thực hiện quy định tại khoản 4 và khoản 5, Điều này vẫn không đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo xem xét, quyết định thực hiện theo các phương án sau: Nếu nghiên cứu sinh chưa được cấp bằng tiến sĩ, đơn vị đào tạo cho phép nghiên cứu sinh bổ sung, hoàn thiện các điều kiện để được cấp bằng trong thời gian đào tạo ghi tại quyết định công nhận nghiên cứu sinh và bao gồm cả thời gian được phép kéo dài (nếu có) (đối với trường hợp kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo); hoặc sửa đổi, bổ sung và đề nghị được đánh giá lại luận án theo quy định tại khoản 7, Điều 29 của Quy chế này nếu chưa đánh giá lần thứ hai trong thời hạn tối đa 06 tháng (đối với trường hợp thẩm định chất lượng luận án); Nếu nghiên cứu sinh đã được cấp bằng tiến sĩ, việc thu hồi bằng được thực hiện theo quy định hiện hành và trong những trường hợp: Hồ sơ quá trình đào tạo được xác nhận có vi phạm, sai sót nghiêm trọng dẫn đến người được cấp bằng không còn bảo đảm đáp ứng đủ điều kiện dự tuyển, công nhận nghiên cứu sinh và duy trì các điều kiện bảo đảm chất lượng trong quá trình học tập và nghiên cứu tại đơn vị đào tạo; Luận án có nội dung sao chép, trích dẫn không đúng quy định và bị Hội đồng thẩm định kết luận nếu cắt bỏ những phần sao chép, trích dẫn đó thì luận án không đáp ứng yêu cầu quy định của Quy chế này; Luận án của nghiên cứu sinh không được thông qua theo quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này. Trong thời gian tối đa 60 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Đại học Quốc gia Hà Nội về kết quả kiểm tra, thẩm định cuối cùng hoặc ngày có kết quả cuộc họp đối thoại, đơn vị đào tạo có văn bản báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội về việc xử lý kết quả kiểm tra, thẩm định kèm theo minh chứng. Đơn vị đào tạo có từ 20% trở lên số hồ sơ quá trình đào tạo hoặc luận án không đạt yêu cầu kiểm tra/thẩm định trong năm sẽ bị dừng tuyển sinh ít nhất trong một năm kế tiếp; có từ 20% trở lên số luận án không đạt yêu cầu thẩm định trong hai năm liên tiếp sẽ bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ ít nhất trong một năm kế tiếp. Việc dừng các hoạt động này được thông báo công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo và của Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong thời gian bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ, việc tổ chức đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh của các đơn vị đào tạo thành viên do Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện như đối với các đơn vị đào tạo trực thuộc. Đơn vị đào tạo phải có giải pháp khắc phục và báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội kết quả thực hiện các giải pháp đó. Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định cho phép đơn vị đào tạo tiếp tục tuyển sinh, tổ chức Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Cán bộ nhà trường, thông qua đơn vị đào tạo, có trách nhiệm nộp đầy đủ các hồ sơ và luận án theo yêu cầu kiểm tra, thẩm định của Đại học Quốc gia Hà Nội. Thủ trưởng đơn vị đào tạo cũng chịu trách nhiệm tổ chức họp Hội đồng thẩm định luận án khi được Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập."
}
],
"id": "36048",
"is_impossible": false,
"question": "Cán bộ nhà trường có trách nhiệm gì khi thẩm định chất lượng luận án?"
}
]
}
],
"title": "Cán bộ nhà trường có trách nhiệm gì khi thẩm định chất lượng luận án?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nanĐiều 31. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án Vào ngày làm việc cuối cùng của các tháng chẵn trong năm, các đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội danh sách và thông tin trích ngang của các nghiên cứu sinh bảo vệ luận án trong 02 tháng trước đó. Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, lựa chọn kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án của nghiên cứu sinh. Việc kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án được thực hiện trong các trường hợp sau: Kiểm tra, thẩm định ngẫu nhiên theo yêu cầu của công tác quản lý, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chế này và những quy định có liên quan: Lựa chọn xác suất trong số hồ sơ, luận án đã bảo vệ theo báo cáo của đơn vị đào tạo; Kiểm tra, thẩm định đối với những hồ sơ, luận án cụ thể khi có phản ánh hoặc có đơn thư khiếu nại, tố cáo; Kiểm tra, thẩm định theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quy trình kiểm tra, thẩm định: Trong thời gian 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của đơn vị đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội rà soát và có văn bản thông báo cho đơn vị đào tạo danh sách các trường hợp cần kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo hoặc thẩm định chất lượng luận án; Đơn vị đào tạo có trách nhiệm nộp đầy đủ các hồ sơ/luận án theo yêu cầu kiểm tra, thẩm định của Đại học Quốc gia Hà Nội; Đại học Quốc gia Hà Nội tiến hành kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo trong thời gian tối đa 30 ngày làm việc và thẩm định chất lượng luận án trong thời gian tối đa 90 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ theo quy định tại điểm a, khoản 4 Điều này hoặc điểm a, khoản 5, Điều này; có văn bản thông báo kết quả kiểm tra, thẩm định cho đơn vị đào tạo. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo Danh mục hồ sơ kiểm tra Hồ sơ dự tuyển, thi tuyển, xét tuyển và quyết định công nhận nghiên cứu sinh; Hồ sơ thực hiện quy trình seminar, phản biện độc lập và bảo vệ luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Hồ sơ xét cấp bằng tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 01 bộ. Hồ sơ quá trình đào tạo đạt yêu cầu khi đảm bảo các quy định về tuyển sinh, tổ chức và quản lý đào tạo, quy trình tổ chức đánh giá luận án các cấp theo các quy định tại Quy chế này; Đối với những trường hợp hồ sơ kiểm tra quá trình đào tạo chưa đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo có trách nhiệm giải trình những vấn đề liên quan, bổ sung minh chứng và đề xuất hướng xử lý với Đại học Quốc gia Hà Nội theo quy định hiện hành. Thẩm định chất lượng luận án Hồ sơ thẩm định chất lượng luận án Luận án và tóm tắt luận án đã xoá thông tin về nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn và đơn vị đào tạo; Bản sao các công bố kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh đã xóa thông tin về nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 03 bộ. Chất lượng luận án được thẩm định bằng hình thức lấy ý kiến thẩm định độc lập của 03 nhà khoa học ở trong hoặc ngoài nước, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học hoặc tiến sĩ, đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu như các Phản biện trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định ở điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này, am hiểu đề tài và lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh, có chính kiến và bản lĩnh khoa học, khách quan, trung thực, không trong danh sách những người đã tham gia phản biện độc lập hoặc tham gia Hội đồng đánh giá luận án; Chất lượng luận án đạt yêu cầu thẩm định nếu có ít nhất 02 ý kiến thẩm định đồng ý về chuyên môn; Trường hợp chất lượng luận án không đạt yêu cầu, Đại học Quốc gia Hà Nội ra quyết định thành lập Hội đồng thẩm định luận án và ủy quyền thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức họp Hội đồng thẩm định luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội; đ) Hội đồng thẩm định luận án Hội đồng thẩm định luận án gồm 07 thành viên, trong đó có ít nhất 03 thành viên chưa tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án tại đơn vị chuyên môn, không là phản biện độc lập hoặc trong Hội đồng đánh giá luận án của luận án được thẩm định; những nhà khoa học thẩm định không tán thành luận án là thành viên đương nhiên của Hội đồng; Hội đồng thẩm định luận án có Chủ tịch, Thư ký và các Ủy viên; Tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng thẩm định luận án như tiêu chuẩn của các thành viên trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định tại điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này. Cán bộ hướng dẫn luận án không tham gia vào Hội đồng thẩm định luận án; Trước khi họp Hội đồng thẩm định, các thành viên Hội đồng có bản nhận xét về tính cấp thiết của đề tài luận án, sự phù hợp với ngành/ chuyên ngành; không trùng lặp về đề tài, nội dung, kết quả nghiên cứu với các công trình đã được công bố; tính trung thực, minh bạch trong trích dẫn tư liệu; bố cục và hình thức trình bày; nội dung, phương pháp, kết quả, ý nghĩa, độ tin cậy của các kết quả đạt được; những phát hiện, luận điểm mới của luận án; đánh giá thành công và hạn chế của luận án, khẳng định mức độ đáp ứng yêu cầu của một luận án; Hội đồng chỉ họp khi có mặt ít nhất 06 thành viên Hội đồng bao gồm Chủ tịch, Thư ký và các thành viên Hội đồng có ý kiến không tán thành luận án (nếu có). Hội đồng thẩm định luận án có trách nhiệm xem xét, đánh giá chất lượng luận án; làm rõ những nội dung đơn thư khiếu nại, tố cáo; nội dung nhận xét, kết luận của những người thẩm định độc lập luận án. Hội đồng phải có biên bản ghi chi tiết các ý kiến thảo luận, trao đổi, kết luận và quyết nghị về chất lượng luận án; Luận án không đạt yêu cầu thẩm định khi có từ 02 thành viên Hội đồng có mặt trở lên không tán thành, bỏ phiếu đánh giá luận án ở mức “Không đạt”. Trường hợp luận án không đạt yêu cầu của Hội đồng thẩm định Thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức cuộc họp đối thoại giữa Hội đồng thẩm định luận án với Hội đồng đánh giá luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội. Số lượng thành viên của hai Hội đồng dự họp ít nhất là 12 người, trong đó Chủ tịch, Phản biện, Thư ký và các thành viên có ý kiến không tán thành của hai Hội đồng phải có mặt; Thủ trưởng đơn vị đào tạo trực tiếp điều hành cuộc họp, bầu thư ký. Thành viên của hai Hội đồng tranh luận về nội dung và chất lượng luận án, bỏ phiếu đánh giá lại luận án. Luận án không được thông qua nếu có từ 03 thành viên có mặt tại buổi đối thoại trở lên không tán thành (bỏ phiếu đánh giá ở mức “Không đạt”). Kết quả cuộc họp đối thoại là kết quả thẩm định cuối cùng về chất lượng luận án. Đối với luận án đạt yêu cầu thẩm định nhưng có ý kiến của người thẩm định hoặc của Hội đồng thẩm định yêu cầu phải sửa chữa, trong thời hạn tối đa 45 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo kết quả thẩm định, nghiên cứu sinh cùng với cán bộ hướng dẫn luận án xem xét chỉnh sửa chi tiết các nội dung luận án theo yêu cầu của người/ Hội đồng thẩm định, có bản hiệu đính ghi rõ những nội dung đã được chỉnh sửa (hoặc những nội dung bảo lưu ý kiến) và chỉ rõ số trang tương ứng báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo trực thuộc), thủ trưởng đơn vị đào tạo (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo thành viên) kèm theo luận án đã chỉnh sửa; đồng thời nộp lại bản luận án đã chỉnh sửa, hiệu đính kèm công văn của đơn vị đào tạo gửi cho các thư viện để thay thế cho bản luận án đã nộp lưu chiểu (với các trường hợp đã gửi luận án cho các thư viện). Trường hợp quá trình đào tạo và chất lượng luận án sau khi thực hiện quy định tại khoản 4 và khoản 5, Điều này vẫn không đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo xem xét, quyết định thực hiện theo các phương án sau: Nếu nghiên cứu sinh chưa được cấp bằng tiến sĩ, đơn vị đào tạo cho phép nghiên cứu sinh bổ sung, hoàn thiện các điều kiện để được cấp bằng trong thời gian đào tạo ghi tại quyết định công nhận nghiên cứu sinh và bao gồm cả thời gian được phép kéo dài (nếu có) (đối với trường hợp kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo); hoặc sửa đổi, bổ sung và đề nghị được đánh giá lại luận án theo quy định tại khoản 7, Điều 29 của Quy chế này nếu chưa đánh giá lần thứ hai trong thời hạn tối đa 06 tháng (đối với trường hợp thẩm định chất lượng luận án); Nếu nghiên cứu sinh đã được cấp bằng tiến sĩ, việc thu hồi bằng được thực hiện theo quy định hiện hành và trong những trường hợp: Hồ sơ quá trình đào tạo được xác nhận có vi phạm, sai sót nghiêm trọng dẫn đến người được cấp bằng không còn bảo đảm đáp ứng đủ điều kiện dự tuyển, công nhận nghiên cứu sinh và duy trì các điều kiện bảo đảm chất lượng trong quá trình học tập và nghiên cứu tại đơn vị đào tạo; Luận án có nội dung sao chép, trích dẫn không đúng quy định và bị Hội đồng thẩm định kết luận nếu cắt bỏ những phần sao chép, trích dẫn đó thì luận án không đáp ứng yêu cầu quy định của Quy chế này; Luận án của nghiên cứu sinh không được thông qua theo quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này. Trong thời gian tối đa 60 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Đại học Quốc gia Hà Nội về kết quả kiểm tra, thẩm định cuối cùng hoặc ngày có kết quả cuộc họp đối thoại, đơn vị đào tạo có văn bản báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội về việc xử lý kết quả kiểm tra, thẩm định kèm theo minh chứng. Đơn vị đào tạo có từ 20% trở lên số hồ sơ quá trình đào tạo hoặc luận án không đạt yêu cầu kiểm tra/thẩm định trong năm sẽ bị dừng tuyển sinh ít nhất trong một năm kế tiếp; có từ 20% trở lên số luận án không đạt yêu cầu thẩm định trong hai năm liên tiếp sẽ bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ ít nhất trong một năm kế tiếp. Việc dừng các hoạt động này được thông báo công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo và của Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong thời gian bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ, việc tổ chức đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh của các đơn vị đào tạo thành viên do Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện như đối với các đơn vị đào tạo trực thuộc. Đơn vị đào tạo phải có giải pháp khắc phục và báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội kết quả thực hiện các giải pháp đó. Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định cho phép đơn vị đào tạo tiếp tục tuyển sinh, tổ chức Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Khi hồ sơ kiểm tra quá trình đào tạo chưa đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo có trách nhiệm giải trình những vấn đề liên quan, bổ sung minh chứng và đề xuất hướng xử lý với Đại học Quốc gia Hà Nội theo quy định hiện hành."
}
],
"id": "36049",
"is_impossible": false,
"question": "Cán bộ nhà trường cần làm gì khi hồ sơ đào tạo không đạt yêu cầu kiểm tra?"
}
]
}
],
"title": "Cán bộ nhà trường cần làm gì khi hồ sơ đào tạo không đạt yêu cầu kiểm tra?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 31. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án Vào ngày làm việc cuối cùng của các tháng chẵn trong năm, các đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội danh sách và thông tin trích ngang của các nghiên cứu sinh bảo vệ luận án trong 02 tháng trước đó. Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, lựa chọn kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án của nghiên cứu sinh. Việc kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án được thực hiện trong các trường hợp sau: Kiểm tra, thẩm định ngẫu nhiên theo yêu cầu của công tác quản lý, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chế này và những quy định có liên quan: Lựa chọn xác suất trong số hồ sơ, luận án đã bảo vệ theo báo cáo của đơn vị đào tạo; Kiểm tra, thẩm định đối với những hồ sơ, luận án cụ thể khi có phản ánh hoặc có đơn thư khiếu nại, tố cáo; Kiểm tra, thẩm định theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quy trình kiểm tra, thẩm định: Trong thời gian 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của đơn vị đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội rà soát và có văn bản thông báo cho đơn vị đào tạo danh sách các trường hợp cần kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo hoặc thẩm định chất lượng luận án; Đơn vị đào tạo có trách nhiệm nộp đầy đủ các hồ sơ/luận án theo yêu cầu kiểm tra, thẩm định của Đại học Quốc gia Hà Nội; Đại học Quốc gia Hà Nội tiến hành kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo trong thời gian tối đa 30 ngày làm việc và thẩm định chất lượng luận án trong thời gian tối đa 90 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ theo quy định tại điểm a, khoản 4 Điều này hoặc điểm a, khoản 5, Điều này; có văn bản thông báo kết quả kiểm tra, thẩm định cho đơn vị đào tạo. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo Danh mục hồ sơ kiểm tra Hồ sơ dự tuyển, thi tuyển, xét tuyển và quyết định công nhận nghiên cứu sinh; Hồ sơ thực hiện quy trình seminar, phản biện độc lập và bảo vệ luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Hồ sơ xét cấp bằng tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 01 bộ. Hồ sơ quá trình đào tạo đạt yêu cầu khi đảm bảo các quy định về tuyển sinh, tổ chức và quản lý đào tạo, quy trình tổ chức đánh giá luận án các cấp theo các quy định tại Quy chế này; Đối với những trường hợp hồ sơ kiểm tra quá trình đào tạo chưa đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo có trách nhiệm giải trình những vấn đề liên quan, bổ sung minh chứng và đề xuất hướng xử lý với Đại học Quốc gia Hà Nội theo quy định hiện hành. Thẩm định chất lượng luận án Hồ sơ thẩm định chất lượng luận án Luận án và tóm tắt luận án đã xoá thông tin về nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn và đơn vị đào tạo; Bản sao các công bố kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh đã xóa thông tin về nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 03 bộ. Chất lượng luận án được thẩm định bằng hình thức lấy ý kiến thẩm định độc lập của 03 nhà khoa học ở trong hoặc ngoài nước, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học hoặc tiến sĩ, đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu như các Phản biện trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định ở điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này, am hiểu đề tài và lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh, có chính kiến và bản lĩnh khoa học, khách quan, trung thực, không trong danh sách những người đã tham gia phản biện độc lập hoặc tham gia Hội đồng đánh giá luận án; Chất lượng luận án đạt yêu cầu thẩm định nếu có ít nhất 02 ý kiến thẩm định đồng ý về chuyên môn; Trường hợp chất lượng luận án không đạt yêu cầu, Đại học Quốc gia Hà Nội ra quyết định thành lập Hội đồng thẩm định luận án và ủy quyền thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức họp Hội đồng thẩm định luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội; đ) Hội đồng thẩm định luận án Hội đồng thẩm định luận án gồm 07 thành viên, trong đó có ít nhất 03 thành viên chưa tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án tại đơn vị chuyên môn, không là phản biện độc lập hoặc trong Hội đồng đánh giá luận án của luận án được thẩm định; những nhà khoa học thẩm định không tán thành luận án là thành viên đương nhiên của Hội đồng; Hội đồng thẩm định luận án có Chủ tịch, Thư ký và các Ủy viên; Tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng thẩm định luận án như tiêu chuẩn của các thành viên trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định tại điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này. Cán bộ hướng dẫn luận án không tham gia vào Hội đồng thẩm định luận án; Trước khi họp Hội đồng thẩm định, các thành viên Hội đồng có bản nhận xét về tính cấp thiết của đề tài luận án, sự phù hợp với ngành/ chuyên ngành; không trùng lặp về đề tài, nội dung, kết quả nghiên cứu với các công trình đã được công bố; tính trung thực, minh bạch trong trích dẫn tư liệu; bố cục và hình thức trình bày; nội dung, phương pháp, kết quả, ý nghĩa, độ tin cậy của các kết quả đạt được; những phát hiện, luận điểm mới của luận án; đánh giá thành công và hạn chế của luận án, khẳng định mức độ đáp ứng yêu cầu của một luận án; Hội đồng chỉ họp khi có mặt ít nhất 06 thành viên Hội đồng bao gồm Chủ tịch, Thư ký và các thành viên Hội đồng có ý kiến không tán thành luận án (nếu có). Hội đồng thẩm định luận án có trách nhiệm xem xét, đánh giá chất lượng luận án; làm rõ những nội dung đơn thư khiếu nại, tố cáo; nội dung nhận xét, kết luận của những người thẩm định độc lập luận án. Hội đồng phải có biên bản ghi chi tiết các ý kiến thảo luận, trao đổi, kết luận và quyết nghị về chất lượng luận án; Luận án không đạt yêu cầu thẩm định khi có từ 02 thành viên Hội đồng có mặt trở lên không tán thành, bỏ phiếu đánh giá luận án ở mức “Không đạt”. Trường hợp luận án không đạt yêu cầu của Hội đồng thẩm định Thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức cuộc họp đối thoại giữa Hội đồng thẩm định luận án với Hội đồng đánh giá luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội. Số lượng thành viên của hai Hội đồng dự họp ít nhất là 12 người, trong đó Chủ tịch, Phản biện, Thư ký và các thành viên có ý kiến không tán thành của hai Hội đồng phải có mặt; Thủ trưởng đơn vị đào tạo trực tiếp điều hành cuộc họp, bầu thư ký. Thành viên của hai Hội đồng tranh luận về nội dung và chất lượng luận án, bỏ phiếu đánh giá lại luận án. Luận án không được thông qua nếu có từ 03 thành viên có mặt tại buổi đối thoại trở lên không tán thành (bỏ phiếu đánh giá ở mức “Không đạt”). Kết quả cuộc họp đối thoại là kết quả thẩm định cuối cùng về chất lượng luận án. Đối với luận án đạt yêu cầu thẩm định nhưng có ý kiến của người thẩm định hoặc của Hội đồng thẩm định yêu cầu phải sửa chữa, trong thời hạn tối đa 45 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo kết quả thẩm định, nghiên cứu sinh cùng với cán bộ hướng dẫn luận án xem xét chỉnh sửa chi tiết các nội dung luận án theo yêu cầu của người/ Hội đồng thẩm định, có bản hiệu đính ghi rõ những nội dung đã được chỉnh sửa (hoặc những nội dung bảo lưu ý kiến) và chỉ rõ số trang tương ứng báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo trực thuộc), thủ trưởng đơn vị đào tạo (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo thành viên) kèm theo luận án đã chỉnh sửa; đồng thời nộp lại bản luận án đã chỉnh sửa, hiệu đính kèm công văn của đơn vị đào tạo gửi cho các thư viện để thay thế cho bản luận án đã nộp lưu chiểu (với các trường hợp đã gửi luận án cho các thư viện). Trường hợp quá trình đào tạo và chất lượng luận án sau khi thực hiện quy định tại khoản 4 và khoản 5, Điều này vẫn không đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo xem xét, quyết định thực hiện theo các phương án sau: Nếu nghiên cứu sinh chưa được cấp bằng tiến sĩ, đơn vị đào tạo cho phép nghiên cứu sinh bổ sung, hoàn thiện các điều kiện để được cấp bằng trong thời gian đào tạo ghi tại quyết định công nhận nghiên cứu sinh và bao gồm cả thời gian được phép kéo dài (nếu có) (đối với trường hợp kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo); hoặc sửa đổi, bổ sung và đề nghị được đánh giá lại luận án theo quy định tại khoản 7, Điều 29 của Quy chế này nếu chưa đánh giá lần thứ hai trong thời hạn tối đa 06 tháng (đối với trường hợp thẩm định chất lượng luận án); Nếu nghiên cứu sinh đã được cấp bằng tiến sĩ, việc thu hồi bằng được thực hiện theo quy định hiện hành và trong những trường hợp: Hồ sơ quá trình đào tạo được xác nhận có vi phạm, sai sót nghiêm trọng dẫn đến người được cấp bằng không còn bảo đảm đáp ứng đủ điều kiện dự tuyển, công nhận nghiên cứu sinh và duy trì các điều kiện bảo đảm chất lượng trong quá trình học tập và nghiên cứu tại đơn vị đào tạo; Luận án có nội dung sao chép, trích dẫn không đúng quy định và bị Hội đồng thẩm định kết luận nếu cắt bỏ những phần sao chép, trích dẫn đó thì luận án không đáp ứng yêu cầu quy định của Quy chế này; Luận án của nghiên cứu sinh không được thông qua theo quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này. Trong thời gian tối đa 60 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Đại học Quốc gia Hà Nội về kết quả kiểm tra, thẩm định cuối cùng hoặc ngày có kết quả cuộc họp đối thoại, đơn vị đào tạo có văn bản báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội về việc xử lý kết quả kiểm tra, thẩm định kèm theo minh chứng. Đơn vị đào tạo có từ 20% trở lên số hồ sơ quá trình đào tạo hoặc luận án không đạt yêu cầu kiểm tra/thẩm định trong năm sẽ bị dừng tuyển sinh ít nhất trong một năm kế tiếp; có từ 20% trở lên số luận án không đạt yêu cầu thẩm định trong hai năm liên tiếp sẽ bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ ít nhất trong một năm kế tiếp. Việc dừng các hoạt động này được thông báo công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo và của Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong thời gian bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ, việc tổ chức đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh của các đơn vị đào tạo thành viên do Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện như đối với các đơn vị đào tạo trực thuộc. Đơn vị đào tạo phải có giải pháp khắc phục và báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội kết quả thực hiện các giải pháp đó. Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định cho phép đơn vị đào tạo tiếp tục tuyển sinh, tổ chức Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Theo Điều 31, nếu một đơn vị đào tạo có từ 20% trở lên số hồ sơ quá trình đào tạo hoặc luận án không đạt yêu cầu kiểm tra/thẩm định trong năm, đơn vị đó sẽ bị dừng tuyển sinh ít nhất trong một năm kế tiếp. Ngoài ra, nếu có từ 20% trở lên số luận án không đạt yêu cầu thẩm định trong hai năm liên tiếp, đơn vị sẽ bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ ít nhất trong một năm kế tiếp. Tuy nhiên, quy định này không trực tiếp đề cập đến việc cán bộ nhà trường có bị ảnh hưởng hay không."
}
],
"id": "36050",
"is_impossible": false,
"question": "Cán bộ nhà trường có thể bị ảnh hưởng nếu có quá nhiều hồ sơ không đạt yêu cầu kiểm tra không?"
}
]
}
],
"title": "Cán bộ nhà trường có thể bị ảnh hưởng nếu có quá nhiều hồ sơ không đạt yêu cầu kiểm tra không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 25. Yêu cầu đối với luận án Luận án tiến sĩ phải đáp ứng các yêu cầu sau đây: Luận án tiến sĩ là kết quả nghiên cứu khoa học của nghiên cứu sinh, chứa đựng những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn ở lĩnh vực chuyên môn, có giá trị trong việc phát triển, gia tăng tri thức khoa học và giải quyết trọn vẹn vấn đề đặt ra của đề tài luận án; Nghiên cứu sinh phải trình bày nội dung, kế hoạch nghiên cứu trước đơn vị chuyên môn chậm nhất 03 tháng sau khi nhận đề tài luận án và báo cáo kết quả nghiên cứu 06 tháng/1 lần trong thời gian thực hiện luận án. Những kết quả đánh giá báo cáo là điều kiện để xem xét cho nghiên cứu sinh bảo vệ luận án; Có cam đoan và chữ ký của nghiên cứu sinh về nội dung luận án; Cấu trúc của luận án tiến sĩ phải đảm bảo tối thiểu có các phần sau: Mở đầu: giới thiệu tóm tắt về công trình nghiên cứu, lý do lựa chọn đề tài, mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học hoặc thực tiễn của đề tài; Tổng quan về vấn đề nghiên cứu: phân tích, đánh giá các công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đề tài luận án đã được công bố ở trong và ngoài nước, chỉ ra những vấn đề mà luận án sẽ tập trung giải quyết, xác định mục tiêu của đề tài, nội dung và phương pháp nghiên cứu; Cơ sở lý thuyết, lý luận và giả thuyết khoa học; phương pháp nghiên cứu; kết quả nghiên cứu và phân tích đánh giá; Kết luận và kiến nghị: trình bày những phát hiện mới, những kết luận rút ra từ kết quả nghiên cứu; kiến nghị về những nghiên cứu tiếp theo; Danh mục tài liệu tham khảo được trích dẫn và sử dụng trong luận án; Danh mục các công trình/bài báo đã công bố liên quan đến đề tài luận án của nghiên cứu sinh kèm theo văn bản đồng ý của các đồng tác giả (nếu có); Phụ lục (nếu có). đ) Tuân thủ các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ được quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ: Kết quả nghiên cứu trong luận án phải là kết quả lao động của chính nghiên cứu sinh thu được chủ yếu trong thời gian đào tạo. Nếu sử dụng kết quả, tài liệu của người khác thì phải được tác giả đồng ý và trích dẫn tường minh. Nếu luận án là công trình khoa học hoặc một phần công trình khoa học của một tập thể trong đó nghiên cứu sinh đóng góp phần chính thì phải xuất trình các văn bản thể hiện sự nhất trí của các thành viên trong tập thể đó đồng ý cho nghiên cứu sinh sử dụng kết quả chung của tập thể để viết luận án; Luận án và tất cả các công trình nghiên cứu khoa học trước khi gửi xuất bản, công bố hoặc bảo vệ phải được kiểm tra sao chép, trùng lặp; Yêu cầu về công bố khoa học: Đáp ứng yêu cầu tối thiểu về công bố theo chuẩn đầu ra tại điểm a, khoản 3, Điều 18 của Quy chế này; Luận án được viết bằng tiếng Việt, sử dụng chữ thuộc mã Unicode, loại chữ Times New Roman, cỡ chữ 13, và không quá 200 trang A4 đối với lĩnh vực khoa học tự nhiên, kỹ thuật, công nghệ và không quá 300 trang đối với các lĩnh vực còn lại, không kể phụ lục, trong đó có cam đoan của nghiên cứu sinh về nội dung luận án, ít nhất 50% số trang trình bày kết quả nghiên cứu và biện luận của riêng nghiên cứu sinh; Bản tóm tắt luận án phản ánh trung thực kết cấu, bố cục và nội dung của luận án, phải ghi đầy đủ toàn văn kết luận của luận án. Bản thông tin luận án khoảng 03 đến 05 trang (300 đến 500 chữ) bằng tiếng Việt và tiếng Anh trình bày tóm tắt những nội dung cơ bản, những nội dung mới và những kết quả nghiên cứu, đóng góp quan trọng nhất của luận án; Khuyến khích nghiên cứu sinh viết luận án và bảo vệ luận án bằng tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài khác; Đối với các chuyên ngành ngoại ngữ, luận án và tóm tắt luận án được viết bằng tiếng nước ngoài tương ứng, kèm theo một bản tóm tắt luận án viết bằng tiếng Việt và luận án được bảo vệ trước Hội đồng bằng tiếng nước ngoài. Luận án của chương trình đào tạo tiến sĩ liên kết quốc tế phải đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1, Điều này. Ngoài ra, luận án của chương trình đào tạo tiến sĩ liên kết quốc tế do Đại học Quốc gia Hà Nội và đối tác nước ngoài cùng cấp bằng phải đáp ứng các yêu cầu theo văn bản thỏa thuận với đối tác nước ngoài.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nghiên cứu sinh được khuyến khích viết và bảo vệ luận án bằng tiếng Anh. Về yêu cầu công bố khoa học, bạn cần đáp ứng các yêu cầu tối thiểu về công bố theo chuẩn đầu ra được quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 18 của Quy chế này."
}
],
"id": "36051",
"is_impossible": false,
"question": "Em có thể bảo vệ luận án tiến sĩ bằng tiếng Anh và đồng thời công bố nghiên cứu của mình trên các tạp chí quốc tế không?"
}
]
}
],
"title": "Em có thể bảo vệ luận án tiến sĩ bằng tiếng Anh và đồng thời công bố nghiên cứu của mình trên các tạp chí quốc tế không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nanĐiều 25. Yêu cầu đối với luận án Luận án tiến sĩ phải đáp ứng các yêu cầu sau đây: Luận án tiến sĩ là kết quả nghiên cứu khoa học của nghiên cứu sinh, chứa đựng những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn ở lĩnh vực chuyên môn, có giá trị trong việc phát triển, gia tăng tri thức khoa học và giải quyết trọn vẹn vấn đề đặt ra của đề tài luận án; Nghiên cứu sinh phải trình bày nội dung, kế hoạch nghiên cứu trước đơn vị chuyên môn chậm nhất 03 tháng sau khi nhận đề tài luận án và báo cáo kết quả nghiên cứu 06 tháng/1 lần trong thời gian thực hiện luận án. Những kết quả đánh giá báo cáo là điều kiện để xem xét cho nghiên cứu sinh bảo vệ luận án; Có cam đoan và chữ ký của nghiên cứu sinh về nội dung luận án; Cấu trúc của luận án tiến sĩ phải đảm bảo tối thiểu có các phần sau: Mở đầu: giới thiệu tóm tắt về công trình nghiên cứu, lý do lựa chọn đề tài, mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học hoặc thực tiễn của đề tài; Tổng quan về vấn đề nghiên cứu: phân tích, đánh giá các công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đề tài luận án đã được công bố ở trong và ngoài nước, chỉ ra những vấn đề mà luận án sẽ tập trung giải quyết, xác định mục tiêu của đề tài, nội dung và phương pháp nghiên cứu; Cơ sở lý thuyết, lý luận và giả thuyết khoa học; phương pháp nghiên cứu; kết quả nghiên cứu và phân tích đánh giá; Kết luận và kiến nghị: trình bày những phát hiện mới, những kết luận rút ra từ kết quả nghiên cứu; kiến nghị về những nghiên cứu tiếp theo; Danh mục tài liệu tham khảo được trích dẫn và sử dụng trong luận án; Danh mục các công trình/bài báo đã công bố liên quan đến đề tài luận án của nghiên cứu sinh kèm theo văn bản đồng ý của các đồng tác giả (nếu có); Phụ lục (nếu có). đ) Tuân thủ các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ được quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ: Kết quả nghiên cứu trong luận án phải là kết quả lao động của chính nghiên cứu sinh thu được chủ yếu trong thời gian đào tạo. Nếu sử dụng kết quả, tài liệu của người khác thì phải được tác giả đồng ý và trích dẫn tường minh. Nếu luận án là công trình khoa học hoặc một phần công trình khoa học của một tập thể trong đó nghiên cứu sinh đóng góp phần chính thì phải xuất trình các văn bản thể hiện sự nhất trí của các thành viên trong tập thể đó đồng ý cho nghiên cứu sinh sử dụng kết quả chung của tập thể để viết luận án; Luận án và tất cả các công trình nghiên cứu khoa học trước khi gửi xuất bản, công bố hoặc bảo vệ phải được kiểm tra sao chép, trùng lặp; Yêu cầu về công bố khoa học: Đáp ứng yêu cầu tối thiểu về công bố theo chuẩn đầu ra tại điểm a, khoản 3, Điều 18 của Quy chế này; Luận án được viết bằng tiếng Việt, sử dụng chữ thuộc mã Unicode, loại chữ Times New Roman, cỡ chữ 13, và không quá 200 trang A4 đối với lĩnh vực khoa học tự nhiên, kỹ thuật, công nghệ và không quá 300 trang đối với các lĩnh vực còn lại, không kể phụ lục, trong đó có cam đoan của nghiên cứu sinh về nội dung luận án, ít nhất 50% số trang trình bày kết quả nghiên cứu và biện luận của riêng nghiên cứu sinh; Bản tóm tắt luận án phản ánh trung thực kết cấu, bố cục và nội dung của luận án, phải ghi đầy đủ toàn văn kết luận của luận án. Bản thông tin luận án khoảng 03 đến 05 trang (300 đến 500 chữ) bằng tiếng Việt và tiếng Anh trình bày tóm tắt những nội dung cơ bản, những nội dung mới và những kết quả nghiên cứu, đóng góp quan trọng nhất của luận án; Khuyến khích nghiên cứu sinh viết luận án và bảo vệ luận án bằng tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài khác; Đối với các chuyên ngành ngoại ngữ, luận án và tóm tắt luận án được viết bằng tiếng nước ngoài tương ứng, kèm theo một bản tóm tắt luận án viết bằng tiếng Việt và luận án được bảo vệ trước Hội đồng bằng tiếng nước ngoài. Luận án của chương trình đào tạo tiến sĩ liên kết quốc tế phải đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1, Điều này. Ngoài ra, luận án của chương trình đào tạo tiến sĩ liên kết quốc tế do Đại học Quốc gia Hà Nội và đối tác nước ngoài cùng cấp bằng phải đáp ứng các yêu cầu theo văn bản thỏa thuận với đối tác nước ngoài.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Luận án tiến sĩ cần phải là kết quả nghiên cứu khoa học của nghiên cứu sinh, chứa đựng những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn ở lĩnh vực chuyên môn, có giá trị trong việc phát triển, gia tăng tri thức khoa học và giải quyết trọn vẹn vấn đề đặt ra của đề tài luận án. Tuy nhiên, thông tin về việc gia hạn thời gian làm luận án không được cung cấp trong tài liệu tham khảo hiện có."
}
],
"id": "36052",
"is_impossible": false,
"question": "Luận án của em cần có phần nghiên cứu khoa học và các đề xuất mới không, và em có thể gia hạn thời gian làm luận án không?"
}
]
}
],
"title": "Luận án của em cần có phần nghiên cứu khoa học và các đề xuất mới không, và em có thể gia hạn thời gian làm luận án không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 28. Phản biện độc lập luận án Trong thời gian không quá 03 tháng kể từ ngày luận án được thông qua ở cấp đơn vị chuyên môn, nghiên cứu sinh hoàn thiện luận án và đơn vị chuyên môn gửi hồ sơ đề nghị tiếp tục quy trình đánh giá luận án về bộ phận quản lý đào tạo sau đại học của các đơn vị đào tạo. Các đơn vị đào tạo trực thuộc chuyển các hồ sơ trên về Ban Đào tạo để tiến hành lấy ý kiến của các phản biện độc lập đánh giá chất lượng luận án và chuẩn bị các thủ tục để thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo thành viên hoặc Ban Đào tạo mời 02 chuyên gia phản biện độc lập luận án (theo mẫu ở Phụ lục IV). Phản biện độc lập phải đáp ứng các tiêu chuẩn như đối với người hướng dẫn chính luận án được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, đồng thời đáp ứng các yêu cầu sau: Thuộc 02 cơ quan công tác khác nhau ngoài đơn vị đào tạo, trong đó có ít nhất 01 phản biện ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội. Với người đã nghỉ hưu, cơ quan công tác được tính là đơn vị ban hành quyết định cho nghỉ hưu; Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án; Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không tham dự vào buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Ý kiến của phản biện độc lập có giá trị tư vấn cho thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên và Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo, đơn vị thụ lí hồ sơ đánh giá luận án có trách nhiệm bảo mật thông tin của phản biện độc lập. Nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh không được tìm hiểu, tiếp xúc hoặc trao đổi với phản biện độc lập dưới bất kỳ hình thức nào. Danh sách phản biện độc lập là tài liệu mật của đơn vị đào tạo. Phản biện độc lập có nhiệm vụ đọc luận án, các công trình khoa học đã công bố của nghiên cứu sinh và có ý kiến đánh giá về giá trị khoa học, những đóng góp, đặc biệt là những đóng góp mới của luận án cho lĩnh vực khoa học chuyên ngành; những điểm đúng, những điểm sai hoặc cần sửa chữa của luận án; sự phù hợp của đề tài luận án với mã số ngành/chuyên ngành; sự không trùng lặp của đề tài, số liệu, kết quả nghiên cứu, kết luận của luận án với các đề tài, luận án, luận văn, công trình khoa học khác; tính trung thực, rõ ràng và đầy đủ trong trích dẫn; sự phản ánh kết quả luận án trong những công trình đã công bố; nhận định về nội dung, chất lượng những công trình đã công bố; những yêu cầu đòi hỏi nghiên cứu sinh phải bổ sung, hoàn chỉnh luận án (nếu có). Để kết luận, phản biện độc lập cần cho ý kiến ở 1 trong 3 mức: đồng ý, đồng ý nhưng yêu cầu sửa chữa, bổ sung hoặc không đồng ý để luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án. Trong trường hợp, phản biện độc lập đánh giá ở mức đồng ý nhưng có yêu cầu sửa chữa bổ sung, nghiên cứu sinh cần tiếp thu và sửa chữa, hoặc bảo lưu và giải trình, không cần gửi lại cho người phản biện để lấy ý kiến đồng ý hay không đồng ý nhưng phải được giải trình bằng văn bản để lưu hồ sơ và trình bày công khai trước Hội đồng đánh giá luận án. Hội đồng xem xét nội dung đó để đánh giá. Phản biện độc lập bảo mật thông tin về việc nhận xét luận án và không tiếp xúc với nghiên cứu sinh hay cán bộ hướng dẫn. Mọi yêu cầu của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn đều phải thông qua đơn vị thụ lý hồ sơ đánh giá luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh. Phản biện độc lập gửi nhận xét luận án trong thời hạn theo thư mời của đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo (tối đa 02 tháng). Sau thời gian tối đa 03 tháng kể từ ngày phản biện độc lập nhận được hồ sơ luận án mà đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo không nhận được bản nhận xét của phản biện độc lập, đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo có thể mời phản biện độc lập khác thay thế. Xử lý kết quả phản biện độc lập luận án Trường hợp cả 02 phản biện độc lập tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu một trong hai phản biện độc lập không đồng ý cho luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án, luận án phải được gửi đến phản biện độc lập thứ ba. Trường hợp phản biện độc lập thứ ba tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu cả hai phản biện độc lập không tán thành luận án, hoặc phản biện độc lập thứ ba (trong trường hợp luận án phải xin ý kiến của phản biện độc lập thứ ba) không tán thành, luận án bị trả về đơn vị chuyên môn để nghiên cứu sinh chỉnh sửa và đơn vị chuyên môn phải tổ chức lại seminar đánh giá tổng thể luận án như quy định tại Điều 27 của Quy chế này. Nghiên cứu sinh chỉ được phép trình lại hồ sơ đề nghị tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án sớm nhất sau 03 tháng và muộn nhất trước 06 tháng kể từ ngày luận án có quyết định được trả lại. Luận án sau khi sửa chữa phải tiếp tục thực hiện quy trình phản biện độc lập theo quy định (phản biện độc lập lần thứ hai). Không thực hiện quy trình phản biện độc lập lần thứ ba; Nhận xét của từng phản biện độc lập (không có tên người phản biện) được gửi cho bộ phận quản lý công tác đào tạo sau đại học của đơn vị đào tạo để yêu cầu nghiên cứu sinh tiếp thu sửa chữa theo các ý kiến đóng góp của phản biện độc lập hoặc giải thích nhằm bảo lưu quan điểm của mình. Sau khi luận án được các phản biện độc lập tán thành và đã được sửa chữa/bổ sung, hoàn thiện (có xác nhận của cán bộ hướng dẫn và trưởng đơn vị chuyên môn), đơn vị đào tạo sau đại học làm thủ tục thành lập Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh. Với nghiên cứu sinh là tác giả chính của tối thiểu 03 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS hoặc 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích và 02 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS có kết quả công bố phù hợp với đề tài nghiên cứu của luận án, được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập được quy định ở khoản 2, Điều 26 và Điều 28 của Quy chế này và thực hiện thẳng quy trình thành lập Hội đồng đánh giá luận án. Việc thẩm định sự phù hợp nội dung bài báo với đề tài nghiên cứu của luận án cũng như đề nghị đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập do tiểu ban chuyên môn thực hiện trong buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, phê duyệt.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Bạn có thể được miễn quy trình phản biện độc lập nếu là tác giả chính của tối thiểu 03 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS, hoặc là tác giả chính của 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích và 02 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS có kết quả công bố phù hợp với đề tài nghiên cứu của luận án. Tuy nhiên, thông tin về việc cần chuẩn bị những gì cho phiên bảo vệ luận án không được cung cấp trong tài liệu tham khảo."
}
],
"id": "36053",
"is_impossible": false,
"question": "Em có thể được miễn quy trình phản biện độc lập nếu đã công bố nhiều bài báo quốc tế không và cần chuẩn bị những gì cho phiên bảo vệ?"
}
]
}
],
"title": "Em có thể được miễn quy trình phản biện độc lập nếu đã công bố nhiều bài báo quốc tế không và cần chuẩn bị những gì cho phiên bảo vệ?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 23. Những thay đổi trong quá trình đào tạo Nghiên cứu sinh và người hướng dẫn được đề xuất với đơn vị đào tạo về việc thay đổi đề tài luận án, bổ sung hoặc thay đổi người hướng dẫn và chuyển đơn vị đào tạo. Việc thay đổi phải kèm theo điều chỉnh kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa và bảo đảm thời gian đào tạo tuân thủ quy định tại Điều 19 của Quy chế này.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Theo Điều 23, giảng viên hướng dẫn có thể đề xuất với đơn vị đào tạo về việc thay đổi đề tài luận án cho nghiên cứu sinh. Tuy nhiên, thông tin về việc giảng viên hướng dẫn có thể yêu cầu nghiên cứu sinh công bố nghiên cứu không được cung cấp trong tài liệu tham khảo."
}
],
"id": "36054",
"is_impossible": false,
"question": "Là giảng viên hướng dẫn, tôi có thể đề xuất cho nghiên cứu sinh thay đổi đề tài luận án và đồng thời yêu cầu họ công bố nghiên cứu không?"
}
]
}
],
"title": "Là giảng viên hướng dẫn, tôi có thể đề xuất cho nghiên cứu sinh thay đổi đề tài luận án và đồng thời yêu cầu họ công bố nghiên cứu không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 27. Đánh giá tổng thể luận án ở đơn vị chuyên môn 1. Điều kiện để được đánh giá tổng thể luận án ở đơn vị chuyên môn: a) Đã tích lũy đủ các học phần, các chuyên đề, tiểu luận tổng quan theo yêu cầu của chương trình đào tạo tiến sĩ; có điểm trung bình chung tích lũy của các học phần bổ sung (nếu có) đạt từ 2,5 trở lên; b) Có công bố khoa học đáp ứng quy định tại Điều 18 của Quy chế này và văn bản đồng ý của tác giả chính (nếu sử dụng kết quả của các công trình có đồng tác giả phục vụ hoàn thiện luận án); c) Có xác nhận và minh chứng về việc tham gia trực tiếp các đề tài nghiên cứu khoa học trong quá trình đào tạo trình độ tiến sĩ, có liên quan đến đề tài nghiên cứu của nghiên cứu sinh được quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 16 của Quy chế này; d) Có minh chứng về việc tham gia công tác trợ giảng, hỗ trợ đào tạo như quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 16 của Quy chế này; đ) Có đầy đủ các nhận xét và đánh giá định kỳ về kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 25 của Quy chế này; e) Đã hoàn thành luận án đáp ứng yêu cầu quy định tại Điều 25 của Quy chế này; g) Có trích yếu luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh kèm theo luận án; h) Được cá nhân hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn khẳng định chất lượng luận án và đề nghị cho nghiên cứu sinh được đánh giá luận án tổng thể ở đơn vị chuyên môn; i) Không trong thời gian thi hành án hình sự, kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên. 2. Tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án a) Sau khi nghiên cứu sinh đã đáp ứng các yêu cầu ở khoản 1, Điều này, đơn vị chuyên môn tổ chức seminar khoa học để đánh giá tổng thể luận án và lấy ý kiến rộng rãi của các nhà khoa học cho luận án bảo đảm đúng tính chất là sinh hoạt khoa học, hỗ trợ nghiên cứu sinh hoàn thiện luận án trước khi thực hiện quy trình phản biện độc lập và bảo vệ luận án tại Hội đồng đánh giá luận án của đơn vị đào tạo; b) Thủ trưởng đơn vị đào tạo ban hành quyết định thành lập tiểu ban chuyên môn đánh giá luận án gồm 05 đến 07 nhà khoa học (trong đó có tối thiểu 3 người không phải là cán bộ cơ hữu và hợp đồng kiêm nhiệm của đơn vị đào tạo) có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc có học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ có chuyên môn phù hợp với đề tài nghiên cứu hoặc lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh ở trong và ngoài đơn vị đào tạo và đáp ứng các tiêu chí như đối với cán bộ hướng dẫn chính được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này. Thành phần tham dự buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn bao gồm tiểu ban chuyên môn, đại diện đơn vị chuyên môn, đại diện bộ phận quản lý đào tạo sau đại học của đơn vị và các nhà khoa học quan tâm tới luận án. Nghiên cứu sinh phải trình bày toàn bộ kết quả của luận án tại seminar này. Các ý kiến góp ý trong buổi đánh giá cũng như giải đáp, tiếp thu của nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn phải được ghi đầy đủ trong biên bản, được đơn vị chuyên môn và bộ phận quản lý đào tạo sau đại học xác nhận; c) Luận án được thông qua ở cấp đơn vị chuyên môn nếu có tối thiểu 3/4 số nhà khoa học trong tiểu ban chuyên môn có ý kiến đồng ý đưa luận án ra đánh giá luận án ở Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ. Cán bộ hướng dẫn và nghiên cứu sinh tiếp thu chỉnh sửa luận án theo góp ý của seminar, kèm theo bản giải trình các ý kiến tiếp thu và hoàn thiện luận án, biên bản buổi seminar đánh giá tổng thể luận án và các bản nhận xét luận án của các thành viên tiểu ban chuyên môn đã tham dự seminar tổng thể luận án, có xác nhận của trưởng đơn vị chuyên môn để trình chủ nhiệm khoa chuyên môn (với các trường đại học thành viên, trường trực thuộc) đề nghị thủ trưởng đơn vị đào tạo tiếp tục quy trình đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh. Nếu luận án không đạt yêu cầu trên, nghiên cứu sinh hoàn thiện luận án và đơn vị đào tạo có thể tổ chức đánh giá lại luận án tổng thể tại seminar của đơn vị chuyên môn cho nghiên cứu sinh; d) Với các đơn vị không có khoa chuyên môn (viện thành viên và viện/ khoa trực thuộc) thì trưởng đơn vị chuyên môn xác nhận và đề nghị trực tiếp thủ trưởng đơn vị đào tạo tiếp tục quy trình đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Giảng viên có thể tham gia đánh giá tổng thể luận án của nghiên cứu sinh nếu họ đáp ứng các tiêu chí là nhà khoa học có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ với chuyên môn phù hợp để tham gia tiểu ban chuyên môn đánh giá luận án. Đơn vị chuyên môn sẽ tổ chức seminar khoa học để đánh giá tổng thể luận án nhằm hỗ trợ nghiên cứu sinh hoàn thiện luận án, trong đó các giảng viên là thành viên tiểu ban chuyên môn hoặc các nhà khoa học quan tâm cũng có thể tham dự và đóng góp ý kiến."
}
],
"id": "36055",
"is_impossible": false,
"question": "Giảng viên có thể tham gia đánh giá tổng thể luận án của nghiên cứu sinh và hỗ trợ tổ chức seminar tổng thể không?"
}
]
}
],
"title": "Giảng viên có thể tham gia đánh giá tổng thể luận án của nghiên cứu sinh và hỗ trợ tổ chức seminar tổng thể không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 29. Đánh giá luận án 1. Việc tổ chức đánh giá luận án trước Hội đồng đánh giá luận án được phân công thực hiện như sau:a) Đơn vị đào tạo thành viên nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của đơn vị mình; mời phản biện độc lập; quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án; tổ chức đánh giá luận án; ra quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh; b) Ban Đào tạo nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của các đơn vị đào tạo trực thuộc; mời phản biện độc lập; báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án và ủy quyền cho các đơn vị đào tạo trực thuộc tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh, trình hồ sơ đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh.2. Điều kiện thành lập Hội đồng đánh giá luận án a) Nghiên cứu sinh và luận án đã đáp ứng đủ các điều kiện được quy định tại Điều 27 và Điều 28 của Quy chế này;b) Đạt quy trình phản biện độc lập hoặc được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập;c) Trích yếu luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh đã sửa đổi hoặc cập nhật, kèm theo luận án hoàn chỉnh đã sửa đổi, cập nhật, được cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn xác nhận;d) Có trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài theo quy định của đơn vị đào tạo;đ) Có đề nghị bằng văn bản của cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn và đơn vị chuyên môn cho phép nghiên cứu sinh được bảo vệ luận án;e) Kết quả đánh giá của các học phần, các học phần bổ sung (nếu có), các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan đã được cập nhật trên phần mềm quản lý đào tạo nghiên cứu sinh của Đại học Quốc gia Hà Nội;g) Có đầy đủ minh chứng những thay đổi trong quá trình đào tạo;h) Có đầy đủ nhận xét của các phản biện độc lập và thuyết minh tiếp thu, sửa chữa hoặc giải trình của nghiên cứu sinh, và nội dung này được công bố công khai trong phiên họp của Hội đồng;i) Minh chứng hoàn thành nghĩa vụ tài chính;k) Nghiên cứu sinh không trong thời gian thi hành án hình sự, kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên;l) Đáp ứng những yêu cầu khác theo quy định của đơn vị đào tạo. 3. Thành lập Hội đồng đánh giá luận án a) Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ gồm 07 thành viên, trong đó số thành viên thuộc đơn vị đào tạo không quá 03 người và phản biện độc lập không quá 01 người. Số thành viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ khoa học tối thiểu là 05 người;b) Thành viên Hội đồng là những nhà khoa học có chức danh giáo sư, phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ ngành đúng/ gần hoặc phù hợp với đề tài nghiên cứu hoặc lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh; thành viên chưa có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc học vị tiến sĩ khoa học phải có tối thiểu 03 năm (36 tháng) hoạt động chuyên môn kể từ khi có Quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ tính đến thời điểm được mời tham gia Hội đồng; có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín chuyên môn; am hiểu vấn đề nghiên cứu của luận án;c) Hội đồng gồm Chủ tịch, Thư ký, 03 Phản biện và 02 Uỷ viên. Một người hướng dẫn nghiên cứu sinh có thể tham gia Hội đồng với tư cách là Ủy viên. Mỗi thành viên Hội đồng chỉ đảm nhận một trách nhiệm trong Hội đồng.Chủ tịch Hội đồng phải là người có năng lực và uy tín chuyên môn, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư ngành/chuyên ngành phù hợp với chuyên môn của đề tài luận án.Thành viên Hội đồng phải là người không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh.Phản biện phải có trách nhiệm cao trong đánh giá chất lượng khoa học của luận án. Ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn như thành viên Hội đồng, các phản biện phải là người am hiểu sâu sắc luận án, có uy tín chuyên môn cao trong lĩnh vực khoa học đó, đồng thời đáp ứng các điều kiện sau:- Công tác ở các cơ quan, đơn vị khác nhau, trong đó tối thiểu có 02 phản biện thuộc các cơ quan ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội;- Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh và không là cấp dưới trực tiếp của nghiên cứu sinh;- Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án;- Khuyến khích mời các nhà khoa học giỏi là người nước ngoài hoặc người Việt Nam ở nước ngoài làm phản biện trong Hội đồng.d) Tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của thành viên Hội đồng như tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của người hướng dẫn chính quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, trừ Thư ký Hội đồng phải đáp ứng quy định như đối với giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ quy định tại Điều 34 của Quy chế này.4. Điều kiện tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án a) Toàn văn luận án, tóm tắt luận án, bản nhận xét của các phản biện độc lập và bản tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh được gửi đến các thành viên Hội đồng tối thiểu 30 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án;b) Từng thành viên Hội đồng phải có nhận xét về luận án và các ý kiến, nội dung tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh về nhận xét của phản biện độc lập bằng văn bản gửi đến đơn vị đào tạo chậm nhất là 15 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án của nghiên cứu sinh;c) Thời gian, địa điểm tổ chức bảo vệ luận án; tóm tắt luận án, trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài được công bố công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo tối thiểu 20 ngày trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án, trừ những luận án được phép bảo vệ mật theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này;d) Trường hợp đơn vị đào tạo tổ chức đánh giá luận án trực tuyến phải bảo đảm có ít nhất 03 thành viên Hội đồng có mặt trực tiếp cùng nghiên cứu sinh; trong trường hợp thiên tai, dịch bệnh bất khả kháng thực hiện theo hướng dẫn cụ thể của Đại học Quốc gia Hà Nội;đ) Không có khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về nội dung khoa học trong luận án trước phiên họp của Hội đồng;e) Hội đồng đánh giá luận án không họp nếu xảy ra một trong các trường hợp sau:- Không đáp ứng một trong các điều kiện quy định tại điểm a hoặc b hoặc c hoặc d hoặc đ nêu trên;- Vắng mặt Chủ tịch Hội đồng hoặc Thư ký Hội đồng;- Vắng mặt Phản biện có ý kiến không tán thành luận án;- Vắng mặt từ 02 thành viên Hội đồng trở lên;- Nghiên cứu sinh đang trong thời gian thi hành án hình sự hoặc bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên;- Có 02 thành viên Hội đồng không tán thành luận án. Trường hợp này, luận án được xem là không được Hội đồng đánh giá thông qua, không cần tổ chức bảo vệ luận án.5. Tổ chức đánh giá luận án a) Đơn vị đào tạo trực tiếp thực hiện công tác chuẩn bị và tổ chức đánh giá luận án. Nghiên cứu sinh và người hướng dẫn không tiếp xúc với các thành viên Hội đồng trước khi bảo vệ luận án;b) Luận án được tổ chức bảo vệ công khai. Những đề tài liên quan đến bí mật quốc gia được tổ chức bảo vệ theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này. Mỗi thành viên Hội đồng có trách nhiệm tìm hiểu đầy đủ về luận án trước khi đánh giá; ý kiến của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh phải được trình bày công khai trước Hội đồng để Hội đồng xem xét, đánh giá;c) Luận án được đánh giá bằng hình thức bỏ phiếu kín theo hai mức: “Đạt” hay “Không đạt” (theo mẫu ở Phụ lục V). Luận án không được thông qua nếu có từ 02 thành viên Hội đồng đánh giá có mặt tại buổi bảo vệ bỏ phiếu “Không đạt”;d) Hội đồng thông qua quyết nghị về luận án. Quyết nghị của Hội đồng phải nêu được các vấn đề sau: Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án; tính hiện đại, hợp lí và độ tin cậy của phương pháp nghiên cứu; kết quả mới của luận án; những thiếu sót về nội dung và hình thức của luận án; tán thành đề nghị công nhận hay không công nhận học vị tiến sĩ về ngành/chuyên ngành đào tạo cho nghiên cứu sinh; đề nghị khen thưởng (nếu luận án đặc biệt xuất sắc);đ) Biên bản buổi bảo vệ luận án được toàn thể Hội đồng đánh giá luận án thông qua và có chữ ký xác nhận của Chủ tịch và Thư ký Hội đồng;e) Hội đồng đánh giá luận án tự giải thể sau khi đã hoàn thành việc đánh giá luận án hoặc quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án. Trong trường hợp Hội đồng đánh giá luận án quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2; đơn vị đào tạo trực thuộc đề nghị Ban Đào tạo trình Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2. Trong trường hợp bất khả kháng, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên hoặc Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định gia hạn thời hạn hoạt động của Hội đồng;g) Không ra quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần thứ ba.6. Việc thay đổi thành viên Hội đồng đánh giá luận án chỉ được giải quyết trong trường hợp cần thiết, có lý do chính đáng. Thời hạn quy định liên quan đến hoạt động của các thành viên Hội đồng quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này và điều kiện tổ chức bảo vệ luận án theo quy định tại khoản 4, Điều này được tính kể từ ngày ký quyết định cuối cùng về việc thay đổi, bổ sung thành viên Hội đồng đánh giá luận án.7. Bảo vệ lại luận án a) Trong trường hợp luận án của nghiên cứu sinh không được Hội đồng đánh giá luận án thông qua và được Hội đồng kiến nghị cho phép bảo vệ lại, nghiên cứu sinh được phép sửa chữa luận án để bảo vệ lần thứ hai. Lần bảo vệ thứ hai sớm nhất là sau 03 tháng và muộn nhất là 06 tháng kể từ ngày bảo vệ lần thứ nhất;b) Không tổ chức đánh giá lại luận án khi không có kiến nghị của Hội đồng đánh giá luận án lần thứ nhất;c) Hồ sơ đề nghị bảo vệ lại luận án, ngoài các nội dung như lần bảo vệ thứ nhất, phải có thêm bản tường trình về quá trình bổ sung, sửa chữa, hoàn thiện luận án của nghiên cứu sinh, có xác nhận của người hướng dẫn và đề nghị bằng văn bản của đơn vị chuyên môn cho nghiên cứu sinh được bảo vệ lần thứ hai;d) Thành phần Hội đồng đánh giá luận án lần thứ hai phải có tối thiểu 03 thành viên đã tham gia Hội đồng lần thứ nhất, trong đó có đủ những thành viên có ý kiến không tán thành luận án. Không tổ chức đánh giá luận án lần thứ ba.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Giảng viên có thể tham gia Hội đồng đánh giá luận án với vai trò là phản biện, tuy nhiên, phản biện phải không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh và không là cấp dưới trực tiếp của nghiên cứu sinh."
}
],
"id": "36056",
"is_impossible": false,
"question": "Giảng viên có thể tham gia vào Hội đồng đánh giá luận án và đồng thời là phản biện không?"
}
]
}
],
"title": "Giảng viên có thể tham gia vào Hội đồng đánh giá luận án và đồng thời là phản biện không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 28. Phản biện độc lập luận án Trong thời gian không quá 03 tháng kể từ ngày luận án được thông qua ở cấp đơn vị chuyên môn, nghiên cứu sinh hoàn thiện luận án và đơn vị chuyên môn gửi hồ sơ đề nghị tiếp tục quy trình đánh giá luận án về bộ phận quản lý đào tạo sau đại học của các đơn vị đào tạo. Các đơn vị đào tạo trực thuộc chuyển các hồ sơ trên về Ban Đào tạo để tiến hành lấy ý kiến của các phản biện độc lập đánh giá chất lượng luận án và chuẩn bị các thủ tục để thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo thành viên hoặc Ban Đào tạo mời 02 chuyên gia phản biện độc lập luận án (theo mẫu ở Phụ lục IV). Phản biện độc lập phải đáp ứng các tiêu chuẩn như đối với người hướng dẫn chính luận án được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, đồng thời đáp ứng các yêu cầu sau: Thuộc 02 cơ quan công tác khác nhau ngoài đơn vị đào tạo, trong đó có ít nhất 01 phản biện ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội. Với người đã nghỉ hưu, cơ quan công tác được tính là đơn vị ban hành quyết định cho nghỉ hưu; Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án; Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không tham dự vào buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Ý kiến của phản biện độc lập có giá trị tư vấn cho thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên và Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo, đơn vị thụ lí hồ sơ đánh giá luận án có trách nhiệm bảo mật thông tin của phản biện độc lập. Nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh không được tìm hiểu, tiếp xúc hoặc trao đổi với phản biện độc lập dưới bất kỳ hình thức nào. Danh sách phản biện độc lập là tài liệu mật của đơn vị đào tạo. Phản biện độc lập có nhiệm vụ đọc luận án, các công trình khoa học đã công bố của nghiên cứu sinh và có ý kiến đánh giá về giá trị khoa học, những đóng góp, đặc biệt là những đóng góp mới của luận án cho lĩnh vực khoa học chuyên ngành; những điểm đúng, những điểm sai hoặc cần sửa chữa của luận án; sự phù hợp của đề tài luận án với mã số ngành/chuyên ngành; sự không trùng lặp của đề tài, số liệu, kết quả nghiên cứu, kết luận của luận án với các đề tài, luận án, luận văn, công trình khoa học khác; tính trung thực, rõ ràng và đầy đủ trong trích dẫn; sự phản ánh kết quả luận án trong những công trình đã công bố; nhận định về nội dung, chất lượng những công trình đã công bố; những yêu cầu đòi hỏi nghiên cứu sinh phải bổ sung, hoàn chỉnh luận án (nếu có). Để kết luận, phản biện độc lập cần cho ý kiến ở 1 trong 3 mức: đồng ý, đồng ý nhưng yêu cầu sửa chữa, bổ sung hoặc không đồng ý để luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án. Trong trường hợp, phản biện độc lập đánh giá ở mức đồng ý nhưng có yêu cầu sửa chữa bổ sung, nghiên cứu sinh cần tiếp thu và sửa chữa, hoặc bảo lưu và giải trình, không cần gửi lại cho người phản biện để lấy ý kiến đồng ý hay không đồng ý nhưng phải được giải trình bằng văn bản để lưu hồ sơ và trình bày công khai trước Hội đồng đánh giá luận án. Hội đồng xem xét nội dung đó để đánh giá. Phản biện độc lập bảo mật thông tin về việc nhận xét luận án và không tiếp xúc với nghiên cứu sinh hay cán bộ hướng dẫn. Mọi yêu cầu của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn đều phải thông qua đơn vị thụ lý hồ sơ đánh giá luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh. Phản biện độc lập gửi nhận xét luận án trong thời hạn theo thư mời của đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo (tối đa 02 tháng). Sau thời gian tối đa 03 tháng kể từ ngày phản biện độc lập nhận được hồ sơ luận án mà đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo không nhận được bản nhận xét của phản biện độc lập, đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo có thể mời phản biện độc lập khác thay thế. Xử lý kết quả phản biện độc lập luận án Trường hợp cả 02 phản biện độc lập tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu một trong hai phản biện độc lập không đồng ý cho luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án, luận án phải được gửi đến phản biện độc lập thứ ba. Trường hợp phản biện độc lập thứ ba tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu cả hai phản biện độc lập không tán thành luận án, hoặc phản biện độc lập thứ ba (trong trường hợp luận án phải xin ý kiến của phản biện độc lập thứ ba) không tán thành, luận án bị trả về đơn vị chuyên môn để nghiên cứu sinh chỉnh sửa và đơn vị chuyên môn phải tổ chức lại seminar đánh giá tổng thể luận án như quy định tại Điều 27 của Quy chế này. Nghiên cứu sinh chỉ được phép trình lại hồ sơ đề nghị tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án sớm nhất sau 03 tháng và muộn nhất trước 06 tháng kể từ ngày luận án có quyết định được trả lại. Luận án sau khi sửa chữa phải tiếp tục thực hiện quy trình phản biện độc lập theo quy định (phản biện độc lập lần thứ hai). Không thực hiện quy trình phản biện độc lập lần thứ ba; Nhận xét của từng phản biện độc lập (không có tên người phản biện) được gửi cho bộ phận quản lý công tác đào tạo sau đại học của đơn vị đào tạo để yêu cầu nghiên cứu sinh tiếp thu sửa chữa theo các ý kiến đóng góp của phản biện độc lập hoặc giải thích nhằm bảo lưu quan điểm của mình. Sau khi luận án được các phản biện độc lập tán thành và đã được sửa chữa/bổ sung, hoàn thiện (có xác nhận của cán bộ hướng dẫn và trưởng đơn vị chuyên môn), đơn vị đào tạo sau đại học làm thủ tục thành lập Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh. Với nghiên cứu sinh là tác giả chính của tối thiểu 03 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS hoặc 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích và 02 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS có kết quả công bố phù hợp với đề tài nghiên cứu của luận án, được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập được quy định ở khoản 2, Điều 26 và Điều 28 của Quy chế này và thực hiện thẳng quy trình thành lập Hội đồng đánh giá luận án. Việc thẩm định sự phù hợp nội dung bài báo với đề tài nghiên cứu của luận án cũng như đề nghị đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập do tiểu ban chuyên môn thực hiện trong buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, phê duyệt.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Sau phản biện độc lập, nghiên cứu sinh có thể được yêu cầu chỉnh sửa luận án dựa trên đánh giá của phản biện độc lập về những điểm sai hoặc cần sửa chữa. Đồng thời, phản biện độc lập cũng có nhiệm vụ đánh giá tính trung thực, rõ ràng và đầy đủ của trích dẫn trong luận án."
}
],
"id": "36057",
"is_impossible": false,
"question": "Nghiên cứu viên có thể yêu cầu chỉnh sửa luận án sau phản biện độc lập và đồng thời yêu cầu kiểm tra toàn bộ trích dẫn không?"
}
]
}
],
"title": "Nghiên cứu viên có thể yêu cầu chỉnh sửa luận án sau phản biện độc lập và đồng thời yêu cầu kiểm tra toàn bộ trích dẫn không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 28. Phản biện độc lập luận án Trong thời gian không quá 03 tháng kể từ ngày luận án được thông qua ở cấp đơn vị chuyên môn, nghiên cứu sinh hoàn thiện luận án và đơn vị chuyên môn gửi hồ sơ đề nghị tiếp tục quy trình đánh giá luận án về bộ phận quản lý đào tạo sau đại học của các đơn vị đào tạo. Các đơn vị đào tạo trực thuộc chuyển các hồ sơ trên về Ban Đào tạo để tiến hành lấy ý kiến của các phản biện độc lập đánh giá chất lượng luận án và chuẩn bị các thủ tục để thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo thành viên hoặc Ban Đào tạo mời 02 chuyên gia phản biện độc lập luận án (theo mẫu ở Phụ lục IV). Phản biện độc lập phải đáp ứng các tiêu chuẩn như đối với người hướng dẫn chính luận án được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, đồng thời đáp ứng các yêu cầu sau: Thuộc 02 cơ quan công tác khác nhau ngoài đơn vị đào tạo, trong đó có ít nhất 01 phản biện ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội. Với người đã nghỉ hưu, cơ quan công tác được tính là đơn vị ban hành quyết định cho nghỉ hưu; Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án; Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không tham dự vào buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Ý kiến của phản biện độc lập có giá trị tư vấn cho thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên và Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo, đơn vị thụ lí hồ sơ đánh giá luận án có trách nhiệm bảo mật thông tin của phản biện độc lập. Nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh không được tìm hiểu, tiếp xúc hoặc trao đổi với phản biện độc lập dưới bất kỳ hình thức nào. Danh sách phản biện độc lập là tài liệu mật của đơn vị đào tạo. Phản biện độc lập có nhiệm vụ đọc luận án, các công trình khoa học đã công bố của nghiên cứu sinh và có ý kiến đánh giá về giá trị khoa học, những đóng góp, đặc biệt là những đóng góp mới của luận án cho lĩnh vực khoa học chuyên ngành; những điểm đúng, những điểm sai hoặc cần sửa chữa của luận án; sự phù hợp của đề tài luận án với mã số ngành/chuyên ngành; sự không trùng lặp của đề tài, số liệu, kết quả nghiên cứu, kết luận của luận án với các đề tài, luận án, luận văn, công trình khoa học khác; tính trung thực, rõ ràng và đầy đủ trong trích dẫn; sự phản ánh kết quả luận án trong những công trình đã công bố; nhận định về nội dung, chất lượng những công trình đã công bố; những yêu cầu đòi hỏi nghiên cứu sinh phải bổ sung, hoàn chỉnh luận án (nếu có). Để kết luận, phản biện độc lập cần cho ý kiến ở 1 trong 3 mức: đồng ý, đồng ý nhưng yêu cầu sửa chữa, bổ sung hoặc không đồng ý để luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án. Trong trường hợp, phản biện độc lập đánh giá ở mức đồng ý nhưng có yêu cầu sửa chữa bổ sung, nghiên cứu sinh cần tiếp thu và sửa chữa, hoặc bảo lưu và giải trình, không cần gửi lại cho người phản biện để lấy ý kiến đồng ý hay không đồng ý nhưng phải được giải trình bằng văn bản để lưu hồ sơ và trình bày công khai trước Hội đồng đánh giá luận án. Hội đồng xem xét nội dung đó để đánh giá. Phản biện độc lập bảo mật thông tin về việc nhận xét luận án và không tiếp xúc với nghiên cứu sinh hay cán bộ hướng dẫn. Mọi yêu cầu của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn đều phải thông qua đơn vị thụ lý hồ sơ đánh giá luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh. Phản biện độc lập gửi nhận xét luận án trong thời hạn theo thư mời của đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo (tối đa 02 tháng). Sau thời gian tối đa 03 tháng kể từ ngày phản biện độc lập nhận được hồ sơ luận án mà đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo không nhận được bản nhận xét của phản biện độc lập, đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo có thể mời phản biện độc lập khác thay thế. Xử lý kết quả phản biện độc lập luận án Trường hợp cả 02 phản biện độc lập tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu một trong hai phản biện độc lập không đồng ý cho luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án, luận án phải được gửi đến phản biện độc lập thứ ba. Trường hợp phản biện độc lập thứ ba tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu cả hai phản biện độc lập không tán thành luận án, hoặc phản biện độc lập thứ ba (trong trường hợp luận án phải xin ý kiến của phản biện độc lập thứ ba) không tán thành, luận án bị trả về đơn vị chuyên môn để nghiên cứu sinh chỉnh sửa và đơn vị chuyên môn phải tổ chức lại seminar đánh giá tổng thể luận án như quy định tại Điều 27 của Quy chế này. Nghiên cứu sinh chỉ được phép trình lại hồ sơ đề nghị tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án sớm nhất sau 03 tháng và muộn nhất trước 06 tháng kể từ ngày luận án có quyết định được trả lại. Luận án sau khi sửa chữa phải tiếp tục thực hiện quy trình phản biện độc lập theo quy định (phản biện độc lập lần thứ hai). Không thực hiện quy trình phản biện độc lập lần thứ ba; Nhận xét của từng phản biện độc lập (không có tên người phản biện) được gửi cho bộ phận quản lý công tác đào tạo sau đại học của đơn vị đào tạo để yêu cầu nghiên cứu sinh tiếp thu sửa chữa theo các ý kiến đóng góp của phản biện độc lập hoặc giải thích nhằm bảo lưu quan điểm của mình. Sau khi luận án được các phản biện độc lập tán thành và đã được sửa chữa/bổ sung, hoàn thiện (có xác nhận của cán bộ hướng dẫn và trưởng đơn vị chuyên môn), đơn vị đào tạo sau đại học làm thủ tục thành lập Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh. Với nghiên cứu sinh là tác giả chính của tối thiểu 03 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS hoặc 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích và 02 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS có kết quả công bố phù hợp với đề tài nghiên cứu của luận án, được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập được quy định ở khoản 2, Điều 26 và Điều 28 của Quy chế này và thực hiện thẳng quy trình thành lập Hội đồng đánh giá luận án. Việc thẩm định sự phù hợp nội dung bài báo với đề tài nghiên cứu của luận án cũng như đề nghị đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lận do tiểu ban chuyên môn thực hiện trong buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, phê duyệt.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Một nghiên cứu viên, nếu đáp ứng các tiêu chuẩn của chuyên gia phản biện độc lập luận án, có thể được mời tham gia phản biện độc lập. Về việc yêu cầu tổ chức lại buổi bảo vệ luận án, phản biện độc lập không trực tiếp đưa ra yêu cầu này. Thay vào đó, nếu phản biện độc lập đưa ra nhận định không đồng ý để luận án được đưa ra bảo vệ, hoặc yêu cầu sửa chữa, bổ sung quan trọng, thì luận án sẽ bị trả về đơn vị chuyên môn để nghiên cứu sinh chỉnh sửa. Sau đó, đơn vị chuyên môn có trách nhiệm tổ chức lại seminar đánh giá tổng thể luận án."
}
],
"id": "36058",
"is_impossible": false,
"question": "Nghiên cứu viên có thể tham gia phản biện độc lập và đồng thời yêu cầu tổ chức lại buổi bảo vệ luận án nếu cần không?"
}
]
}
],
"title": "Nghiên cứu viên có thể tham gia phản biện độc lập và đồng thời yêu cầu tổ chức lại buổi bảo vệ luận án nếu cần không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan Điều 31. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án Vào ngày làm việc cuối cùng của các tháng chẵn trong năm, các đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội danh sách và thông tin trích ngang của các nghiên cứu sinh bảo vệ luận án trong 02 tháng trước đó. Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, lựa chọn kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án của nghiên cứu sinh. Việc kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án được thực hiện trong các trường hợp sau: Kiểm tra, thẩm định ngẫu nhiên theo yêu cầu của công tác quản lý, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chế này và những quy định có liên quan: Lựa chọn xác suất trong số hồ sơ, luận án đã bảo vệ theo báo cáo của đơn vị đào tạo; Kiểm tra, thẩm định đối với những hồ sơ, luận án cụ thể khi có phản ánh hoặc có đơn thư khiếu nại, tố cáo; Kiểm tra, thẩm định theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quy trình kiểm tra, thẩm định: Trong thời gian 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của đơn vị đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội rà soát và có văn bản thông báo cho đơn vị đào tạo danh sách các trường hợp cần kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo hoặc thẩm định chất lượng luận án; Đơn vị đào tạo có trách nhiệm nộp đầy đủ các hồ sơ/luận án theo yêu cầu kiểm tra, thẩm định của Đại học Quốc gia Hà Nội; Đại học Quốc gia Hà Nội tiến hành kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo trong thời gian tối đa 30 ngày làm việc và thẩm định chất lượng luận án trong thời gian tối đa 90 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ theo quy định tại điểm a, khoản 4 Điều này hoặc điểm a, khoản 5, Điều này; có văn bản thông báo kết quả kiểm tra, thẩm định cho đơn vị đào tạo. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo Danh mục hồ sơ kiểm tra Hồ sơ dự tuyển, thi tuyển, xét tuyển và quyết định công nhận nghiên cứu sinh; Hồ sơ thực hiện quy trình seminar, phản biện độc lập và bảo vệ luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Hồ sơ xét cấp bằng tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 01 bộ. Hồ sơ quá trình đào tạo đạt yêu cầu khi đảm bảo các quy định về tuyển sinh, tổ chức và quản lý đào tạo, quy trình tổ chức đánh giá luận án các cấp theo các quy định tại Quy chế này; Đối với những trường hợp hồ sơ kiểm tra quá trình đào tạo chưa đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo có trách nhiệm giải trình những vấn đề liên quan, bổ sung minh chứng và đề xuất hướng xử lý với Đại học Quốc gia Hà Nội theo quy định hiện hành. Thẩm định chất lượng luận án Hồ sơ thẩm định chất lượng luận án Luận án và tóm tắt luận án đã xoá thông tin về nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn và đơn vị đào tạo; Bản sao các công bố kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh đã xóa thông tin về nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 03 bộ. Chất lượng luận án được thẩm định bằng hình thức lấy ý kiến thẩm định độc lập của 03 nhà khoa học ở trong hoặc ngoài nước, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học hoặc tiến sĩ, đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu như các Phản biện trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định ở điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này, am hiểu đề tài và lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh, có chính kiến và bản lĩnh khoa học, khách quan, trung thực, không trong danh sách những người đã tham gia phản biện độc lập hoặc tham gia Hội đồng đánh giá luận án; Chất lượng luận án đạt yêu cầu thẩm định nếu có ít nhất 02 ý kiến thẩm định đồng ý về chuyên môn; Trường hợp chất lượng luận án không đạt yêu cầu, Đại học Quốc gia Hà Nội ra quyết định thành lập Hội đồng thẩm định luận án và ủy quyền thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức họp Hội đồng thẩm định luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội; đ) Hội đồng thẩm định luận án Hội đồng thẩm định luận án gồm 07 thành viên, trong đó có ít nhất 03 thành viên chưa tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án tại đơn vị chuyên môn, không là phản biện độc lập hoặc trong Hội đồng đánh giá luận án của luận án được thẩm định; những nhà khoa học thẩm định không tán thành luận án là thành viên đương nhiên của Hội đồng; Hội đồng thẩm định luận án có Chủ tịch, Thư ký và các Ủy viên; Tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng thẩm định luận án như tiêu chuẩn của các thành viên trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định tại điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này. Cán bộ hướng dẫn luận án không tham gia vào Hội đồng thẩm định luận án; Trước khi họp Hội đồng thẩm định, các thành viên Hội đồng có bản nhận xét về tính cấp thiết của đề tài luận án, sự phù hợp với ngành/ chuyên ngành; không trùng lặp về đề tài, nội dung, kết quả nghiên cứu với các công trình đã được công bố; tính trung thực, minh bạch trong trích dẫn tư liệu; bố cục và hình thức trình bày; nội dung, phương pháp, kết quả, ý nghĩa, độ tin cậy của các kết quả đạt được; những phát hiện, luận điểm mới của luận án; đánh giá thành công và hạn chế của luận án, khẳng định mức độ đáp ứng yêu cầu của một luận án; Hội đồng chỉ họp khi có mặt ít nhất 06 thành viên Hội đồng bao gồm Chủ tịch, Thư ký và các thành viên Hội đồng có ý kiến không tán thành luận án (nếu có). Hội đồng thẩm định luận án có trách nhiệm xem xét, đánh giá chất lượng luận án; làm rõ những nội dung đơn thư khiếu nại, tố cáo; nội dung nhận xét, kết luận của những người thẩm định độc lập luận án. Hội đồng phải có biên bản ghi chi tiết các ý kiến thảo luận, trao đổi, kết luận và quyết nghị về chất lượng luận án; Luận án không đạt yêu cầu thẩm định khi có từ 02 thành viên Hội đồng có mặt trở lên không tán thành, bỏ phiếu đánh giá luận án ở mức “Không đạt”. Trường hợp luận án không đạt yêu cầu của Hội đồng thẩm định Thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức cuộc họp đối thoại giữa Hội đồng thẩm định luận án với Hội đồng đánh giá luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội. Số lượng thành viên của hai Hội đồng dự họp ít nhất là 12 người, trong đó Chủ tịch, Phản biện, Thư ký và các thành viên có ý kiến không tán thành của hai Hội đồng phải có mặt; Thủ trưởng đơn vị đào tạo trực tiếp điều hành cuộc họp, bầu thư ký. Thành viên của hai Hội đồng tranh luận về nội dung và chất lượng luận án, bỏ phiếu đánh giá lại luận án. Luận án không được thông qua nếu có từ 03 thành viên có mặt tại buổi đối thoại trở lên không tán thành (bỏ phiếu đánh giá ở mức “Không đạt”). Kết quả cuộc họp đối thoại là kết quả thẩm định cuối cùng về chất lượng luận án. Đối với luận án đạt yêu cầu thẩm định nhưng có ý kiến của người thẩm định hoặc của Hội đồng thẩm định yêu cầu phải sửa chữa, trong thời hạn tối đa 45 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo kết quả thẩm định, nghiên cứu sinh cùng với cán bộ hướng dẫn luận án xem xét chỉnh sửa chi tiết các nội dung luận án theo yêu cầu của người/ Hội đồng thẩm định, có bản hiệu đính ghi rõ những nội dung đã được chỉnh sửa (hoặc những nội dung bảo lưu ý kiến) và chỉ rõ số trang tương ứng báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo trực thuộc), thủ trưởng đơn vị đào tạo (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo thành viên) kèm theo luận án đã chỉnh sửa; đồng thời nộp lại bản luận án đã chỉnh sửa, hiệu đính kèm công văn của đơn vị đào tạo gửi cho các thư viện để thay thế cho bản luận án đã nộp lưu chiểu (với các trường hợp đã gửi luận án cho các thư viện). Trường hợp quá trình đào tạo và chất lượng luận án sau khi thực hiện quy định tại khoản 4 và khoản 5, Điều này vẫn không đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo xem xét, quyết định thực hiện theo các phương án sau: Nếu nghiên cứu sinh chưa được cấp bằng tiến sĩ, đơn vị đào tạo cho phép nghiên cứu sinh bổ sung, hoàn thiện các điều kiện để được cấp bằng trong thời gian đào tạo ghi tại quyết định công nhận nghiên cứu sinh và bao gồm cả thời gian được phép kéo dài (nếu có) (đối với trường hợp kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo); hoặc sửa đổi, bổ sung và đề nghị được đánh giá lại luận án theo quy định tại khoản 7, Điều 29 của Quy chế này nếu chưa đánh giá lần thứ hai trong thời hạn tối đa 06 tháng (đối với trường hợp thẩm định chất lượng luận án); Nếu nghiên cứu sinh đã được cấp bằng tiến sĩ, việc thu hồi bằng được thực hiện theo quy định hiện hành và trong những trường hợp: Hồ sơ quá trình đào tạo được xác nhận có vi phạm, sai sót nghiêm trọng dẫn đến người được cấp bằng không còn bảo đảm đáp ứng đủ điều kiện dự tuyển, công nhận nghiên cứu sinh và duy trì các điều kiện bảo đảm chất lượng trong quá trình học tập và nghiên cứu tại đơn vị đào tạo; Luận án có nội dung sao chép, trích dẫn không đúng quy định và bị Hội đồng thẩm định kết luận nếu cắt bỏ những phần sao chép, trích dẫn đó thì luận án không đáp ứng yêu cầu quy định của Quy chế này; Luận án của nghiên cứu sinh không được thông qua theo quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này. Trong thời gian tối đa 60 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Đại học Quốc gia Hà Nội về kết quả kiểm tra, thẩm định cuối cùng hoặc ngày có kết quả cuộc họp đối thoại, đơn vị đào tạo có văn bản báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội về việc xử lý kết quả kiểm tra, thẩm định kèm theo minh chứng. Đơn vị đào tạo có từ 20% trở lên số hồ sơ quá trình đào tạo hoặc luận án không đạt yêu cầu kiểm tra/thẩm định trong năm sẽ bị dừng tuyển sinh ít nhất trong một năm kế tiếp; có từ 20% trở lên số luận án không đạt yêu cầu thẩm định trong hai năm liên tiếp sẽ bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ ít nhất trong một năm kế tiếp. Việc dừng các hoạt động này được thông báo công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo và của Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong thời gian bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ, việc tổ chức đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh của các đơn vị đào tạo thành viên do Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện như đối với các đơn vị đào tạo trực thuộc. Đơn vị đào tạo phải có giải pháp khắc phục và báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội kết quả thực hiện các giải pháp đó. Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định cho phép đơn vị đào tạo tiếp tục tuyển sinh, tổ chức Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nếu có nghi vấn về tính hợp lệ của quy trình nghiên cứu sinh đã thực hiện, Đại học Quốc gia Hà Nội có thể tiến hành kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án khi nhận được phản ánh hoặc đơn thư khiếu nại, tố cáo. Như vậy, nghiên cứu viên có thể gián tiếp yêu cầu đánh giá lại quy trình thông qua việc gửi phản ánh hoặc khiếu nại."
}
],
"id": "36059",
"is_impossible": false,
"question": "Nghiên cứu viên có thể yêu cầu đánh giá lại toàn bộ quy trình nghiên cứu sinh đã thực hiện không, nếu có nghi vấn về tính hợp lệ?"
}
]
}
],
"title": "Nghiên cứu viên có thể yêu cầu đánh giá lại toàn bộ quy trình nghiên cứu sinh đã thực hiện không, nếu có nghi vấn về tính hợp lệ?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 25. Yêu cầu đối với luận án Luận án tiến sĩ phải đáp ứng các yêu cầu sau đây: Luận án tiến sĩ là kết quả nghiên cứu khoa học của nghiên cứu sinh, chứa đựng những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn ở lĩnh vực chuyên môn, có giá trị trong việc phát triển, gia tăng tri thức khoa học và giải quyết trọn vẹn vấn đề đặt ra của đề tài luận án; Nghiên cứu sinh phải trình bày nội dung, kế hoạch nghiên cứu trước đơn vị chuyên môn chậm nhất 03 tháng sau khi nhận đề tài luận án và báo cáo kết quả nghiên cứu 06 tháng/1 lần trong thời gian thực hiện luận án. Những kết quả đánh giá báo cáo là điều kiện để xem xét cho nghiên cứu sinh bảo vệ luận án; Có cam đoan và chữ ký của nghiên cứu sinh về nội dung luận án; Cấu trúc của luận án tiến sĩ phải đảm bảo tối thiểu có các phần sau: Mở đầu: giới thiệu tóm tắt về công trình nghiên cứu, lý do lựa chọn đề tài, mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học hoặc thực tiễn của đề tài; Tổng quan về vấn đề nghiên cứu: phân tích, đánh giá các công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đề tài luận án đã được công bố ở trong và ngoài nước, chỉ ra những vấn đề mà luận án sẽ tập trung giải quyết, xác định mục tiêu của đề tài, nội dung và phương pháp nghiên cứu; Cơ sở lý thuyết, lý luận và giả thuyết khoa học; phương pháp nghiên cứu; kết quả nghiên cứu và phân tích đánh giá; Kết luận và kiến nghị: trình bày những phát hiện mới, những kết luận rút ra từ kết quả nghiên cứu; kiến nghị về những nghiên cứu tiếp theo; Danh mục tài liệu tham khảo được trích dẫn và sử dụng trong luận án; Danh mục các công trình/bài báo đã công bố liên quan đến đề tài luận án của nghiên cứu sinh kèm theo văn bản đồng ý của các đồng tác giả (nếu có); Phụ lục (nếu có). đ) Tuân thủ các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ được quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ: Kết quả nghiên cứu trong luận án phải là kết quả lao động của chính nghiên cứu sinh thu được chủ yếu trong thời gian đào tạo. Nếu sử dụng kết quả, tài liệu của người khác thì phải được tác giả đồng ý và trích dẫn tường minh. Nếu luận án là công trình khoa học hoặc một phần công trình khoa học của một tập thể trong đó nghiên cứu sinh đóng góp phần chính thì phải xuất trình các văn bản thể hiện sự nhất trí của các thành viên trong tập thể đó đồng ý cho nghiên cứu sinh sử dụng kết quả chung của tập thể để viết luận án; Luận án và tất cả các công trình nghiên cứu khoa học trước khi gửi xuất bản, công bố hoặc bảo vệ phải được kiểm tra sao chép, trùng lặp; Yêu cầu về công bố khoa học: Đáp ứng yêu cầu tối thiểu về công bố theo chuẩn đầu ra tại điểm a, khoản 3, Điều 18 của Quy chế này; Luận án được viết bằng tiếng Việt, sử dụng chữ thuộc mã Unicode, loại chữ Times New Roman, cỡ chữ 13, và không quá 200 trang A4 đối với lĩnh vực khoa học tự nhiên, kỹ thuật, công nghệ và không quá 300 trang đối với các lĩnh vực còn lại, không kể phụ lục, trong đó có cam đoan của nghiên cứu sinh về nội dung luận án, ít nhất 50% số trang trình bày kết quả nghiên cứu và biện luận của riêng nghiên cứu sinh; Bản tóm tắt luận án phản ánh trung thực kết cấu, bố cục và nội dung của luận án, phải ghi đầy đủ toàn văn kết luận của luận án. Bản thông tin luận án khoảng 03 đến 05 trang (300 đến 500 chữ) bằng tiếng Việt và tiếng Anh trình bày tóm tắt những nội dung cơ bản, những nội dung mới và những kết quả nghiên cứu, đóng góp quan trọng nhất của luận án; Khuyến khích nghiên cứu sinh viết luận án và bảo vệ luận án bằng tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài khác; Đối với các chuyên ngành ngoại ngữ, luận án và tóm tắt luận án được viết bằng tiếng nước ngoài tương ứng, kèm theo một bản tóm tắt luận án viết bằng tiếng Việt và luận án được bảo vệ trước Hội đồng bằng tiếng nước ngoài. Luận án của chương trình đào tạo tiến sĩ liên kết quốc tế phải đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1, Điều này. Ngoài ra, luận án của chương trình đào tạo tiến sĩ liên kết quốc tế do Đại học Quốc gia Hà Nội và đối tác nước ngoài cùng cấp bằng phải đáp ứng các yêu cầu theo văn bản thỏa thuận với đối tác nước ngoài.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Thông tin trong tài liệu tham khảo không cung cấp quy định cụ thể về việc một chuyên gia trong ngành có thể yêu cầu kiểm tra lại luận án về mức độ trung thực hay yêu cầu phản biện độc lập. Tài liệu có đề cập rằng luận án và tất cả các công trình nghiên cứu khoa học phải được kiểm tra sao chép, trùng lặp trước khi gửi xuất bản, công bố hoặc bảo vệ, nhưng không chỉ rõ về quyền yêu cầu này của chuyên gia."
}
],
"id": "36060",
"is_impossible": false,
"question": "Là chuyên gia trong ngành, tôi có thể yêu cầu kiểm tra lại luận án về mức độ trung thực trong nghiên cứu và yêu cầu phản biện độc lập nếu thấy cần thiết không?"
}
]
}
],
"title": "Là chuyên gia trong ngành, tôi có thể yêu cầu kiểm tra lại luận án về mức độ trung thực trong nghiên cứu và yêu cầu phản biện độc lập nếu thấy cần thiết không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 27. Đánh giá tổng thể luận án ở đơn vị chuyên môn 1. Điều kiện để được đánh giá tổng thể luận án ở đơn vị chuyên môn:\na) Đã tích lũy đủ các học phần, các chuyên đề, tiểu luận tổng quan theo yêu cầu của chương trình đào tạo tiến sĩ; có điểm trung bình chung tích lũy của các học phần bổ sung (nếu có) đạt từ 2,5 trở lên;\nb) Có công bố khoa học đáp ứng quy định tại Điều 18 của Quy chế này và văn bản đồng ý của tác giả chính (nếu sử dụng kết quả của các công trình có đồng tác giả phục vụ hoàn thiện luận án);\nc) Có xác nhận và minh chứng về việc tham gia trực tiếp các đề tài nghiên cứu khoa học trong quá trình đào tạo trình độ tiến sĩ, có liên quan đến đề tài nghiên cứu của nghiên cứu sinh được quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 16 của Quy chế này;\nd) Có minh chứng về việc tham gia công tác trợ giảng, hỗ trợ đào tạo như quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 16 của Quy chế này;\nđ) Có đầy đủ các nhận xét và đánh giá định kỳ về kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 25 của Quy chế này;\n \n\ne) Đã hoàn thành luận án đáp ứng yêu cầu quy định tại Điều 25 của Quy chế này;\ng) Có trích yếu luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh kèm theo luận án;\nh) Được cá nhân hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn khẳng định chất lượng luận án và đề nghị cho nghiên cứu sinh được đánh giá luận án tổng thể ở đơn vị chuyên môn;\ni) Không trong thời gian thi hành án hình sự, kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên.\n2. Tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án\na) Sau khi nghiên cứu sinh đã đáp ứng các yêu cầu ở khoản 1, Điều này, đơn vị chuyên môn tổ chức seminar khoa học để đánh giá tổng thể luận án và lấy ý kiến rộng rãi của các nhà khoa học cho luận án bảo đảm đúng tính chất là sinh hoạt khoa học, hỗ trợ nghiên cứu sinh hoàn thiện luận án trước khi thực hiện quy trình phản biện độc lập và bảo vệ luận án tại Hội đồng đánh giá luận án của đơn vị đào tạo;\nb) Thủ trưởng đơn vị đào tạo ban hành quyết định thành lập tiểu ban chuyên môn đánh giá luận án gồm 05 đến 07 nhà khoa học (trong đó có tối thiểu 3 người không phải là cán bộ cơ hữu và hợp đồng kiêm nhiệm của đơn vị đào tạo) có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc có học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ có chuyên môn phù hợp với đề tài nghiên cứu hoặc lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh ở trong và ngoài đơn vị đào tạo và đáp ứng các tiêu chí như đối với cán bộ hướng dẫn chính được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này. Thành phần tham dự buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn bao gồm tiểu ban chuyên môn, đại diện đơn vị chuyên môn, đại diện bộ phận quản lý đào tạo sau đại học của đơn vị và các nhà khoa học quan tâm tới luận án. Nghiên cứu sinh phải trình bày toàn bộ kết quả của luận án tại seminar này. Các ý kiến góp ý trong buổi đánh giá cũng như giải đáp, tiếp thu của nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn phải được ghi đầy đủ trong biên bản, được đơn vị chuyên môn và bộ phận quản lý đào tạo sau đại học xác nhận;\nc) Luận án được thông qua ở cấp đơn vị chuyên môn nếu có tối thiểu 3/4 số nhà khoa học trong tiểu ban chuyên môn có ý kiến đồng\n \n\ný đưa luận án ra đánh giá luận án ở Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ. Cán bộ hướng dẫn và nghiên cứu sinh tiếp thu chỉnh sửa luận án theo góp ý của seminar, kèm theo bản giải trình các ý kiến tiếp thu và hoàn thiện luận án, biên bản buổi seminar đánh giá tổng thể luận án và các bản nhận xét luận án của các thành viên tiểu ban chuyên môn đã tham dự seminar tổng thể luận án, có xác nhận của trưởng đơn vị chuyên môn để trình chủ nhiệm khoa chuyên môn (với các trường đại học thành viên, trường trực thuộc) đề nghị thủ trưởng đơn vị đào tạo tiếp tục quy trình đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh. Nếu luận án không đạt yêu cầu trên, nghiên cứu sinh hoàn thiện luận án và đơn vị đào tạo có thể tổ chức đánh giá lại luận án tổng thể tại seminar của đơn vị chuyên môn cho nghiên cứu sinh;\nd) Với các đơn vị không có khoa chuyên môn (viện thành viên và viện/ khoa trực thuộc) thì trưởng đơn vị chuyên môn xác nhận và đề nghị trực tiếp thủ trưởng đơn vị đào tạo tiếp tục quy trình đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh.\n",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Dựa trên Điều 27 của tài liệu tham khảo, chuyên gia có thể tham gia vào buổi seminar đánh giá tổng thể luận án tại đơn vị chuyên môn với tư cách thành viên tiểu ban chuyên môn hoặc nhà khoa học quan tâm. Tuy nhiên, tài liệu này không đề cập đến việc chuyên gia có thể tự mình yêu cầu tổ chức buổi đánh giá. Đối với phần câu hỏi về việc đồng thời tham gia phản biện độc lập cho luận án, tài liệu tham khảo được cung cấp không chứa thông tin liên quan."
}
],
"id": "36061",
"is_impossible": false,
"question": "Là chuyên gia, tôi có thể yêu cầu đánh giá tổng thể luận án tại đơn vị chuyên môn và đồng thời tham gia phản biện không?"
}
]
}
],
"title": "Là chuyên gia, tôi có thể yêu cầu đánh giá tổng thể luận án tại đơn vị chuyên môn và đồng thời tham gia phản biện không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan Điều 29. Đánh giá luận án 1. Việc tổ chức đánh giá luận án trước Hội đồng đánh giá luận án được phân công thực hiện như sau:\na) Đơn vị đào tạo thành viên nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của đơn vị mình; mời phản biện độc lập; quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án; tổ chức đánh giá luận án; ra quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh;\n\nb) Ban Đào tạo nhận hồ sơ đề nghị đánh giá luận án của các đơn vị đào tạo trực thuộc; mời phản biện độc lập; báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án và ủy quyền cho các đơn vị đào tạo trực thuộc tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh, trình hồ sơ đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh.\n2. Điều kiện thành lập Hội đồng đánh giá luận án\na) Nghiên cứu sinh và luận án đã đáp ứng đủ các điều kiện được quy định tại Điều 27 và Điều 28 của Quy chế này;\nb) Đạt quy trình phản biện độc lập hoặc được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập;\nc) Trích yếu luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh đã sửa đổi hoặc cập nhật, kèm theo luận án hoàn chỉnh đã sửa đổi, cập nhật, được cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn xác nhận;\nd) Có trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài theo quy định của đơn vị đào tạo;\nđ) Có đề nghị bằng văn bản của cán bộ hướng dẫn hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn và đơn vị chuyên môn cho phép nghiên cứu sinh được bảo vệ luận án;\ne) Kết quả đánh giá của các học phần, các học phần bổ sung (nếu có), các chuyên đề tiến sĩ, tiểu luận tổng quan đã được cập nhật trên phần mềm quản lý đào tạo nghiên cứu sinh của Đại học Quốc gia Hà Nội;\ng) Có đầy đủ minh chứng những thay đổi trong quá trình đào tạo;\nh) Có đầy đủ nhận xét của các phản biện độc lập và thuyết minh tiếp thu, sửa chữa hoặc giải trình của nghiên cứu sinh, và nội dung này được công bố công khai trong phiên họp của Hội đồng;\ni) Minh chứng hoàn thành nghĩa vụ tài chính;\nk) Nghiên cứu sinh không trong thời gian thi hành án hình sự, kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên;\nl) Đáp ứng những yêu cầu khác theo quy định của đơn vị đào tạo.\n\n3. Thành lập Hội đồng đánh giá luận án\na) Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ gồm 07 thành viên, trong đó số thành viên thuộc đơn vị đào tạo không quá 03 người và phản biện độc lập không quá 01 người. Số thành viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ khoa học tối thiểu là 05 người;\nb) Thành viên Hội đồng là những nhà khoa học có chức danh giáo sư, phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ ngành đúng/ gần hoặc phù hợp với đề tài nghiên cứu hoặc lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh; thành viên chưa có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc học vị tiến sĩ khoa học phải có tối thiểu 03 năm (36 tháng) hoạt động chuyên môn kể từ khi có Quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ tính đến thời điểm được mời tham gia Hội đồng; có phẩm chất đạo đức tốt; có uy tín chuyên môn; am hiểu vấn đề nghiên cứu của luận án;\nc) Hội đồng gồm Chủ tịch, Thư ký, 03 Phản biện và 02 Uỷ viên. Một người hướng dẫn nghiên cứu sinh có thể tham gia Hội đồng với tư cách là Ủy viên. Mỗi thành viên Hội đồng chỉ đảm nhận một trách nhiệm trong Hội đồng.\nChủ tịch Hội đồng phải là người có năng lực và uy tín chuyên môn, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư ngành/chuyên ngành phù hợp với chuyên môn của đề tài luận án.\nThành viên Hội đồng phải là người không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh.\nPhản biện phải có trách nhiệm cao trong đánh giá chất lượng khoa học của luận án. Ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn như thành viên Hội đồng, các phản biện phải là người am hiểu sâu sắc luận án, có uy tín chuyên môn cao trong lĩnh vực khoa học đó, đồng thời đáp ứng các điều kiện sau:\n- Công tác ở các cơ quan, đơn vị khác nhau, trong đó tối thiểu có 02 phản biện thuộc các cơ quan ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội;\n- Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh và không là cấp dưới trực tiếp của nghiên cứu sinh;\n\n- Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án;\n- Khuyến khích mời các nhà khoa học giỏi là người nước ngoài hoặc người Việt Nam ở nước ngoài làm phản biện trong Hội đồng.\nd) Tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của thành viên Hội đồng như tiêu chuẩn về năng lực nghiên cứu của người hướng dẫn chính quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, trừ Thư ký Hội đồng phải đáp ứng quy định như đối với giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ quy định tại Điều 34 của Quy chế này.\n4. Điều kiện tổ chức họp Hội đồng đánh giá luận án\na) Toàn văn luận án, tóm tắt luận án, bản nhận xét của các phản biện độc lập và bản tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh được gửi đến các thành viên Hội đồng tối thiểu 30 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án;\nb) Từng thành viên Hội đồng phải có nhận xét về luận án và các ý kiến, nội dung tiếp thu, sửa chữa, giải trình của nghiên cứu sinh về nhận xét của phản biện độc lập bằng văn bản gửi đến đơn vị đào tạo chậm nhất là 15 ngày làm việc trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án của nghiên cứu sinh;\nc) Thời gian, địa điểm tổ chức bảo vệ luận án; tóm tắt luận án, trang thông tin về những điểm mới của luận án bằng Việt và tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài được công bố công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo tối thiểu 20 ngày trước ngày họp Hội đồng đánh giá luận án, trừ những luận án được phép bảo vệ mật theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này;\nd) Trường hợp đơn vị đào tạo tổ chức đánh giá luận án trực tuyến phải bảo đảm có ít nhất 03 thành viên Hội đồng có mặt trực tiếp cùng nghiên cứu sinh; trong trường hợp thiên tai, dịch bệnh bất khả kháng thực hiện theo hướng dẫn cụ thể của Đại học Quốc gia Hà Nội;\nđ) Không có khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về nội dung khoa học trong luận án trước phiên họp của Hội đồng;\n\ne) Hội đồng đánh giá luận án không họp nếu xảy ra một trong các trường hợp sau:\n- Không đáp ứng một trong các điều kiện quy định tại điểm a hoặc b hoặc c hoặc d hoặc đ nêu trên;\n- Vắng mặt Chủ tịch Hội đồng hoặc Thư ký Hội đồng;\n- Vắng mặt Phản biện có ý kiến không tán thành luận án;\n- Vắng mặt từ 02 thành viên Hội đồng trở lên;\n- Nghiên cứu sinh đang trong thời gian thi hành án hình sự hoặc bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên;\n- Có 02 thành viên Hội đồng không tán thành luận án. Trường hợp này, luận án được xem là không được Hội đồng đánh giá thông qua, không cần tổ chức bảo vệ luận án.\n5. Tổ chức đánh giá luận án\na) Đơn vị đào tạo trực tiếp thực hiện công tác chuẩn bị và tổ chức đánh giá luận án. Nghiên cứu sinh và người hướng dẫn không tiếp xúc với các thành viên Hội đồng trước khi bảo vệ luận án;\nb) Luận án được tổ chức bảo vệ công khai. Những đề tài liên quan đến bí mật quốc gia được tổ chức bảo vệ theo quy định tại Điều 30 của Quy chế này. Mỗi thành viên Hội đồng có trách nhiệm tìm hiểu đầy đủ về luận án trước khi đánh giá; ý kiến của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh phải được trình bày công khai trước Hội đồng để Hội đồng xem xét, đánh giá;\nc) Luận án được đánh giá bằng hình thức bỏ phiếu kín theo hai mức: “Đạt” hay “Không đạt” (theo mẫu ở Phụ lục V). Luận án không được thông qua nếu có từ 02 thành viên Hội đồng đánh giá có mặt tại buổi bảo vệ bỏ phiếu “Không đạt”;\nd) Hội đồng thông qua quyết nghị về luận án. Quyết nghị của Hội đồng phải nêu được các vấn đề sau: Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án; tính hiện đại, hợp lí và độ tin cậy của phương pháp nghiên cứu; kết quả mới của luận án; những thiếu sót về nội dung và hình thức của luận án; tán thành đề nghị công nhận hay không công nhận học vị tiến\n\nsĩ về ngành/chuyên ngành đào tạo cho nghiên cứu sinh; đề nghị khen thưởng (nếu luận án đặc biệt xuất sắc);\nđ) Biên bản buổi bảo vệ luận án được toàn thể Hội đồng đánh giá luận án thông qua và có chữ ký xác nhận của Chủ tịch và Thư ký Hội đồng;\ne) Hội đồng đánh giá luận án tự giải thể sau khi đã hoàn thành việc đánh giá luận án hoặc quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án. Trong trường hợp Hội đồng đánh giá luận án quá 03 tháng kể từ ngày thành lập mà chưa tổ chức được phiên họp đánh giá luận án, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2; đơn vị đào tạo trực thuộc đề nghị Ban Đào tạo trình Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần 2. Trong trường hợp bất khả kháng, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên hoặc Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét quyết định gia hạn thời hạn hoạt động của Hội đồng;\ng) Không ra quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án lần thứ ba.\n6. Việc thay đổi thành viên Hội đồng đánh giá luận án chỉ được giải quyết trong trường hợp cần thiết, có lý do chính đáng. Thời hạn quy định liên quan đến hoạt động của các thành viên Hội đồng quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này và điều kiện tổ chức bảo vệ luận án theo quy định tại khoản 4, Điều này được tính kể từ ngày ký quyết định cuối cùng về việc thay đổi, bổ sung thành viên Hội đồng đánh giá luận án.\n7. Bảo vệ lại luận án\na) Trong trường hợp luận án của nghiên cứu sinh không được Hội đồng đánh giá luận án thông qua và được Hội đồng kiến nghị cho phép bảo vệ lại, nghiên cứu sinh được phép sửa chữa luận án để bảo vệ lần thứ hai. Lần bảo vệ thứ hai sớm nhất là sau 03 tháng và muộn nhất là 06 tháng kể từ ngày bảo vệ lần thứ nhất;\nb) Không tổ chức đánh giá lại luận án khi không có kiến nghị của Hội đồng đánh giá luận án lần thứ nhất;\n\nc) Hồ sơ đề nghị bảo vệ lại luận án, ngoài các nội dung như lần bảo vệ thứ nhất, phải có thêm bản tường trình về quá trình bổ sung, sửa chữa, hoàn thiện luận án của nghiên cứu sinh, có xác nhận của người hướng dẫn và đề nghị bằng văn bản của đơn vị chuyên môn cho nghiên cứu sinh được bảo vệ lần thứ hai;\nd) Thành phần Hội đồng đánh giá luận án lần thứ hai phải có tối thiểu 03 thành viên đã tham gia Hội đồng lần thứ nhất, trong đó có đủ những thành viên có ý kiến không tán thành luận án. Không tổ chức đánh giá luận án lần thứ ba.\n",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Có, chuyên gia trong ngành có thể yêu cầu thay đổi thành viên Hội đồng đánh giá luận án nếu có lý do chính đáng và cần thiết, theo quy định tại khoản 6 Điều 29 của Quy chế. Tuy nhiên, tài liệu tham khảo được cung cấp không chứa thông tin quy định về việc yêu cầu bảo mật phản biện độc lập. Hơn nữa, khoản 5b Điều 29 còn nêu rõ rằng ý kiến của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh phải được trình bày công khai trước Hội đồng."
}
],
"id": "36062",
"is_impossible": false,
"question": "Chuyên gia trong ngành có thể yêu cầu thay đổi thành viên Hội đồng đánh giá nếu có lý do chính đáng và đồng thời yêu cầu bảo mật phản biện không?"
}
]
}
],
"title": "Chuyên gia trong ngành có thể yêu cầu thay đổi thành viên Hội đồng đánh giá nếu có lý do chính đáng và đồng thời yêu cầu bảo mật phản biện không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 31. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án Vào ngày làm việc cuối cùng của các tháng chẵn trong năm, các đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội danh sách và thông tin trích ngang của các nghiên cứu sinh bảo vệ luận án trong 02 tháng trước đó. Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, lựa chọn kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án của nghiên cứu sinh. Việc kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án được thực hiện trong các trường hợp sau: Kiểm tra, thẩm định ngẫu nhiên theo yêu cầu của công tác quản lý, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chế này và những quy định có liên quan: Lựa chọn xác suất trong số hồ sơ, luận án đã bảo vệ theo báo cáo của đơn vị đào tạo; Kiểm tra, thẩm định đối với những hồ sơ, luận án cụ thể khi có phản ánh hoặc có đơn thư khiếu nại, tố cáo; Kiểm tra, thẩm định theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quy trình kiểm tra, thẩm định: Trong thời gian 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của đơn vị đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội rà soát và có văn bản thông báo cho đơn vị đào tạo danh sách các trường hợp cần kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo hoặc thẩm định chất lượng luận án; Đơn vị đào tạo có trách nhiệm nộp đầy đủ các hồ sơ/luận án theo yêu cầu kiểm tra, thẩm định của Đại học Quốc gia Hà Nội; Đại học Quốc gia Hà Nội tiến hành kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo trong thời gian tối đa 30 ngày làm việc và thẩm định chất lượng luận án trong thời gian tối đa 90 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ theo quy định tại điểm a, khoản 4 Điều này hoặc điểm a, khoản 5, Điều này; có văn bản thông báo kết quả kiểm tra, thẩm định cho đơn vị đào tạo. Kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo Danh mục hồ sơ kiểm tra Hồ sơ dự tuyển, thi tuyển, xét tuyển và quyết định công nhận nghiên cứu sinh; Hồ sơ thực hiện quy trình seminar, phản biện độc lập và bảo vệ luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Hồ sơ xét cấp bằng tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 01 bộ. Hồ sơ quá trình đào tạo đạt yêu cầu khi đảm bảo các quy định về tuyển sinh, tổ chức và quản lý đào tạo, quy trình tổ chức đánh giá luận án các cấp theo các quy định tại Quy chế này; Đối với những trường hợp hồ sơ kiểm tra quá trình đào tạo chưa đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo có trách nhiệm giải trình những vấn đề liên quan, bổ sung minh chứng và đề xuất hướng xử lý với Đại học Quốc gia Hà Nội theo quy định hiện hành. Thẩm định chất lượng luận án Hồ sơ thẩm định chất lượng luận án Luận án và tóm tắt luận án đã xoá thông tin về nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn và đơn vị đào tạo; Bản sao các công bố kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh đã xóa thông tin về nghiên cứu sinh; Số lượng hồ sơ: 03 bộ. Chất lượng luận án được thẩm định bằng hình thức lấy ý kiến thẩm định độc lập của 03 nhà khoa học ở trong hoặc ngoài nước, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư, có học vị tiến sĩ khoa học hoặc tiến sĩ, đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu như các Phản biện trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định ở điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này, am hiểu đề tài và lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh, có chính kiến và bản lĩnh khoa học, khách quan, trung thực, không trong danh sách những người đã tham gia phản biện độc lập hoặc tham gia Hội đồng đánh giá luận án; Chất lượng luận án đạt yêu cầu thẩm định nếu có ít nhất 02 ý kiến thẩm định đồng ý về chuyên môn; Trường hợp chất lượng luận án không đạt yêu cầu, Đại học Quốc gia Hà Nội ra quyết định thành lập Hội đồng thẩm định luận án và ủy quyền thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức họp Hội đồng thẩm định luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội; đ) Hội đồng thẩm định luận án Hội đồng thẩm định luận án gồm 07 thành viên, trong đó có ít nhất 03 thành viên chưa tham gia seminar đánh giá tổng thể luận án tại đơn vị chuyên môn, không là phản biện độc lập hoặc trong Hội đồng đánh giá luận án của luận án được thẩm định; những nhà khoa học thẩm định không tán thành luận án là thành viên đương nhiên của Hội đồng; Hội đồng thẩm định luận án có Chủ tịch, Thư ký và các Ủy viên; Tiêu chuẩn của thành viên Hội đồng thẩm định luận án như tiêu chuẩn của các thành viên trong Hội đồng đánh giá luận án được quy định tại điểm b, điểm c và điểm d, khoản 3, Điều 29 của Quy chế này. Cán bộ hướng dẫn luận án không tham gia vào Hội đồng thẩm định luận án; Trước khi họp Hội đồng thẩm định, các thành viên Hội đồng có bản nhận xét về tính cấp thiết của đề tài luận án, sự phù hợp với ngành/ chuyên ngành; không trùng lặp về đề tài, nội dung, kết quả nghiên cứu với các công trình đã được công bố; tính trung thực, minh bạch trong trích dẫn tư liệu; bố cục và hình thức trình bày; nội dung, phương pháp, kết quả, ý nghĩa, độ tin cậy của các kết quả đạt được; những phát hiện, luận điểm mới của luận án; đánh giá thành công và hạn chế của luận án, khẳng định mức độ đáp ứng yêu cầu của một luận án; Hội đồng chỉ họp khi có mặt ít nhất 06 thành viên Hội đồng bao gồm Chủ tịch, Thư ký và các thành viên Hội đồng có ý kiến không tán thành luận án (nếu có). Hội đồng thẩm định luận án có trách nhiệm xem xét, đánh giá chất lượng luận án; làm rõ những nội dung đơn thư khiếu nại, tố cáo; nội dung nhận xét, kết luận của những người thẩm định độc lập luận án. Hội đồng phải có biên bản ghi chi tiết các ý kiến thảo luận, trao đổi, kết luận và quyết nghị về chất lượng luận án; Luận án không đạt yêu cầu thẩm định khi có từ 02 thành viên Hội đồng có mặt trở lên không tán thành, bỏ phiếu đánh giá luận án ở mức “Không đạt”. Trường hợp luận án không đạt yêu cầu của Hội đồng thẩm định Thủ trưởng đơn vị đào tạo tổ chức cuộc họp đối thoại giữa Hội đồng thẩm định luận án với Hội đồng đánh giá luận án có sự giám sát trực tiếp của đại diện Ban Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội. Số lượng thành viên của hai Hội đồng dự họp ít nhất là 12 người, trong đó Chủ tịch, Phản biện, Thư ký và các thành viên có ý kiến không tán thành của hai Hội đồng phải có mặt; Thủ trưởng đơn vị đào tạo trực tiếp điều hành cuộc họp, bầu thư ký. Thành viên của hai Hội đồng tranh luận về nội dung và chất lượng luận án, bỏ phiếu đánh giá lại luận án. Luận án không được thông qua nếu có từ 03 thành viên có mặt tại buổi đối thoại trở lên không tán thành (bỏ phiếu đánh giá ở mức “Không đạt”). Kết quả cuộc họp đối thoại là kết quả thẩm định cuối cùng về chất lượng luận án. Đối với luận án đạt yêu cầu thẩm định nhưng có ý kiến của người thẩm định hoặc của Hội đồng thẩm định yêu cầu phải sửa chữa, trong thời hạn tối đa 45 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo kết quả thẩm định, nghiên cứu sinh cùng với cán bộ hướng dẫn luận án xem xét chỉnh sửa chi tiết các nội dung luận án theo yêu cầu của người/ Hội đồng thẩm định, có bản hiệu đính ghi rõ những nội dung đã được chỉnh sửa (hoặc những nội dung bảo lưu ý kiến) và chỉ rõ số trang tương ứng báo cáo Giám đốc Đại học Quốc gia (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo trực thuộc), thủ trưởng đơn vị đào tạo (đối với nghiên cứu sinh của đơn vị đào tạo thành viên) kèm theo luận án đã chỉnh sửa; đồng thời nộp lại bản luận án đã chỉnh sửa, hiệu đính kèm công văn của đơn vị đào tạo gửi cho các thư viện để thay thế cho bản luận án đã nộp lưu chiểu (với các trường hợp đã gửi luận án cho các thư viện). Trường hợp quá trình đào tạo và chất lượng luận án sau khi thực hiện quy định tại khoản 4 và khoản 5, Điều này vẫn không đạt yêu cầu, đơn vị đào tạo xem xét, quyết định thực hiện theo các phương án sau: Nếu nghiên cứu sinh chưa được cấp bằng tiến sĩ, đơn vị đào tạo cho phép nghiên cứu sinh bổ sung, hoàn thiện các điều kiện để được cấp bằng trong thời gian đào tạo ghi tại quyết định công nhận nghiên cứu sinh và bao gồm cả thời gian được phép kéo dài (nếu có) (đối với trường hợp kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo); hoặc sửa đổi, bổ sung và đề nghị được đánh giá lại luận án theo quy định tại khoản 7, Điều 29 của Quy chế này nếu chưa đánh giá lần thứ hai trong thời hạn tối đa 06 tháng (đối với trường hợp thẩm định chất lượng luận án); Nếu nghiên cứu sinh đã được cấp bằng tiến sĩ, việc thu hồi bằng được thực hiện theo quy định hiện hành và trong những trường hợp: Hồ sơ quá trình đào tạo được xác nhận có vi phạm, sai sót nghiêm trọng dẫn đến người được cấp bằng không còn bảo đảm đáp ứng đủ điều kiện dự tuyển, công nhận nghiên cứu sinh và duy trì các điều kiện bảo đảm chất lượng trong quá trình học tập và nghiên cứu tại đơn vị đào tạo; Luận án có nội dung sao chép, trích dẫn không đúng quy định và bị Hội đồng thẩm định kết luận nếu cắt bỏ những phần sao chép, trích dẫn đó thì luận án không đáp ứng yêu cầu quy định của Quy chế này; Luận án của nghiên cứu sinh không được thông qua theo quy định tại điểm e, khoản 5, Điều này. Trong thời gian tối đa 60 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo của Đại học Quốc gia Hà Nội về kết quả kiểm tra, thẩm định cuối cùng hoặc ngày có kết quả cuộc họp đối thoại, đơn vị đào tạo có văn bản báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội về việc xử lý kết quả kiểm tra, thẩm định kèm theo minh chứng. Đơn vị đào tạo có từ 20% trở lên số hồ sơ quá trình đào tạo hoặc luận án không đạt yêu cầu kiểm tra/thẩm định trong năm sẽ bị dừng tuyển sinh ít nhất trong một năm kế tiếp; có từ 20% trở lên số luận án không đạt yêu cầu thẩm định trong hai năm liên tiếp sẽ bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ ít nhất trong một năm kế tiếp. Việc dừng các hoạt động này được thông báo công khai trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo và của Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong thời gian bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ, việc tổ chức đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh của các đơn vị đào tạo thành viên do Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện như đối với các đơn vị đào tạo trực thuộc. Đơn vị đào tạo phải có giải pháp khắc phục và báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội kết quả thực hiện các giải pháp đó. Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định cho phép đơn vị đào tạo tiếp tục tuyển sinh, tổ chức Hội đồng đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Không. Theo Điều 31, việc kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo và thẩm định chất lượng luận án thuộc thẩm quyền của Đại học Quốc gia Hà Nội. Quy trình này thường được thực hiện sau khi luận án đã bảo vệ, thông qua việc các đơn vị đào tạo báo cáo danh sách nghiên cứu sinh đã bảo vệ, hoặc được tiến hành ngẫu nhiên, khi có phản ánh, khiếu nại, hay theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Điều 31 không quy định về việc tổ chức kiểm tra lại quá trình đào tạo và thẩm định luận án trước khi nghiên cứu sinh bảo vệ lần đầu."
}
],
"id": "36063",
"is_impossible": false,
"question": "Cán bộ nhà trường có thể tổ chức kiểm tra lại quá trình đào tạo và đồng thời thẩm định luận án trước khi bảo vệ không?"
}
]
}
],
"title": "Cán bộ nhà trường có thể tổ chức kiểm tra lại quá trình đào tạo và đồng thời thẩm định luận án trước khi bảo vệ không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 27. Đánh giá tổng thể luận án ở đơn vị chuyên môn 1. Điều kiện để được đánh giá tổng thể luận án ở đơn vị chuyên môn:a) Đã tích lũy đủ các học phần, các chuyên đề, tiểu luận tổng quan theo yêu cầu của chương trình đào tạo tiến sĩ; có điểm trung bình chung tích lũy của các học phần bổ sung (nếu có) đạt từ 2,5 trở lên;b) Có công bố khoa học đáp ứng quy định tại Điều 18 của Quy chế này và văn bản đồng ý của tác giả chính (nếu sử dụng kết quả của các công trình có đồng tác giả phục vụ hoàn thiện luận án);c) Có xác nhận và minh chứng về việc tham gia trực tiếp các đề tài nghiên cứu khoa học trong quá trình đào tạo trình độ tiến sĩ, có liên quan đến đề tài nghiên cứu của nghiên cứu sinh được quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 16 của Quy chế này;d) Có minh chứng về việc tham gia công tác trợ giảng, hỗ trợ đào tạo như quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 16 của Quy chế này;đ) Có đầy đủ các nhận xét và đánh giá định kỳ về kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 25 của Quy chế này;e) Đã hoàn thành luận án đáp ứng yêu cầu quy định tại Điều 25 của Quy chế này;g) Có trích yếu luận án bằng tiếng Việt và tiếng Anh kèm theo luận án;h) Được cá nhân hoặc tập thể cán bộ hướng dẫn khẳng định chất lượng luận án và đề nghị cho nghiên cứu sinh được đánh giá luận án tổng thể ở đơn vị chuyên môn;i) Không trong thời gian thi hành án hình sự, kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên.2. Tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận ána) Sau khi nghiên cứu sinh đã đáp ứng các yêu cầu ở khoản 1, Điều này, đơn vị chuyên môn tổ chức seminar khoa học để đánh giá tổng thể luận án và lấy ý kiến rộng rãi của các nhà khoa học cho luận án bảo đảm đúng tính chất là sinh hoạt khoa học, hỗ trợ nghiên cứu sinh hoàn thiện luận án trước khi thực hiện quy trình phản biện độc lập và bảo vệ luận án tại Hội đồng đánh giá luận án của đơn vị đào tạo;b) Thủ trưởng đơn vị đào tạo ban hành quyết định thành lập tiểu ban chuyên môn đánh giá luận án gồm 05 đến 07 nhà khoa học (trong đó có tối thiểu 3 người không phải là cán bộ cơ hữu và hợp đồng kiêm nhiệm của đơn vị đào tạo) có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc có học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ có chuyên môn phù hợp với đề tài nghiên cứu hoặc lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh ở trong và ngoài đơn vị đào tạo và đáp ứng các tiêu chí như đối với cán bộ hướng dẫn chính được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này. Thành phần tham dự buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn bao gồm tiểu ban chuyên môn, đại diện đơn vị chuyên môn, đại diện bộ phận quản lý đào tạo sau đại học của đơn vị và các nhà khoa học quan tâm tới luận án. Nghiên cứu sinh phải trình bày toàn bộ kết quả của luận án tại seminar này. Các ý kiến góp ý trong buổi đánh giá cũng như giải đáp, tiếp thu của nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn phải được ghi đầy đủ trong biên bản, được đơn vị chuyên môn và bộ phận quản lý đào tạo sau đại học xác nhận;c) Luận án được thông qua ở cấp đơn vị chuyên môn nếu có tối thiểu 3/4 số nhà khoa học trong tiểu ban chuyên môn có ý kiến đồng ý đưa luận án ra đánh giá luận án ở Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ. Cán bộ hướng dẫn và nghiên cứu sinh tiếp thu chỉnh sửa luận án theo góp ý của seminar, kèm theo bản giải trình các ý kiến tiếp thu và hoàn thiện luận án, biên bản buổi seminar đánh giá tổng thể luận án và các bản nhận xét luận án của các thành viên tiểu ban chuyên môn đã tham dự seminar tổng thể luận án, có xác nhận của trưởng đơn vị chuyên môn để trình chủ nhiệm khoa chuyên môn (với các trường đại học thành viên, trường trực thuộc) đề nghị thủ trưởng đơn vị đào tạo tiếp tục quy trình đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh. Nếu luận án không đạt yêu cầu trên, nghiên cứu sinh hoàn thiện luận án và đơn vị đào tạo có thể tổ chức đánh giá lại luận án tổng thể tại seminar của đơn vị chuyên môn cho nghiên cứu sinh;d) Với các đơn vị không có khoa chuyên môn (viện thành viên và viện/ khoa trực thuộc) thì trưởng đơn vị chuyên môn xác nhận và đề nghị trực tiếp thủ trưởng đơn vị đào tạo tiếp tục quy trình đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Theo Điều 27, khoản 2 của quy định, đơn vị chuyên môn có trách nhiệm tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án. Tuy nhiên, thông tin về việc thành lập Hội đồng thẩm định chất lượng luận án không được đề cập trong tài liệu tham khảo đã cung cấp."
}
],
"id": "36064",
"is_impossible": false,
"question": "Cán bộ nhà trường có thể tổ chức seminar đánh giá tổng thể và đồng thời thành lập Hội đồng thẩm định chất lượng luận án không?"
}
]
}
],
"title": "Cán bộ nhà trường có thể tổ chức seminar đánh giá tổng thể và đồng thời thành lập Hội đồng thẩm định chất lượng luận án không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 28. Phản biện độc lập luận án Trong thời gian không quá 03 tháng kể từ ngày luận án được thông qua ở cấp đơn vị chuyên môn, nghiên cứu sinh hoàn thiện luận án và đơn vị chuyên môn gửi hồ sơ đề nghị tiếp tục quy trình đánh giá luận án về bộ phận quản lý đào tạo sau đại học của các đơn vị đào tạo. Các đơn vị đào tạo trực thuộc chuyển các hồ sơ trên về Ban Đào tạo để tiến hành lấy ý kiến của các phản biện độc lập đánh giá chất lượng luận án và chuẩn bị các thủ tục để thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo thành viên hoặc Ban Đào tạo mời 02 chuyên gia phản biện độc lập luận án (theo mẫu ở Phụ lục IV). Phản biện độc lập phải đáp ứng các tiêu chuẩn như đối với người hướng dẫn chính luận án được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 35 của Quy chế này, đồng thời đáp ứng các yêu cầu sau: Thuộc 02 cơ quan công tác khác nhau ngoài đơn vị đào tạo, trong đó có ít nhất 01 phản biện ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội. Với người đã nghỉ hưu, cơ quan công tác được tính là đơn vị ban hành quyết định cho nghỉ hưu; Không là đồng tác giả với nghiên cứu sinh trong các công trình công bố có liên quan đến đề tài luận án; Không cùng cơ quan công tác với nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không có quan hệ cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột với nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh; Không tham dự vào buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Ý kiến của phản biện độc lập có giá trị tư vấn cho thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên và Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Đơn vị đào tạo, đơn vị thụ lí hồ sơ đánh giá luận án có trách nhiệm bảo mật thông tin của phản biện độc lập. Nghiên cứu sinh và cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh không được tìm hiểu, tiếp xúc hoặc trao đổi với phản biện độc lập dưới bất kỳ hình thức nào. Danh sách phản biện độc lập là tài liệu mật của đơn vị đào tạo. Phản biện độc lập có nhiệm vụ đọc luận án, các công trình khoa học đã công bố của nghiên cứu sinh và có ý kiến đánh giá về giá trị khoa học, những đóng góp, đặc biệt là những đóng góp mới của luận án cho lĩnh vực khoa học chuyên ngành; những điểm đúng, những điểm sai hoặc cần sửa chữa của luận án; sự phù hợp của đề tài luận án với mã số ngành/chuyên ngành; sự không trùng lặp của đề tài, số liệu, kết quả nghiên cứu, kết luận của luận án với các đề tài, luận án, luận văn, công trình khoa học khác; tính trung thực, rõ ràng và đầy đủ trong trích dẫn; sự phản ánh kết quả luận án trong những công trình đã công bố; nhận định về nội dung, chất lượng những công trình đã công bố; những yêu cầu đòi hỏi nghiên cứu sinh phải bổ sung, hoàn chỉnh luận án (nếu có). Để kết luận, phản biện độc lập cần cho ý kiến ở 1 trong 3 mức: đồng ý, đồng ý nhưng yêu cầu sửa chữa, bổ sung hoặc không đồng ý để luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án. Trong trường hợp, phản biện độc lập đánh giá ở mức đồng ý nhưng có yêu cầu sửa chữa bổ sung, nghiên cứu sinh cần tiếp thu và sửa chữa, hoặc bảo lưu và giải trình, không cần gửi lại cho người phản biện để lấy ý kiến đồng ý hay không đồng ý nhưng phải được giải trình bằng văn bản để lưu hồ sơ và trình bày công khai trước Hội đồng đánh giá luận án. Hội đồng xem xét nội dung đó để đánh giá. Phản biện độc lập bảo mật thông tin về việc nhận xét luận án và không tiếp xúc với nghiên cứu sinh hay cán bộ hướng dẫn. Mọi yêu cầu của phản biện độc lập và giải trình của nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn đều phải thông qua đơn vị thụ lý hồ sơ đánh giá luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh. Phản biện độc lập gửi nhận xét luận án trong thời hạn theo thư mời của đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo (tối đa 02 tháng). Sau thời gian tối đa 03 tháng kể từ ngày phản biện độc lập nhận được hồ sơ luận án mà đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo không nhận được bản nhận xét của phản biện độc lập, đơn vị đào tạo hoặc Ban Đào tạo có thể mời phản biện độc lập khác thay thế. Xử lý kết quả phản biện độc lập luận án Trường hợp cả 02 phản biện độc lập tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu một trong hai phản biện độc lập không đồng ý cho luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án, luận án phải được gửi đến phản biện độc lập thứ ba. Trường hợp phản biện độc lập thứ ba tán thành, luận án được đưa ra bảo vệ ở Hội đồng đánh giá luận án; Nếu cả hai phản biện độc lập không tán thành luận án, hoặc phản biện độc lập thứ ba (trong trường hợp luận án phải xin ý kiến của phản biện độc lập thứ ba) không tán thành, luận án bị trả về đơn vị chuyên môn để nghiên cứu sinh chỉnh sửa và đơn vị chuyên môn phải tổ chức lại seminar đánh giá tổng thể luận án như quy định tại Điều 27 của Quy chế này. Nghiên cứu sinh chỉ được phép trình lại hồ sơ đề nghị tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án sớm nhất sau 03 tháng và muộn nhất trước 06 tháng kể từ ngày luận án có quyết định được trả lại. Luận án sau khi sửa chữa phải tiếp tục thực hiện quy trình phản biện độc lập theo quy định (phản biện độc lập lần thứ hai). Không thực hiện quy trình phản biện độc lập lần thứ ba; Nhận xét của từng phản biện độc lập (không có tên người phản biện) được gửi cho bộ phận quản lý công tác đào tạo sau đại học của đơn vị đào tạo để yêu cầu nghiên cứu sinh tiếp thu sửa chữa theo các ý kiến đóng góp của phản biện độc lập hoặc giải thích nhằm bảo lưu quan điểm của mình. Sau khi luận án được các phản biện độc lập tán thành và đã được sửa chữa/bổ sung, hoàn thiện (có xác nhận của cán bộ hướng dẫn và trưởng đơn vị chuyên môn), đơn vị đào tạo sau đại học làm thủ tục thành lập Hội đồng đánh giá luận án cho nghiên cứu sinh. Với nghiên cứu sinh là tác giả chính của tối thiểu 03 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS hoặc 01 bằng phát minh sáng chế/giải pháp hữu ích và 02 bài báo đăng trên các tạp chí thuộc danh mục WoS có kết quả công bố phù hợp với đề tài nghiên cứu của luận án, được đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập được quy định ở khoản 2, Điều 26 và Điều 28 của Quy chế này và thực hiện thẳng quy trình thành lập Hội đồng đánh giá luận án. Việc thẩm định sự phù hợp nội dung bài báo với đề tài nghiên cứu của luận án cũng như đề nghị đặc cách bỏ qua quy trình phản biện độc lập do tiểu ban chuyên môn thực hiện trong buổi đánh giá luận án tại đơn vị chuyên môn. Đơn vị đào tạo báo cáo Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét, phê duyệt.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Có, cán bộ nhà trường có thể quyết định không cho phép luận án được bảo vệ và yêu cầu nghiên cứu sinh sửa chữa luận án nếu luận án không đạt yêu cầu của phản biện độc lập."
}
],
"id": "36065",
"is_impossible": false,
"question": "Cán bộ nhà trường có thể quyết định không cho phép luận án được bảo vệ nếu không đạt yêu cầu của phản biện độc lập và yêu cầu sửa chữa luận án không?"
}
]
}
],
"title": "Cán bộ nhà trường có thể quyết định không cho phép luận án được bảo vệ nếu không đạt yêu cầu của phản biện độc lập và yêu cầu sửa chữa luận án không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 32. Điều kiện được công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ Nghiên cứu sinh được xét công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau: Luận án của nghiên cứu sinh đã được Hội đồng đánh giá luận án thông qua và nghiên cứu sinh đã hoàn thành việc sửa chữa, bổ sung luận án/tóm tắt luận án theo quyết nghị của Hội đồng đánh giá luận án trong thời hạn 01 tháng và được người hướng dẫn, Chủ tịch Hội đồng và đơn vị đào tạo xác nhận (nếu có); Hồ sơ luận án (gồm quyển luận án và các tài liệu minh chứng kèm theo) đã nộp cho Thư viện Quốc gia Việt Nam và Trung tâm Thư viện và Tri thức số, Đại học Quốc gia Hà Nội gồm: Bản điện tử toàn văn luận án và tóm tắt luận án hoàn chỉnh kèm theo phần mềm để đọc các nội dung đó (nếu cần); Bản cứng (quyển luận án) đã nộp có chữ ký của nghiên cứu sinh, chữ ký của người hướng dẫn và xác nhận của thủ trưởng đơn vị đào tạo (kể cả luận án được bảo vệ theo chế độ mật). Quyển luận án phải đảm bảo đã sửa chữa theo kết luận của Hội đồng đánh giá luận án và các tài liệu minh chứng kèm theo được đóng bổ sung vào phần cuối của luận án, bao gồm: + Quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ (bản sao); + Các bản nhận xét của các thành viên Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ (bản sao); + Biên bản họp và quyết nghị của Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ (bản sao); + Bản gốc giải trình chỉnh sửa luận án theo quyết nghị của Hội đồng đánh giá (có chữ ký của nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn hoặc đại diện cán bộ hướng dẫn và Chủ tịch Hội đồng đánh giá luận án); + Thông tin luận án (bản tiếng Việt và bản tiếng Anh). Đã công bố toàn văn luận án và tóm tắt luận án trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo (trừ những luận án được đánh giá theo chế độ mật) trong thời gian 03 tháng kể từ khi nghiên cứu sinh gửi đơn vị đào tạo luận án hoàn chỉnh cuối cùng; Với những nghiên cứu sinh có hồ sơ/luận án thuộc diện kiểm tra/thẩm định thì phải đạt yêu cầu kiểm tra/thẩm định được quy định tại Điều 31 Quy chế này; đ) Có minh chứng đã cập nhật đầy đủ toàn bộ thông tin về nghiên cứu sinh trên phần mềm quản lý đào tạo tiến sĩ của Đại học Quốc gia Hà Nội; Cho đến thời điểm xét tốt nghiệp, nghiên cứu sinh không đang trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên. Hồ sơ xét cấp bằng tiến sĩ của nghiên cứu sinh gồm: Biên bản của buổi bảo vệ luận án tiến sĩ; Quyết nghị của Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ; Biên bản kiểm phiếu và các phiếu đánh giá của tất cả các thành viên Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ; Bản nhận xét, đánh giá của người hướng dẫn hoặc tập thể hướng dẫn nghiên cứu sinh; đ) Danh sách có chữ ký của các thành viên Hội đồng tham gia đánh giá luận án tại buổi bảo vệ luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Giấy biên nhận luận án và tóm tắt luận án của Thư viện Quốc gia Việt Nam và Trung tâm Thư viện và Tri thức số, Đại học Quốc gia Hà Nội; Minh chứng công bố công khai ngày bảo vệ luận án (trừ những luận án bảo vệ theo chế độ mật); Bản giải trình chỉnh sửa luận án theo quyết nghị của Hội đồng đánh giá luận án (có chữ ký của nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn và Chủ tịch Hội đồng); Với những nghiên cứu sinh thuộc diện kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo/ thẩm định chất lượng luận án đạt yêu cầu phải kèm theo các nhận xét đánh giá thẩm định và thông báo kết quả kiểm tra/thẩm định; các bổ sung, sửa chữa, giải trình (nếu có) và luận án/tóm tắt luận án hoàn chỉnh cuối cùng có chữ ký của nghiên cứu sinh, chữ ký của người hướng dẫn và xác nhận của thủ trưởng đơn vị đào tạo, Hội đồng thẩm định (nếu có); k) Các tài liệu khác theo quy định của đơn vị đào tạo. Thủ trưởng đơn vị đào tạo chịu trách nhiệm tổ chức kiểm tra quá trình đào tạo, chất lượng luận án, việc tổ chức và hoạt động của Hội đồng đánh giá luận án, hồ sơ xét cấp bằng tiến sĩ. Nghiên cứu sinh không đủ điều kiện tốt nghiệp, không bị kỷ luật, nếu có yêu cầu, sẽ được thủ trưởng đơn vị đào tạo cấp chứng nhận về kết quả các học phần, chuyên đề đã hoàn thành trong chương trình đào tạo.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Sau khi hoàn thành sửa chữa luận án, để được xét công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ, nghiên cứu sinh cần thực hiện các công việc sau: nộp hồ sơ luận án (bao gồm bản điện tử và bản cứng cùng tài liệu minh chứng) cho Thư viện Quốc gia Việt Nam và Trung tâm Thư viện và Tri thức số, Đại học Quốc gia Hà Nội; công bố toàn văn luận án và tóm tắt luận án trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo trong thời gian 03 tháng; cung cấp minh chứng đã cập nhật đầy đủ toàn bộ thông tin trên phần mềm quản lý đào tạo tiến sĩ của Đại học Quốc gia Hà Nội; và đảm bảo không đang trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên. Luận án đã sửa chữa cũng cần được người hướng dẫn, Chủ tịch Hội đồng và đơn vị đào tạo xác nhận."
}
],
"id": "36066",
"is_impossible": false,
"question": "Em đã hoàn thành việc sửa chữa luận án, nhưng em cần phải làm thêm gì nữa để được cấp bằng tiến sĩ?"
}
]
}
],
"title": "Em đã hoàn thành việc sửa chữa luận án, nhưng em cần phải làm thêm gì nữa để được cấp bằng tiến sĩ?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 32. Điều kiện được công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ Nghiên cứu sinh được xét công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau: Luận án của nghiên cứu sinh đã được Hội đồng đánh giá luận án thông qua và nghiên cứu sinh đã hoàn thành việc sửa chữa, bổ sung luận án/tóm tắt luận án theo quyết nghị của Hội đồng đánh giá luận án trong thời hạn 01 tháng và được người hướng dẫn, Chủ tịch Hội đồng và đơn vị đào tạo xác nhận (nếu có); Hồ sơ luận án (gồm quyển luận án và các tài liệu minh chứng kèm theo) đã nộp cho Thư viện Quốc gia Việt Nam và Trung tâm Thư viện và Tri thức số, Đại học Quốc gia Hà Nội gồm: Bản điện tử toàn văn luận án và tóm tắt luận án hoàn chỉnh kèm theo phần mềm để đọc các nội dung đó (nếu cần); Bản cứng (quyển luận án) đã nộp có chữ ký của nghiên cứu sinh, chữ ký của người hướng dẫn và xác nhận của thủ trưởng đơn vị đào tạo (kể cả luận án được bảo vệ theo chế độ mật). Quyển luận án phải đảm bảo đã sửa chữa theo kết luận của Hội đồng đánh giá luận án và các tài liệu minh chứng kèm theo được đóng bổ sung vào phần cuối của luận án, bao gồm: + Quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ (bản sao); + Các bản nhận xét của các thành viên Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ (bản sao); + Biên bản họp và quyết nghị của Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ (bản sao); + Bản gốc giải trình chỉnh sửa luận án theo quyết nghị của Hội đồng đánh giá (có chữ ký của nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn hoặc đại diện cán bộ hướng dẫn và Chủ tịch Hội đồng đánh giá luận án); + Thông tin luận án (bản tiếng Việt và bản tiếng Anh). Đã công bố toàn văn luận án và tóm tắt luận án trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo (trừ những luận án được đánh giá theo chế độ mật) trong thời gian 03 tháng kể từ khi nghiên cứu sinh gửi đơn vị đào tạo luận án hoàn chỉnh cuối cùng; Với những nghiên cứu sinh có hồ sơ/luận án thuộc diện kiểm tra/thẩm định thì phải đạt yêu cầu kiểm tra/thẩm định được quy định tại Điều 31 Quy chế này; đ) Có minh chứng đã cập nhật đầy đủ toàn bộ thông tin về nghiên cứu sinh trên phần mềm quản lý đào tạo tiến sĩ của Đại học Quốc gia Hà Nội; Cho đến thời điểm xét tốt nghiệp, nghiên cứu sinh không đang trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên. Hồ sơ xét cấp bằng tiến sĩ của nghiên cứu sinh gồm: Biên bản của buổi bảo vệ luận án tiến sĩ; Quyết nghị của Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ; Biên bản kiểm phiếu và các phiếu đánh giá của tất cả các thành viên Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ; Bản nhận xét, đánh giá của người hướng dẫn hoặc tập thể hướng dẫn nghiên cứu sinh; đ) Danh sách có chữ ký của các thành viên Hội đồng tham gia đánh giá luận án tại buổi bảo vệ luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Giấy biên nhận luận án và tóm tắt luận án của Thư viện Quốc gia Việt Nam và Trung tâm Thư viện và Tri thức số, Đại học Quốc gia Hà Nội; Minh chứng công bố công khai ngày bảo vệ luận án (trừ những luận án bảo vệ theo chế độ mật); Bản giải trình chỉnh sửa luận án theo quyết nghị của Hội đồng đánh giá luận án (có chữ ký của nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn và Chủ tịch Hội đồng); Với những nghiên cứu sinh thuộc diện kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo/ thẩm định chất lượng luận án đạt yêu cầu phải kèm theo các nhận xét đánh giá thẩm định và thông báo kết quả kiểm tra/thẩm định; các bổ sung, sửa chữa, giải trình (nếu có) và luận án/tóm tắt luận án hoàn chỉnh cuối cùng có chữ ký của nghiên cứu sinh, chữ ký của người hướng dẫn và xác nhận của thủ trưởng đơn vị đào tạo, Hội đồng thẩm định (nếu có); k) Các tài liệu khác theo quy định của đơn vị đào tạo. Thủ trưởng đơn vị đào tạo chịu trách nhiệm tổ chức kiểm tra quá trình đào tạo, chất lượng luận án, việc tổ chức và hoạt động của Hội đồng đánh giá luận án, hồ sơ xét cấp bằng tiến sĩ. Nghiên cứu sinh không đủ điều kiện tốt nghiệp, không bị kỷ luật, nếu có yêu cầu, sẽ được thủ trưởng đơn vị đào tạo cấp chứng nhận về kết quả các học phần, chuyên đề đã hoàn thành trong chương trình đào tạo.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Theo Điều 32, để đảm bảo nghiên cứu sinh hoàn thành thủ tục cấp bằng tiến sĩ, giảng viên hướng dẫn cần xác nhận việc nghiên cứu sinh đã hoàn thành việc sửa chữa, bổ sung luận án/tóm tắt luận án theo quyết nghị của Hội đồng đánh giá luận án trong thời hạn 01 tháng. Giảng viên cũng cần ký vào bản cứng luận án, bản gốc giải trình chỉnh sửa luận án theo quyết nghị của Hội đồng, và cung cấp bản nhận xét, đánh giá về nghiên cứu sinh. Đồng thời, giảng viên cần hỗ trợ nghiên cứu sinh trong việc hoàn thiện và nộp đầy đủ hồ sơ theo yêu cầu."
}
],
"id": "36067",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi cần thực hiện những công việc gì để đảm bảo nghiên cứu sinh hoàn thành thủ tục cấp bằng tiến sĩ?"
}
]
}
],
"title": "Tôi cần thực hiện những công việc gì để đảm bảo nghiên cứu sinh hoàn thành thủ tục cấp bằng tiến sĩ?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 32. Điều kiện được công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ Nghiên cứu sinh được xét công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau: Luận án của nghiên cứu sinh đã được Hội đồng đánh giá luận án thông qua và nghiên cứu sinh đã hoàn thành việc sửa chữa, bổ sung luận án/tóm tắt luận án theo quyết nghị của Hội đồng đánh giá luận án trong thời hạn 01 tháng và được người hướng dẫn, Chủ tịch Hội đồng và đơn vị đào tạo xác nhận (nếu có); Hồ sơ luận án (gồm quyển luận án và các tài liệu minh chứng kèm theo) đã nộp cho Thư viện Quốc gia Việt Nam và Trung tâm Thư viện và Tri thức số, Đại học Quốc gia Hà Nội gồm: Bản điện tử toàn văn luận án và tóm tắt luận án hoàn chỉnh kèm theo phần mềm để đọc các nội dung đó (nếu cần); Bản cứng (quyển luận án) đã nộp có chữ ký của nghiên cứu sinh, chữ ký của người hướng dẫn và xác nhận của thủ trưởng đơn vị đào tạo (kể cả luận án được bảo vệ theo chế độ mật). Quyển luận án phải đảm bảo đã sửa chữa theo kết luận của Hội đồng đánh giá luận án và các tài liệu minh chứng kèm theo được đóng bổ sung vào phần cuối của luận án, bao gồm: + Quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ (bản sao); + Các bản nhận xét của các thành viên Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ (bản sao); + Biên bản họp và quyết nghị của Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ (bản sao); + Bản gốc giải trình chỉnh sửa luận án theo quyết nghị của Hội đồng đánh giá (có chữ ký của nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn hoặc đại diện cán bộ hướng dẫn và Chủ tịch Hội đồng đánh giá luận án); + Thông tin luận án (bản tiếng Việt và bản tiếng Anh). Đã công bố toàn văn luận án và tóm tắt luận án trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo (trừ những luận án được đánh giá theo chế độ mật) trong thời gian 03 tháng kể từ khi nghiên cứu sinh gửi đơn vị đào tạo luận án hoàn chỉnh cuối cùng; Với những nghiên cứu sinh có hồ sơ/luận án thuộc diện kiểm tra/thẩm định thì phải đạt yêu cầu kiểm tra/thẩm định được quy định tại Điều 31 Quy chế này; đ) Có minh chứng đã cập nhật đầy đủ toàn bộ thông tin về nghiên cứu sinh trên phần mềm quản lý đào tạo tiến sĩ của Đại học Quốc gia Hà Nội; Cho đến thời điểm xét tốt nghiệp, nghiên cứu sinh không đang trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên. Hồ sơ xét cấp bằng tiến sĩ của nghiên cứu sinh gồm: Biên bản của buổi bảo vệ luận án tiến sĩ; Quyết nghị của Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ; Biên bản kiểm phiếu và các phiếu đánh giá của tất cả các thành viên Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ; Bản nhận xét, đánh giá của người hướng dẫn hoặc tập thể hướng dẫn nghiên cứu sinh; đ) Danh sách có chữ ký của các thành viên Hội đồng tham gia đánh giá luận án tại buổi bảo vệ luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Giấy biên nhận luận án và tóm tắt luận án của Thư viện Quốc gia Việt Nam và Trung tâm Thư viện và Tri thức số, Đại học Quốc gia Hà Nội; Minh chứng công bố công khai ngày bảo vệ luận án (trừ những luận án bảo vệ theo chế độ mật); Bản giải trình chỉnh sửa luận án theo quyết nghị của Hội đồng đánh giá luận án (có chữ ký của nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn và Chủ tịch Hội đồng); Với những nghiên cứu sinh thuộc diện kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo/ thẩm định chất lượng luận án đạt yêu cầu phải kèm theo các nhận xét đánh giá thẩm định và thông báo kết quả kiểm tra/thẩm định; các bổ sung, sửa chữa, giải trình (nếu có) và luận án/tóm tắt luận án hoàn chỉnh cuối cùng có chữ ký của nghiên cứu sinh, chữ ký của người hướng dẫn và xác nhận của thủ trưởng đơn vị đào tạo, Hội đồng thẩm định (nếu có); k) Các tài liệu khác theo quy định của đơn vị đào tạo. Thủ trưởng đơn vị đào tạo chịu trách nhiệm tổ chức kiểm tra quá trình đào tạo, chất lượng luận án, việc tổ chức và hoạt động của Hội đồng đánh giá luận án, hồ sơ xét cấp bằng tiến sĩ. Nghiên cứu sinh không đủ điều kiện tốt nghiệp, không bị kỷ luật, nếu có yêu cầu, sẽ được thủ trưởng đơn vị đào tạo cấp chứng nhận về kết quả các học phần, chuyên đề đã hoàn thành trong chương trình đào tạo.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Để được cấp bằng tiến sĩ, luận án của nghiên cứu sinh cần được công bố toàn văn và tóm tắt trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo (trừ những luận án được đánh giá theo chế độ mật) trong thời gian 03 tháng kể từ khi nghiên cứu sinh gửi luận án hoàn chỉnh cuối cùng cho đơn vị đào tạo."
}
],
"id": "36068",
"is_impossible": false,
"question": "Luận án của tôi cần đạt những điều kiện gì về công bố để được cấp bằng tiến sĩ?"
}
]
}
],
"title": "Luận án của tôi cần đạt những điều kiện gì về công bố để được cấp bằng tiến sĩ?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan Điều 32. Điều kiện được công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ Nghiên cứu sinh được xét công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau: Luận án của nghiên cứu sinh đã được Hội đồng đánh giá luận án thông qua và nghiên cứu sinh đã hoàn thành việc sửa chữa, bổ sung luận án/tóm tắt luận án theo quyết nghị của Hội đồng đánh giá luận án trong thời hạn 01 tháng và được người hướng dẫn, Chủ tịch Hội đồng và đơn vị đào tạo xác nhận (nếu có); Hồ sơ luận án (gồm quyển luận án và các tài liệu minh chứng kèm theo) đã nộp cho Thư viện Quốc gia Việt Nam và Trung tâm Thư viện và Tri thức số, Đại học Quốc gia Hà Nội gồm: Bản điện tử toàn văn luận án và tóm tắt luận án hoàn chỉnh kèm theo phần mềm để đọc các nội dung đó (nếu cần); Bản cứng (quyển luận án) đã nộp có chữ ký của nghiên cứu sinh, chữ ký của người hướng dẫn và xác nhận của thủ trưởng đơn vị đào tạo (kể cả luận án được bảo vệ theo chế độ mật). Quyển luận án phải đảm bảo đã sửa chữa theo kết luận của Hội đồng đánh giá luận án và các tài liệu minh chứng kèm theo được đóng bổ sung vào phần cuối của luận án, bao gồm: + Quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ (bản sao); + Các bản nhận xét của các thành viên Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ (bản sao); + Biên bản họp và quyết nghị của Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ (bản sao); + Bản gốc giải trình chỉnh sửa luận án theo quyết nghị của Hội đồng đánh giá (có chữ ký của nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn hoặc đại diện cán bộ hướng dẫn và Chủ tịch Hội đồng đánh giá luận án); + Thông tin luận án (bản tiếng Việt và bản tiếng Anh). Đã công bố toàn văn luận án và tóm tắt luận án trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo (trừ những luận án được đánh giá theo chế độ mật) trong thời gian 03 tháng kể từ khi nghiên cứu sinh gửi đơn vị đào tạo luận án hoàn chỉnh cuối cùng; Với những nghiên cứu sinh có hồ sơ/luận án thuộc diện kiểm tra/thẩm định thì phải đạt yêu cầu kiểm tra/thẩm định được quy định tại Điều 31 Quy chế này; đ) Có minh chứng đã cập nhật đầy đủ toàn bộ thông tin về nghiên cứu sinh trên phần mềm quản lý đào tạo tiến sĩ của Đại học Quốc gia Hà Nội; Cho đến thời điểm xét tốt nghiệp, nghiên cứu sinh không đang trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên. Hồ sơ xét cấp bằng tiến sĩ của nghiên cứu sinh gồm: Biên bản của buổi bảo vệ luận án tiến sĩ; Quyết nghị của Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ; Biên bản kiểm phiếu và các phiếu đánh giá của tất cả các thành viên Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ; Bản nhận xét, đánh giá của người hướng dẫn hoặc tập thể hướng dẫn nghiên cứu sinh; đ) Danh sách có chữ ký của các thành viên Hội đồng tham gia đánh giá luận án tại buổi bảo vệ luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Giấy biên nhận luận án và tóm tắt luận án của Thư viện Quốc gia Việt Nam và Trung tâm Thư viện và Tri thức số, Đại học Quốc gia Hà Nội; Minh chứng công bố công khai ngày bảo vệ luận án (trừ những luận án bảo vệ theo chế độ mật); Bản giải trình chỉnh sửa luận án theo quyết nghị của Hội đồng đánh giá luận án (có chữ ký của nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn và Chủ tịch Hội đồng); Với những nghiên cứu sinh thuộc diện kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo/ thẩm định chất lượng luận án đạt yêu cầu phải kèm theo các nhận xét đánh giá thẩm định và thông báo kết quả kiểm tra/thẩm định; các bổ sung, sửa chữa, giải trình (nếu có) và luận án/tóm tắt luận án hoàn chỉnh cuối cùng có chữ ký của nghiên cứu sinh, chữ ký của người hướng dẫn và xác nhận của thủ trưởng đơn vị đào tạo, Hội đồng thẩm định (nếu có); k) Các tài liệu khác theo quy định của đơn vị đào tạo. Thủ trưởng đơn vị đào tạo chịu trách nhiệm tổ chức kiểm tra quá trình đào tạo, chất lượng luận án, việc tổ chức và hoạt động của Hội đồng đánh giá luận án, hồ sơ xét cấp bằng tiến sĩ. Nghiên cứu sinh không đủ điều kiện tốt nghiệp, không bị kỷ luật, nếu có yêu cầu, sẽ được thủ trưởng đơn vị đào tạo cấp chứng nhận về kết quả các học phần, chuyên đề đã hoàn thành trong chương trình đào tạo.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Để được công nhận học vị tiến sĩ, nghiên cứu sinh cần nộp hoặc đảm bảo các minh chứng sau: Bản điện tử toàn văn luận án và tóm tắt luận án hoàn chỉnh, kèm theo phần mềm (nếu cần); Bản cứng luận án đã nộp có chữ ký của nghiên cứu sinh, người hướng dẫn và xác nhận của thủ trưởng đơn vị đào tạo, đảm bảo đã được sửa chữa theo kết luận của Hội đồng đánh giá luận án; Bản gốc giải trình chỉnh sửa luận án theo quyết nghị của Hội đồng đánh giá, có chữ ký của nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn hoặc đại diện cán bộ hướng dẫn và Chủ tịch Hội đồng đánh giá luận án; Thông tin luận án (bản tiếng Việt và bản tiếng Anh); Minh chứng đã cập nhật đầy đủ toàn bộ thông tin về nghiên cứu sinh trên phần mềm quản lý đào tạo tiến sĩ của Đại học Quốc gia Hà Nội; Giấy biên nhận luận án và tóm tắt luận án của Thư viện Quốc gia Việt Nam và Trung tâm Thư viện và Tri thức số, Đại học Quốc gia Hà Nội; Minh chứng công bố công khai ngày bảo vệ luận án (trừ những luận án bảo vệ theo chế độ mật); Đối với những nghiên cứu sinh thuộc diện kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo/thẩm định chất lượng luận án đạt yêu cầu, cần kèm theo các nhận xét đánh giá thẩm định và thông báo kết quả kiểm tra/thẩm định; các bổ sung, sửa chữa, giải trình (nếu có) và luận án/tóm tắt luận án hoàn chỉnh cuối cùng có chữ ký của nghiên cứu sinh, người hướng dẫn và xác nhận của thủ trưởng đơn vị đào tạo, Hội đồng thẩm định (nếu có); Các tài liệu khác theo quy định của đơn vị đào tạo."
}
],
"id": "36069",
"is_impossible": false,
"question": "Quy trình công nhận học vị tiến sĩ yêu cầu những minh chứng nào từ nghiên cứu sinh?"
}
]
}
],
"title": "Quy trình công nhận học vị tiến sĩ yêu cầu những minh chứng nào từ nghiên cứu sinh?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 32. Điều kiện được công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ Nghiên cứu sinh được xét công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau: Luận án của nghiên cứu sinh đã được Hội đồng đánh giá luận án thông qua và nghiên cứu sinh đã hoàn thành việc sửa chữa, bổ sung luận án/tóm tắt luận án theo quyết nghị của Hội đồng đánh giá luận án trong thời hạn 01 tháng và được người hướng dẫn, Chủ tịch Hội đồng và đơn vị đào tạo xác nhận (nếu có); Hồ sơ luận án (gồm quyển luận án và các tài liệu minh chứng kèm theo) đã nộp cho Thư viện Quốc gia Việt Nam và Trung tâm Thư viện và Tri thức số, Đại học Quốc gia Hà Nội gồm: Bản điện tử toàn văn luận án và tóm tắt luận án hoàn chỉnh kèm theo phần mềm để đọc các nội dung đó (nếu cần); Bản cứng (quyển luận án) đã nộp có chữ ký của nghiên cứu sinh, chữ ký của người hướng dẫn và xác nhận của thủ trưởng đơn vị đào tạo (kể cả luận án được bảo vệ theo chế độ mật). Quyển luận án phải đảm bảo đã sửa chữa theo kết luận của Hội đồng đánh giá luận án và các tài liệu minh chứng kèm theo được đóng bổ sung vào phần cuối của luận án, bao gồm: + Quyết định thành lập Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ (bản sao); + Các bản nhận xét của các thành viên Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ (bản sao); + Biên bản họp và quyết nghị của Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ (bản sao); + Bản gốc giải trình chỉnh sửa luận án theo quyết nghị của Hội đồng đánh giá (có chữ ký của nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn hoặc đại diện cán bộ hướng dẫn và Chủ tịch Hội đồng đánh giá luận án); + Thông tin luận án (bản tiếng Việt và bản tiếng Anh). Đã công bố toàn văn luận án và tóm tắt luận án trên trang thông tin điện tử của đơn vị đào tạo (trừ những luận án được đánh giá theo chế độ mật) trong thời gian 03 tháng kể từ khi nghiên cứu sinh gửi đơn vị đào tạo luận án hoàn chỉnh cuối cùng; Với những nghiên cứu sinh có hồ sơ/luận án thuộc diện kiểm tra/thẩm định thì phải đạt yêu cầu kiểm tra/thẩm định được quy định tại Điều 31 Quy chế này; đ) Có minh chứng đã cập nhật đầy đủ toàn bộ thông tin về nghiên cứu sinh trên phần mềm quản lý đào tạo tiến sĩ của Đại học Quốc gia Hà Nội; Cho đến thời điểm xét tốt nghiệp, nghiên cứu sinh không đang trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên. Hồ sơ xét cấp bằng tiến sĩ của nghiên cứu sinh gồm: Biên bản của buổi bảo vệ luận án tiến sĩ; Quyết nghị của Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ; Biên bản kiểm phiếu và các phiếu đánh giá của tất cả các thành viên Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ; Bản nhận xét, đánh giá của người hướng dẫn hoặc tập thể hướng dẫn nghiên cứu sinh; đ) Danh sách có chữ ký của các thành viên Hội đồng tham gia đánh giá luận án tại buổi bảo vệ luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh; Giấy biên nhận luận án và tóm tắt luận án của Thư viện Quốc gia Việt Nam và Trung tâm Thư viện và Tri thức số, Đại học Quốc gia Hà Nội; Minh chứng công bố công khai ngày bảo vệ luận án (trừ những luận án bảo vệ theo chế độ mật); Bản giải trình chỉnh sửa luận án theo quyết nghị của Hội đồng đánh giá luận án (có chữ ký của nghiên cứu sinh, cán bộ hướng dẫn và Chủ tịch Hội đồng); Với những nghiên cứu sinh thuộc diện kiểm tra hồ sơ quá trình đào tạo/ thẩm định chất lượng luận án đạt yêu cầu phải kèm theo các nhận xét đánh giá thẩm định và thông báo kết quả kiểm tra/thẩm định; các bổ sung, sửa chữa, giải trình (nếu có) và luận án/tóm tắt luận án hoàn chỉnh cuối cùng có chữ ký của nghiên cứu sinh, chữ ký của người hướng dẫn và xác nhận của thủ trưởng đơn vị đào tạo, Hội đồng thẩm định (nếu có); k) Các tài liệu khác theo quy định của đơn vị đào tạo. Thủ trưởng đơn vị đào tạo chịu trách nhiệm tổ chức kiểm tra quá trình đào tạo, chất lượng luận án, việc tổ chức và hoạt động của Hội đồng đánh giá luận án, hồ sơ xét cấp bằng tiến sĩ. Nghiên cứu sinh không đủ điều kiện tốt nghiệp, không bị kỷ luật, nếu có yêu cầu, sẽ được thủ trưởng đơn vị đào tạo cấp chứng nhận về kết quả các học phần, chuyên đề đã hoàn thành trong chương trình đào tạo.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Để đảm bảo nghiên cứu sinh có đầy đủ hồ sơ và được cấp bằng tiến sĩ đúng quy trình, Thủ trưởng đơn vị đào tạo chịu trách nhiệm tổ chức kiểm tra quá trình đào tạo, chất lượng luận án, việc tổ chức và hoạt động của Hội đồng đánh giá luận án, và toàn bộ hồ sơ xét cấp bằng tiến sĩ. Hồ sơ này phải đáp ứng các điều kiện được công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ theo Điều 32, bao gồm các biên bản họp, quyết nghị của Hội đồng đánh giá luận án, minh chứng nộp luận án đến Thư viện Quốc gia Việt Nam và Trung tâm Thư viện và Tri thức số, Đại học Quốc gia Hà Nội, cùng các tài liệu minh chứng kèm theo khác đã được sửa chữa theo quyết nghị của Hội đồng."
}
],
"id": "36070",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi cần làm gì để đảm bảo nghiên cứu sinh có đầy đủ hồ sơ và được cấp bằng tiến sĩ đúng quy trình?"
}
]
}
],
"title": "Tôi cần làm gì để đảm bảo nghiên cứu sinh có đầy đủ hồ sơ và được cấp bằng tiến sĩ đúng quy trình?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 33. Công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ Sau khi đáp ứng các yêu cầu quy định ở Điều 32 của Quy chế này, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho các nghiên cứu sinh của đơn vị mình; thủ trưởng các đơn vị đào tạo trực thuộc có văn bản kèm theo bản sao hồ sơ cấp bằng tiến sĩ đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội ra quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh của đơn vị mình. Thủ trưởng đơn vị đào tạo cấp Phụ lục văn bằng cho nghiên cứu sinh của đơn vị mình kèm theo bằng tiến sĩ đã được cấp. Phụ lục văn bằng viết bằng tiếng Việt và tiếng Anh, ghi rõ tên ngành/chuyên ngành, loại chương trình đào tạo; tên học phần, chuyên đề, tiểu luận tổng quan; số tín chỉ và điểm; tổng số tín chỉ toàn khóa; tên đề tài luận án; kết quả đánh giá luận án; danh sách Hội đồng đánh giá luận án và tập thể cán bộ hướng dẫn. Đơn vị đào tạo công bố công khai các thông tin liên quan về văn bằng đã cấp cho người học trên trang thông tin điện tử của đơn vị mình, lưu trữ toàn bộ hồ sơ liên quan đến quá trình học tập của nghiên cứu sinh và cập nhật thông tin về nghiên cứu sinh trên phần mềm quản lý đào tạo tiến sĩ tại đơn vị. Bằng Tiến sĩ của Đại học Quốc gia Hà Nội do Giám đốc và thủ trưởng đơn vị đào tạo cùng ký. Đại học Quốc gia Hà Nội in, quản lý và cấp phôi bằng tiến sĩ cho các đơn vị đào tạo. Đơn vị đào tạo thực hiện cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ có hiệu lực.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Đơn vị đào tạo thực hiện cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ có hiệu lực."
}
],
"id": "36071",
"is_impossible": false,
"question": "Sau khi hoàn thành các yêu cầu, tôi có thể nhận bằng tiến sĩ sau bao lâu?"
}
]
}
],
"title": "Sau khi hoàn thành các yêu cầu, tôi có thể nhận bằng tiến sĩ sau bao lâu?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 33. Công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ Sau khi đáp ứng các yêu cầu quy định ở Điều 32 của Quy chế này, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho các nghiên cứu sinh của đơn vị mình; thủ trưởng các đơn vị đào tạo trực thuộc có văn bản kèm theo bản sao hồ sơ cấp bằng tiến sĩ đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội ra quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh của đơn vị mình. Thủ trưởng đơn vị đào tạo cấp Phụ lục văn bằng cho nghiên cứu sinh của đơn vị mình kèm theo bằng tiến sĩ đã được cấp. Phụ lục văn bằng viết bằng tiếng Việt và tiếng Anh, ghi rõ tên ngành/chuyên ngành, loại chương trình đào tạo; tên học phần, chuyên đề, tiểu luận tổng quan; số tín chỉ và điểm; tổng số tín chỉ toàn khóa; tên đề tài luận án; kết quả đánh giá luận án; danh sách Hội đồng đánh giá luận án và tập thể cán bộ hướng dẫn. Đơn vị đào tạo công bố công khai các thông tin liên quan về văn bằng đã cấp cho người học trên trang thông tin điện tử của đơn vị mình, lưu trữ toàn bộ hồ sơ liên quan đến quá trình học tập của nghiên cứu sinh và cập nhật thông tin về nghiên cứu sinh trên phần mềm quản lý đào tạo tiến sĩ tại đơn vị. Bằng Tiến sĩ của Đại học Quốc gia Hà Nội do Giám đốc và thủ trưởng đơn vị đào tạo cùng ký. Đại học Quốc gia Hà Nội in, quản lý và cấp phôi bằng tiến sĩ cho các đơn vị đào tạo. Đơn vị đào tạo thực hiện cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ có hiệu lực.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Tài liệu tham khảo không cung cấp thông tin cụ thể về cách giảng viên có thể hỗ trợ chuẩn bị phụ lục văn bằng cho nghiên cứu sinh."
}
],
"id": "36072",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi có thể hỗ trợ như thế nào trong việc chuẩn bị phụ lục văn bằng cho nghiên cứu sinh?"
}
]
}
],
"title": "Tôi có thể hỗ trợ như thế nào trong việc chuẩn bị phụ lục văn bằng cho nghiên cứu sinh?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 33. Công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ Sau khi đáp ứng các yêu cầu quy định ở Điều 32 của Quy chế này, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho các nghiên cứu sinh của đơn vị mình; thủ trưởng các đơn vị đào tạo trực thuộc có văn bản kèm theo bản sao hồ sơ cấp bằng tiến sĩ đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội ra quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh của đơn vị mình. Thủ trưởng đơn vị đào tạo cấp Phụ lục văn bằng cho nghiên cứu sinh của đơn vị mình kèm theo bằng tiến sĩ đã được cấp. Phụ lục văn bằng viết bằng tiếng Việt và tiếng Anh, ghi rõ tên ngành/chuyên ngành, loại chương trình đào tạo; tên học phần, chuyên đề, tiểu luận tổng quan; số tín chỉ và điểm; tổng số tín chỉ toàn khóa; tên đề tài luận án; kết quả đánh giá luận án; danh sách Hội đồng đánh giá luận án và tập thể cán bộ hướng dẫn. Đơn vị đào tạo công bố công khai các thông tin liên quan về văn bằng đã cấp cho người học trên trang thông tin điện tử của đơn vị mình, lưu trữ toàn bộ hồ sơ liên quan đến quá trình học tập của nghiên cứu sinh và cập nhật thông tin về nghiên cứu sinh trên phần mềm quản lý đào tạo tiến sĩ tại đơn vị. Bằng Tiến sĩ của Đại học Quốc gia Hà Nội do Giám đốc và thủ trưởng đơn vị đào tạo cùng ký. Đại học Quốc gia Hà Nội in, quản lý và cấp phôi bằng tiến sĩ cho các đơn vị đào tạo. Đơn vị đào tạo thực hiện cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ có hiệu lực.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Theo quy định tại Điều 33, đơn vị đào tạo có trách nhiệm công bố công khai các thông tin liên quan đến văn bằng tiến sĩ trên trang thông tin điện tử của đơn vị mình và lưu trữ toàn bộ hồ sơ liên quan đến quá trình học tập của nghiên cứu sinh. Để đảm bảo thông tin văn bằng của bạn được công khai và lưu trữ đầy đủ, bạn cần kiểm tra với đơn vị đào tạo của mình."
}
],
"id": "36073",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi có cần làm gì để đảm bảo thông tin văn bằng của mình được công khai và lưu trữ đầy đủ?"
}
]
}
],
"title": "Tôi có cần làm gì để đảm bảo thông tin văn bằng của mình được công khai và lưu trữ đầy đủ?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 33. Công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ Sau khi đáp ứng các yêu cầu quy định ở Điều 32 của Quy chế này, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho các nghiên cứu sinh của đơn vị mình; thủ trưởng các đơn vị đào tạo trực thuộc có văn bản kèm theo bản sao hồ sơ cấp bằng tiến sĩ đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội ra quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh của đơn vị mình. Thủ trưởng đơn vị đào tạo cấp Phụ lục văn bằng cho nghiên cứu sinh của đơn vị mình kèm theo bằng tiến sĩ đã được cấp. Phụ lục văn bằng viết bằng tiếng Việt và tiếng Anh, ghi rõ tên ngành/chuyên ngành, loại chương trình đào tạo; tên học phần, chuyên đề, tiểu luận tổng quan; số tín chỉ và điểm; tổng số tín chỉ toàn khóa; tên đề tài luận án; kết quả đánh giá luận án; danh sách Hội đồng đánh giá luận án và tập thể cán bộ hướng dẫn. Đơn vị đào tạo công bố công khai các thông tin liên quan về văn bằng đã cấp cho người học trên trang thông tin điện tử của đơn vị mình, lưu trữ toàn bộ hồ sơ liên quan đến quá trình học tập của nghiên cứu sinh và cập nhật thông tin về nghiên cứu sinh trên phần mềm quản lý đào tạo tiến sĩ tại đơn vị. Bằng Tiến sĩ của Đại học Quốc gia Hà Nội do Giám đốc và thủ trưởng đơn vị đào tạo cùng ký. Đại học Quốc gia Hà Nội in, quản lý và cấp phôi bằng tiến sĩ cho các đơn vị đào tạo. Đơn vị đào tạo thực hiện cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ có hiệu lực.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Để công nhận học vị tiến sĩ và cấp bằng, đơn vị đào tạo cần thực hiện các bước cụ thể sau: 1. Thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ sau khi nghiên cứu sinh đáp ứng đủ các yêu cầu quy định. Đối với đơn vị trực thuộc, thủ trưởng cần có văn bản kèm bản sao hồ sơ đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội ra quyết định công nhận học vị và cấp bằng. 2. Thủ trưởng đơn vị đào tạo cấp Phụ lục văn bằng kèm theo bằng tiến sĩ, trong đó ghi rõ các thông tin chi tiết về ngành/chuyên ngành, chương trình đào tạo, học phần, tiểu luận tổng quan, số tín chỉ và điểm, tổng số tín chỉ toàn khóa, tên đề tài luận án, kết quả đánh giá luận án, danh sách Hội đồng đánh giá luận án và tập thể cán bộ hướng dẫn. 3. Đơn vị đào tạo công bố công khai các thông tin liên quan về văn bằng đã cấp trên trang thông tin điện tử. 4. Lưu trữ toàn bộ hồ sơ liên quan đến quá trình học tập của nghiên cứu sinh và cập nhật thông tin trên phần mềm quản lý đào tạo tiến sĩ. 5. Thực hiện cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ có hiệu lực."
}
],
"id": "36074",
"is_impossible": false,
"question": "Quy trình công nhận học vị tiến sĩ và cấp bằng yêu cầu những bước cụ thể nào từ đơn vị đào tạo?"
}
]
}
],
"title": "Quy trình công nhận học vị tiến sĩ và cấp bằng yêu cầu những bước cụ thể nào từ đơn vị đào tạo?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 33. Công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ Sau khi đáp ứng các yêu cầu quy định ở Điều 32 của Quy chế này, thủ trưởng đơn vị đào tạo thành viên quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho các nghiên cứu sinh của đơn vị mình; thủ trưởng các đơn vị đào tạo trực thuộc có văn bản kèm theo bản sao hồ sơ cấp bằng tiến sĩ đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội ra quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh của đơn vị mình. Thủ trưởng đơn vị đào tạo cấp Phụ lục văn bằng cho nghiên cứu sinh của đơn vị mình kèm theo bằng tiến sĩ đã được cấp. Phụ lục văn bằng viết bằng tiếng Việt và tiếng Anh, ghi rõ tên ngành/chuyên ngành, loại chương trình đào tạo; tên học phần, chuyên đề, tiểu luận tổng quan; số tín chỉ và điểm; tổng số tín chỉ toàn khóa; tên đề tài luận án; kết quả đánh giá luận án; danh sách Hội đồng đánh giá luận án và tập thể cán bộ hướng dẫn. Đơn vị đào tạo công bố công khai các thông tin liên quan về văn bằng đã cấp cho người học trên trang thông tin điện tử của đơn vị mình, lưu trữ toàn bộ hồ sơ liên quan đến quá trình học tập của nghiên cứu sinh và cập nhật thông tin về nghiên cứu sinh trên phần mềm quản lý đào tạo tiến sĩ tại đơn vị. Bằng Tiến sĩ của Đại học Quốc gia Hà Nội do Giám đốc và thủ trưởng đơn vị đào tạo cùng ký. Đại học Quốc gia Hà Nội in, quản lý và cấp phôi bằng tiến sĩ cho các đơn vị đào tạo. Đơn vị đào tạo thực hiện cấp bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ có hiệu lực.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Để đảm bảo quy trình cấp bằng tiến sĩ diễn ra đúng hạn cho nghiên cứu sinh, đơn vị đào tạo cần thực hiện việc cấp bằng trong vòng 30 ngày làm việc kể từ ngày quyết định công nhận học vị và cấp bằng tiến sĩ có hiệu lực."
}
],
"id": "36075",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi cần thực hiện những gì để đảm bảo quy trình cấp bằng tiến sĩ diễn ra đúng hạn cho nghiên cứu sinh?"
}
]
}
],
"title": "Tôi cần thực hiện những gì để đảm bảo quy trình cấp bằng tiến sĩ diễn ra đúng hạn cho nghiên cứu sinh?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 34. Yêu cầu, trách nhiệm và quyền hạn của giảng viên Tiêu chuẩn đối với giảng viên Giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ phải đáp ứng các yêu cầu sau: Là công dân Việt Nam hoặc công dân nước ngoài đáp ứng quy định tại khoản 1, Điều 54 Luật Giáo dục đại học (được sửa đổi, bổ sung năm 2018) và những quy định pháp luật khác có liên quan; Có năng lực ngoại ngữ, ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu và triển khai những hoạt động trao đổi, hợp tác quốc tế về lĩnh vực chuyên môn đảm nhiệm trong chương trình đào tạo tiến sĩ; Có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc có bằng tiến sĩ khoa học, tiến sĩ, có chuyên môn phù hợp với các học phần, chuyên đề đảm nhiệm trong chương trình đào tạo. Đối với cán bộ hướng dẫn thực hành hoặc trợ giảng các học phần thuộc các ngành đặc thù có bằng thạc sĩ phải được thủ trưởng đơn vị đào tạo xem xét, đề nghị và trình Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội phê duyệt. Đối với giảng viên có học vị tiến sĩ (chưa có chức danh giáo sư, phó giáo sư) cần có thời gian giảng dạy ở trình độ đại học hoặc thạc sĩ từ 01 năm (12 tháng) trở lên kể từ khi có bằng tiến sĩ; Trong thời gian 05 năm (60 tháng) tính đến thời điểm được phân công giảng dạy có công bố liên quan đến chuyên môn giảng dạy với vai trò là tác giả chính của 02 bài báo, báo cáo khoa học trong các ấn phẩm được tính từ 0,75 điểm trở lên theo điểm tối đa do Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định; hoặc là tác giả hoặc đồng tác giả của 01 sách chuyên khảo do các nhà xuất bản trong nước và quốc tế phát hành hoặc của 01 chương sách tham khảo do các nhà xuất bản quốc tế phát hành. Trách nhiệm của giảng viên Thực hiện nhiệm vụ của công chức, viên chức theo quy định của Luật Giáo dục đại học, Luật Công chức, Luật Viên chức và pháp luật có liên quan; giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách của nghiên cứu sinh, đối xử công bằng với nghiên cứu sinh, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của nghiên cứu sinh; tham gia quản lý đơn vị đào tạo, tham gia công tác Đảng, đoàn thể và các công tác khác được giao; Tham gia xây dựng chương trình đào tạo, xây dựng đề cương học phần, trực tiếp biên soạn học liệu phục vụ dạy - học; Giảng dạy, hướng dẫn các học phần, chuyên đề theo đúng kế hoạch, bảo đảm nội dung và đạt mục tiêu đã được phê duyệt; Thường xuyên cải tiến phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng đào tạo; tư vấn, giúp đỡ nghiên cứu sinh trong học tập, nghiên cứu, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, phát triển năng lực sáng tạo, hoàn thiện các kỹ năng nghề nghiệp và các kỹ năng mềm; lấy ý kiến phản hồi của nghiên cứu sinh về việc giảng dạy của mình; đ) Nghiên cứu khoa học, vận dụng kết quả nghiên cứu vào giảng dạy và ứng dụng thực tiễn; Đánh giá hoặc tham gia đánh giá kết quả học tập của nghiên cứu sinh; Thông báo tiến độ, kết quả học tập của nghiên cứu sinh cho đơn vị/bộ phận quản lý nghiên cứu sinh; Khai báo đầy đủ và cập nhật thường xuyên, đúng thời hạn lý lịch khoa học của cá nhân theo mẫu và quy định của Đại học Quốc gia Hà Nội; Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật và theo quy định của đơn vị đào tạo. Quyền hạn của giảng viên Được hưởng các quyền lợi theo quy định hiện hành của Nhà nước và của Đại học Quốc gia Hà Nội; Được đảm bảo các điều kiện vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học; được cung cấp thông tin và sử dụng các dịch vụ đào tạo, khoa học và công nghệ của đơn vị đào tạo; Được hưởng thù lao trong đào tạo tiến sĩ theo quy định của Nhà nước, của Đại học Quốc gia Hà Nội và của đơn vị đào tạo; Được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và bản quyền tác giả theo quy định hiện hành.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Để giảng dạy trình độ tiến sĩ, giảng viên phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau:\n1. Là công dân Việt Nam hoặc công dân nước ngoài theo quy định tại khoản 1, Điều 54 Luật Giáo dục đại học (sửa đổi, bổ sung năm 2018) và các quy định pháp luật liên quan.\n2. Có năng lực ngoại ngữ và ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu, và triển khai các hoạt động trao đổi, hợp tác quốc tế về lĩnh vực chuyên môn đảm nhiệm.\n3. Có chức danh giáo sư, phó giáo sư, hoặc có bằng tiến sĩ khoa học, tiến sĩ với chuyên môn phù hợp với các học phần, chuyên đề đảm nhiệm. Đối với giảng viên có học vị tiến sĩ (chưa có chức danh giáo sư, phó giáo sư), cần có thời gian giảng dạy ở trình độ đại học hoặc thạc sĩ từ 01 năm (12 tháng) trở lên kể từ khi có bằng tiến sĩ.\n4. Trong thời gian 05 năm (60 tháng) tính đến thời điểm được phân công giảng dạy, phải có công bố liên quan đến chuyên môn giảng dạy với vai trò tác giả chính của 02 bài báo, báo cáo khoa học trong các ấn phẩm được tính từ 0,75 điểm trở lên theo điểm tối đa do Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định; hoặc là tác giả hoặc đồng tác giả của 01 sách chuyên khảo do các nhà xuất bản trong nước và quốc tế phát hành; hoặc của 01 chương sách tham khảo do các nhà xuất bản quốc tế phát hành."
}
],
"id": "36076",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết giảng viên phải đáp ứng những tiêu chuẩn gì để có thể giảng dạy trình độ tiến sĩ?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết giảng viên phải đáp ứng những tiêu chuẩn gì để có thể giảng dạy trình độ tiến sĩ?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan Điều 34. Yêu cầu, trách nhiệm và quyền hạn của giảng viên Tiêu chuẩn đối với giảng viên Giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ phải đáp ứng các yêu cầu sau: Là công dân Việt Nam hoặc công dân nước ngoài đáp ứng quy định tại khoản 1, Điều 54 Luật Giáo dục đại học (được sửa đổi, bổ sung năm 2018) và những quy định pháp luật khác có liên quan; Có năng lực ngoại ngữ, ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu và triển khai những hoạt động trao đổi, hợp tác quốc tế về lĩnh vực chuyên môn đảm nhiệm trong chương trình đào tạo tiến sĩ; Có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc có bằng tiến sĩ khoa học, tiến sĩ, có chuyên môn phù hợp với các học phần, chuyên đề đảm nhiệm trong chương trình đào tạo. Đối với cán bộ hướng dẫn thực hành hoặc trợ giảng các học phần thuộc các ngành đặc thù có bằng thạc sĩ phải được thủ trưởng đơn vị đào tạo xem xét, đề nghị và trình Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội phê duyệt. Đối với giảng viên có học vị tiến sĩ (chưa có chức danh giáo sư, phó giáo sư) cần có thời gian giảng dạy ở trình độ đại học hoặc thạc sĩ từ 01 năm (12 tháng) trở lên kể từ khi có bằng tiến sĩ; Trong thời gian 05 năm (60 tháng) tính đến thời điểm được phân công giảng dạy có công bố liên quan đến chuyên môn giảng dạy với vai trò là tác giả chính của 02 bài báo, báo cáo khoa học trong các ấn phẩm được tính từ 0,75 điểm trở lên theo điểm tối đa do Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định; hoặc là tác giả hoặc đồng tác giả của 01 sách chuyên khảo do các nhà xuất bản trong nước và quốc tế phát hành hoặc của 01 chương sách tham khảo do các nhà xuất bản quốc tế phát hành. Trách nhiệm của giảng viên Thực hiện nhiệm vụ của công chức, viên chức theo quy định của Luật Giáo dục đại học, Luật Công chức, Luật Viên chức và pháp luật có liên quan; giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách của nghiên cứu sinh, đối xử công bằng với nghiên cứu sinh, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của nghiên cứu sinh; tham gia quản lý đơn vị đào tạo, tham gia công tác Đảng, đoàn thể và các công tác khác được giao; Tham gia xây dựng chương trình đào tạo, xây dựng đề cương học phần, trực tiếp biên soạn học liệu phục vụ dạy - học; Giảng dạy, hướng dẫn các học phần, chuyên đề theo đúng kế hoạch, bảo đảm nội dung và đạt mục tiêu đã được phê duyệt; Thường xuyên cải tiến phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng đào tạo; tư vấn, giúp đỡ nghiên cứu sinh trong học tập, nghiên cứu, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, phát triển năng lực sáng tạo, hoàn thiện các kỹ năng nghề nghiệp và các kỹ năng mềm; lấy ý kiến phản hồi của nghiên cứu sinh về việc giảng dạy của mình; đ) Nghiên cứu khoa học, vận dụng kết quả nghiên cứu vào giảng dạy và ứng dụng thực tiễn; Đánh giá hoặc tham gia đánh giá kết quả học tập của nghiên cứu sinh; Thông báo tiến độ, kết quả học tập của nghiên cứu sinh cho đơn vị/bộ phận quản lý nghiên cứu sinh; Khai báo đầy đủ và cập nhật thường xuyên, đúng thời hạn lý lịch khoa học của cá nhân theo mẫu và quy định của Đại học Quốc gia Hà Nội; Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật và theo quy định của đơn vị đào tạo. Quyền hạn của giảng viên Được hưởng các quyền lợi theo quy định hiện hành của Nhà nước và của Đại học Quốc gia Hà Nội; Được đảm bảo các điều kiện vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học; được cung cấp thông tin và sử dụng các dịch vụ đào tạo, khoa học và công nghệ của đơn vị đào tạo; Được hưởng thù lao trong đào tạo tiến sĩ theo quy định của Nhà nước, của Đại học Quốc gia Hà Nội và của đơn vị đào tạo; Được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và bản quyền tác giả theo quy định hiện hành.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Giảng viên có trách nhiệm tư vấn, giúp đỡ nghiên cứu sinh trong học tập, nghiên cứu, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, phát triển năng lực sáng tạo, hoàn thiện các kỹ năng nghề nghiệp và các kỹ năng mềm."
}
],
"id": "36077",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi có trách nhiệm gì đối với việc hỗ trợ nghiên cứu sinh trong quá trình đào tạo?"
}
]
}
],
"title": "Tôi có trách nhiệm gì đối với việc hỗ trợ nghiên cứu sinh trong quá trình đào tạo?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 34. Yêu cầu, trách nhiệm và quyền hạn của giảng viên Tiêu chuẩn đối với giảng viên Giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ phải đáp ứng các yêu cầu sau: Là công dân Việt Nam hoặc công dân nước ngoài đáp ứng quy định tại khoản 1, Điều 54 Luật Giáo dục đại học (được sửa đổi, bổ sung năm 2018) và những quy định pháp luật khác có liên quan; Có năng lực ngoại ngữ, ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu và triển khai những hoạt động trao đổi, hợp tác quốc tế về lĩnh vực chuyên môn đảm nhiệm trong chương trình đào tạo tiến sĩ; Có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc có bằng tiến sĩ khoa học, tiến sĩ, có chuyên môn phù hợp với các học phần, chuyên đề đảm nhiệm trong chương trình đào tạo. Đối với cán bộ hướng dẫn thực hành hoặc trợ giảng các học phần thuộc các ngành đặc thù có bằng thạc sĩ phải được thủ trưởng đơn vị đào tạo xem xét, đề nghị và trình Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội phê duyệt. Đối với giảng viên có học vị tiến sĩ (chưa có chức danh giáo sư, phó giáo sư) cần có thời gian giảng dạy ở trình độ đại học hoặc thạc sĩ từ 01 năm (12 tháng) trở lên kể từ khi có bằng tiến sĩ; Trong thời gian 05 năm (60 tháng) tính đến thời điểm được phân công giảng dạy có công bố liên quan đến chuyên môn giảng dạy với vai trò là tác giả chính của 02 bài báo, báo cáo khoa học trong các ấn phẩm được tính từ 0,75 điểm trở lên theo điểm tối đa do Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định; hoặc là tác giả hoặc đồng tác giả của 01 sách chuyên khảo do các nhà xuất bản trong nước và quốc tế phát hành hoặc của 01 chương sách tham khảo do các nhà xuất bản quốc tế phát hành. Trách nhiệm của giảng viên Thực hiện nhiệm vụ của công chức, viên chức theo quy định của Luật Giáo dục đại học, Luật Công chức, Luật Viên chức và pháp luật có liên quan; giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách của nghiên cứu sinh, đối xử công bằng với nghiên cứu sinh, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của nghiên cứu sinh; tham gia quản lý đơn vị đào tạo, tham gia công tác Đảng, đoàn thể và các công tác khác được giao; Tham gia xây dựng chương trình đào tạo, xây dựng đề cương học phần, trực tiếp biên soạn học liệu phục vụ dạy - học; Giảng dạy, hướng dẫn các học phần, chuyên đề theo đúng kế hoạch, bảo đảm nội dung và đạt mục tiêu đã được phê duyệt; Thường xuyên cải tiến phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng đào tạo; tư vấn, giúp đỡ nghiên cứu sinh trong học tập, nghiên cứu, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, phát triển năng lực sáng tạo, hoàn thiện các kỹ năng nghề nghiệp và các kỹ năng mềm; lấy ý kiến phản hồi của nghiên cứu sinh về việc giảng dạy của mình; đ) Nghiên cứu khoa học, vận dụng kết quả nghiên cứu vào giảng dạy và ứng dụng thực tiễn; Đánh giá hoặc tham gia đánh giá kết quả học tập của nghiên cứu sinh; Thông báo tiến độ, kết quả học tập của nghiên cứu sinh cho đơn vị/bộ phận quản lý nghiên cứu sinh; Khai báo đầy đủ và cập nhật thường xuyên, đúng thời hạn lý lịch khoa học của cá nhân theo mẫu và quy định của Đại học Quốc gia Hà Nội; Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật và theo quy định của đơn vị đào tạo. Quyền hạn của giảng viên Được hưởng các quyền lợi theo quy định hiện hành của Nhà nước và của Đại học Quốc gia Hà Nội; Được đảm bảo các điều kiện vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học; được cung cấp thông tin và sử dụng các dịch vụ đào tạo, khoa học và công nghệ của đơn vị đào tạo; Được hưởng thù lao trong đào tạo tiến sĩ theo quy định của Nhà nước, của Đại học Quốc gia Hà Nội và của đơn vị đào tạo; Được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và bản quyền tác giả theo quy định hiện hành.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Để đủ điều kiện giảng dạy tiến sĩ, giảng viên cần có các công bố khoa học trong vòng 05 năm (60 tháng) tính đến thời điểm được phân công giảng dạy, bao gồm: là tác giả chính của 02 bài báo, báo cáo khoa học trong các ấn phẩm được tính từ 0,75 điểm trở lên theo điểm tối đa do Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định; hoặc là tác giả hoặc đồng tác giả của 01 sách chuyên khảo do các nhà xuất bản trong nước và quốc tế phát hành, hoặc của 01 chương sách tham khảo do các nhà xuất bản quốc tế phát hành."
}
],
"id": "36078",
"is_impossible": false,
"question": "Giảng viên cần đạt được những công bố khoa học gì để đủ điều kiện giảng dạy tiến sĩ?"
}
]
}
],
"title": "Giảng viên cần đạt được những công bố khoa học gì để đủ điều kiện giảng dạy tiến sĩ?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 34. Yêu cầu, trách nhiệm và quyền hạn của giảng viên Tiêu chuẩn đối với giảng viên Giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ phải đáp ứng các yêu cầu sau: Là công dân Việt Nam hoặc công dân nước ngoài đáp ứng quy định tại khoản 1, Điều 54 Luật Giáo dục đại học (được sửa đổi, bổ sung năm 2018) và những quy định pháp luật khác có liên quan; Có năng lực ngoại ngữ, ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu và triển khai những hoạt động trao đổi, hợp tác quốc tế về lĩnh vực chuyên môn đảm nhiệm trong chương trình đào tạo tiến sĩ; Có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc có bằng tiến sĩ khoa học, tiến sĩ, có chuyên môn phù hợp với các học phần, chuyên đề đảm nhiệm trong chương trình đào tạo. Đối với cán bộ hướng dẫn thực hành hoặc trợ giảng các học phần thuộc các ngành đặc thù có bằng thạc sĩ phải được thủ trưởng đơn vị đào tạo xem xét, đề nghị và trình Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội phê duyệt. Đối với giảng viên có học vị tiến sĩ (chưa có chức danh giáo sư, phó giáo sư) cần có thời gian giảng dạy ở trình độ đại học hoặc thạc sĩ từ 01 năm (12 tháng) trở lên kể từ khi có bằng tiến sĩ; Trong thời gian 05 năm (60 tháng) tính đến thời điểm được phân công giảng dạy có công bố liên quan đến chuyên môn giảng dạy với vai trò là tác giả chính của 02 bài báo, báo cáo khoa học trong các ấn phẩm được tính từ 0,75 điểm trở lên theo điểm tối đa do Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định; hoặc là tác giả hoặc đồng tác giả của 01 sách chuyên khảo do các nhà xuất bản trong nước và quốc tế phát hành hoặc của 01 chương sách tham khảo do các nhà xuất bản quốc tế phát hành. Trách nhiệm của giảng viên Thực hiện nhiệm vụ của công chức, viên chức theo quy định của Luật Giáo dục đại học, Luật Công chức, Luật Viên chức và pháp luật có liên quan; giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách của nghiên cứu sinh, đối xử công bằng với nghiên cứu sinh, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của nghiên cứu sinh; tham gia quản lý đơn vị đào tạo, tham gia công tác Đảng, đoàn thể và các công tác khác được giao; Tham gia xây dựng chương trình đào tạo, xây dựng đề cương học phần, trực tiếp biên soạn học liệu phục vụ dạy - học; Giảng dạy, hướng dẫn các học phần, chuyên đề theo đúng kế hoạch, bảo đảm nội dung và đạt mục tiêu đã được phê duyệt; Thường xuyên cải tiến phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng đào tạo; tư vấn, giúp đỡ nghiên cứu sinh trong học tập, nghiên cứu, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, phát triển năng lực sáng tạo, hoàn thiện các kỹ năng nghề nghiệp và các kỹ năng mềm; lấy ý kiến phản hồi của nghiên cứu sinh về việc giảng dạy của mình; đ) Nghiên cứu khoa học, vận dụng kết quả nghiên cứu vào giảng dạy và ứng dụng thực tiễn; Đánh giá hoặc tham gia đánh giá kết quả học tập của nghiên cứu sinh; Thông báo tiến độ, kết quả học tập của nghiên cứu sinh cho đơn vị/bộ phận quản lý nghiên cứu sinh; Khai báo đầy đủ và cập nhật thường xuyên, đúng thời hạn lý lịch khoa học của cá nhân theo mẫu và quy định của Đại học Quốc gia Hà Nội; Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật và theo quy định của đơn vị đào tạo. Quyền hạn của giảng viên Được hưởng các quyền lợi theo quy định hiện hành của Nhà nước và của Đại học Quốc gia Hà Nội; Được đảm bảo các điều kiện vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học; được cung cấp thông tin và sử dụng các dịch vụ đào tạo, khoa học và công nghệ của đơn vị đào tạo; Được hưởng thù lao trong đào tạo tiến sĩ theo quy định của Nhà nước, của Đại học Quốc gia Hà Nội và của đơn vị đào tạo; Được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và bản quyền tác giả theo quy định hiện hành.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Giảng viên tham gia đào tạo nghiên cứu sinh tiến sĩ có các quyền hạn sau: được hưởng các quyền lợi theo quy định hiện hành của Nhà nước và của Đại học Quốc gia Hà Nội; được đảm bảo các điều kiện vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học; được cung cấp thông tin và sử dụng các dịch vụ đào tạo, khoa học và công nghệ của đơn vị đào tạo; được hưởng thù lao trong đào tạo tiến sĩ theo quy định; và được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và bản quyền tác giả theo quy định hiện hành."
}
],
"id": "36079",
"is_impossible": false,
"question": "Giảng viên có quyền hạn gì khi tham gia đào tạo nghiên cứu sinh tiến sĩ?"
}
]
}
],
"title": "Giảng viên có quyền hạn gì khi tham gia đào tạo nghiên cứu sinh tiến sĩ?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 34. Yêu cầu, trách nhiệm và quyền hạn của giảng viên Tiêu chuẩn đối với giảng viên Giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ phải đáp ứng các yêu cầu sau: Là công dân Việt Nam hoặc công dân nước ngoài đáp ứng quy định tại khoản 1, Điều 54 Luật Giáo dục đại học (được sửa đổi, bổ sung năm 2018) và những quy định pháp luật khác có liên quan; Có năng lực ngoại ngữ, ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu và triển khai những hoạt động trao đổi, hợp tác quốc tế về lĩnh vực chuyên môn đảm nhiệm trong chương trình đào tạo tiến sĩ; Có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc có bằng tiến sĩ khoa học, tiến sĩ, có chuyên môn phù hợp với các học phần, chuyên đề đảm nhiệm trong chương trình đào tạo. Đối với cán bộ hướng dẫn thực hành hoặc trợ giảng các học phần thuộc các ngành đặc thù có bằng thạc sĩ phải được thủ trưởng đơn vị đào tạo xem xét, đề nghị và trình Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội phê duyệt. Đối với giảng viên có học vị tiến sĩ (chưa có chức danh giáo sư, phó giáo sư) cần có thời gian giảng dạy ở trình độ đại học hoặc thạc sĩ từ 01 năm (12 tháng) trở lên kể từ khi có bằng tiến sĩ; Trong thời gian 05 năm (60 tháng) tính đến thời điểm được phân công giảng dạy có công bố liên quan đến chuyên môn giảng dạy với vai trò là tác giả chính của 02 bài báo, báo cáo khoa học trong các ấn phẩm được tính từ 0,75 điểm trở lên theo điểm tối đa do Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định; hoặc là tác giả hoặc đồng tác giả của 01 sách chuyên khảo do các nhà xuất bản trong nước và quốc tế phát hành hoặc của 01 chương sách tham khảo do các nhà xuất bản quốc tế phát hành. Trách nhiệm của giảng viên Thực hiện nhiệm vụ của công chức, viên chức theo quy định của Luật Giáo dục đại học, Luật Công chức, Luật Viên chức và pháp luật có liên quan; giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách của nghiên cứu sinh, đối xử công bằng với nghiên cứu sinh, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của nghiên cứu sinh; tham gia quản lý đơn vị đào tạo, tham gia công tác Đảng, đoàn thể và các công tác khác được giao; Tham gia xây dựng chương trình đào tạo, xây dựng đề cương học phần, trực tiếp biên soạn học liệu phục vụ dạy - học; Giảng dạy, hướng dẫn các học phần, chuyên đề theo đúng kế hoạch, bảo đảm nội dung và đạt mục tiêu đã được phê duyệt; Thường xuyên cải tiến phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng đào tạo; tư vấn, giúp đỡ nghiên cứu sinh trong học tập, nghiên cứu, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, phát triển năng lực sáng tạo, hoàn thiện các kỹ năng nghề nghiệp và các kỹ năng mềm; lấy ý kiến phản hồi của nghiên cứu sinh về việc giảng dạy của mình; đ) Nghiên cứu khoa học, vận dụng kết quả nghiên cứu vào giảng dạy và ứng dụng thực tiễn; Đánh giá hoặc tham gia đánh giá kết quả học tập của nghiên cứu sinh; Thông báo tiến độ, kết quả học tập của nghiên cứu sinh cho đơn vị/bộ phận quản lý nghiên cứu sinh; Khai báo đầy đủ và cập nhật thường xuyên, đúng thời hạn lý lịch khoa học của cá nhân theo mẫu và quy định của Đại học Quốc gia Hà Nội; Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật và theo quy định của đơn vị đào tạo. Quyền hạn của giảng viên Được hưởng các quyền lợi theo quy định hiện hành của Nhà nước và của Đại học Quốc gia Hà Nội; Được đảm bảo các điều kiện vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học; được cung cấp thông tin và sử dụng các dịch vụ đào tạo, khoa học và công nghệ của đơn vị đào tạo; Được hưởng thù lao trong đào tạo tiến sĩ theo quy định của Nhà nước, của Đại học Quốc gia Hà Nội và của đơn vị đào tạo; Được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và bản quyền tác giả theo quy định hiện hành.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Thông tin về trách nhiệm cụ thể của cán bộ quản lý trong việc giám sát giảng viên thực hiện các trách nhiệm liên quan đến nghiên cứu sinh không được nêu rõ trong tài liệu tham khảo được cung cấp."
}
],
"id": "36080",
"is_impossible": false,
"question": "Cán bộ quản lý có trách nhiệm giám sát giảng viên trong việc thực hiện các trách nhiệm liên quan đến nghiên cứu sinh như thế nào?"
}
]
}
],
"title": "Cán bộ quản lý có trách nhiệm giám sát giảng viên trong việc thực hiện các trách nhiệm liên quan đến nghiên cứu sinh như thế nào?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 35. Tiêu chuẩn, trách nhiệm và quyền hạn của cán bộ hướng dẫn Tiêu chuẩn người hướng dẫn nghiên cứu sinh: Người hướng dẫn chính, người hướng dẫn phụ và người hướng dẫn độc lập nghiên cứu sinh phải đáp ứng các tiêu chuẩn của giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ theo quy định tại khoản 1, Điều 34 của Quy chế này, đồng thời đáp ứng các tiêu chuẩn sau: Có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc có học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ có chuyên môn phù hợp. Trường hợp, người hướng dẫn có học vị tiến sĩ (chưa có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư) thì phải có tối thiểu 01 năm (12 tháng) làm công tác nghiên cứu khoa học và giảng dạy kể từ khi có quyết định cấp bằng tiến sĩ. Người hướng dẫn chính, người hướng dẫn độc lập phải có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư hoặc có học vị tiến sĩ khoa học; Đã hoặc đang chủ trì các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở hoặc tham gia nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ trở lên. Trong thời gian 05 năm (60 tháng) tính đến thời điểm có quyết định công nhận hướng dẫn nghiên cứu sinh, người hướng dẫn chính, người hướng dẫn độc lập, người đồng hướng dẫn (không phân biệt giữa hướng dẫn chính và hướng dẫn phụ) phải có thêm kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực chuyên môn liên quan tới đề tài luận án hướng dẫn như sau: Là tác giả chính của báo cáo hội nghị khoa học, bài báo khoa học được công bố trong các ấn phẩm thuộc danh mục WoS/Scopus hoặc chương sách tham khảo do các nhà xuất bản quốc tế có uy tín phát hành, hoặc bài báo đăng trên tạp chí khoa học trong nước được Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định khung điểm đánh giá từ 0,75 điểm trở lên, hoặc sách chuyên khảo do các nhà xuất bản có uy tín trong nước và quốc tế phát hành; các công bố phải đạt tổng điểm từ 4,0 điểm trở lên tính theo điểm tối đa do Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định cho mỗi loại công trình (không chia điểm khi có đồng tác giả); Ngoài tiêu chuẩn như đối với người hướng dẫn chính quy định tại điểm b nêu trên, tiến sĩ chưa có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư nhưng có kết quả nghiên cứu xuất sắc (có tối thiểu 01 công bố khoa học thuộc danh mục WoS/Scopus/năm liên tục trong 3 năm gần nhất), đơn vị đào tạo có thể đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét cho phép làm hướng dẫn chính hoặc hướng dẫn độc lập tối đa 03 nghiên cứu sinh; Mỗi nghiên cứu sinh có tối đa 02 người hướng dẫn, trong đó có ít nhất 01 cán bộ hướng dẫn là giảng viên, nghiên cứu viên cơ hữu của Đại học Quốc gia Hà Nội hoặc có hợp đồng giảng dạy, nghiên cứu khoa học với đơn vị đào tạo theo quy định của pháp luật; làm việc theo chế độ trọn thời gian tại đơn vị đào tạo với thời hạn của hợp đồng phù hợp với kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa của nghiên cứu sinh. Trường hợp luận án có hai cán bộ hướng dẫn thì quyết định phân công cán bộ hướng dẫn phải ghi rõ cán bộ hướng dẫn chính và cán bộ hướng dẫn phụ hoặc đồng hướng dẫn; đ) Khuyến khích các đơn vị đào tạo mời các nhà khoa học có đủ tiêu chuẩn hướng dẫn nghiên cứu sinh đang công tác tại các cơ sở nghiên cứu, đào tạo có uy tín ở nước ngoài tham gia đồng hướng dẫn; Không giao hướng dẫn hoặc đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh mới nếu trong vòng 06 năm (72 tháng) tính đến thời điểm được giao nhiệm vụ có 02 nghiên cứu sinh có luận án không được Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ thông qua vì lý do chuyên môn theo các quy định tại Quy chế này. Quyền hạn của người hướng dẫn Giáo sư được hướng dẫn độc lập tối đa 07 nghiên cứu sinh; phó giáo sư hoặc tiến sĩ khoa học được hướng dẫn độc lập tối đa 05 nghiên cứu sinh; tiến sĩ được hướng dẫn phụ hoặc hướng dẫn độc lập (trong trường hợp đáp ứng yêu cầu tại điểm c, khoản 1, Điều này) tối đa 03 nghiên cứu sinh. Trường hợp đồng hướng dẫn 01 nghiên cứu sinh được tính quy đổi tương đương hướng dẫn độc lập 0,5 nghiên cứu sinh; Các trường hợp cán bộ hướng dẫn đáp ứng các tiêu chuẩn ở các điểm a và điểm b, khoản 1, Điều này và đã hướng dẫn đủ số nghiên cứu sinh như quy định tại điểm a nêu trên, nhưng có năng lực nghiên cứu xuất sắc (là tác giả chính của tối thiểu 03 công bố khoa học thuộc danh mục WoS/Scopus/năm, liên tục trong 3 năm gần nhất) hoặc có đề tài lớn đủ cấp học bổng hỗ trợ cho nghiên cứu sinh, đơn vị đào tạo có thể đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét cho phép điều chỉnh tăng số lượng nghiên cứu sinh được phép hướng dẫn; Cán bộ hướng dẫn luận án có quyền từ chối hướng dẫn nghiên cứu sinh và thông báo bằng văn bản cho đơn vị đào tạo trong các trường hợp: Đã hướng dẫn đủ số lượng tối đa theo quy định tại điểm a nêu trên; Sau 03 tháng kể từ ngày nhận quyết định cử cán bộ hướng dẫn mà nghiên cứu sinh không liên hệ hoặc nghiên cứu sinh không tuân thủ sự hướng dẫn hoặc không hoàn thành kế hoạch nghiên cứu mà không có lý do chính đáng. Ngoài các trách nhiệm chung của giảng viên quy định tại khoản 2, Điều 34 của Quy chế này, cán bộ hướng dẫn luận án còn có trách nhiệm: Thông qua kế hoạch học tập và nghiên cứu của nghiên cứu sinh; lấy ý kiến góp ý của đơn vị chyên môn về đề cương chi tiết của luận án; Tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra và đôn đốc nghiên cứu sinh học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận án, tham gia hội nghị khoa học và hỗ trợ nghiên cứu sinh công bố các kết quả nghiên cứu; Phối hợp với đơn vị đào tạo và đơn vị chuyên môn trong việc lên kế hoạch, giao nhiệm vụ, đôn đốc, kiểm tra việc tham gia và kết quả thực hiện các hoạt động nghiên cứu, trợ giảng và hỗ trợ hoạt động đào tạo của nghiên cứu sinh; Đánh giá tình hình học tập, nghiên cứu, tiến độ thực hiện đề tài của nghiên cứu sinh và định kỳ báo cáo đơn vị chuyên môn, đơn vị quản lý nghiên cứu sinh bằng văn bản; đ) Chịu trách nhiệm về luận án của nghiên cứu sinh: Thông qua luận án của nghiên cứu sinh, xác nhận kết quả nghiên cứu, đóng góp mới của luận án và quyết định việc đề nghị đưa luận án ra đánh giá tại đơn vị chuyên môn và bảo vệ tại Hội đồng đánh giá luận án nếu luận án đã đáp ứng các yêu cầu quy định của Quy chế này; Khai báo đầy đủ, cập nhật thường xuyên các thông tin trong lý lịch khoa học, trong cơ sở dữ liệu của đơn vị đào tạo và Đại học Quốc gia Hà Nội theo quy định; g) Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật và theo quy định của thủ trưởng đơn vị đào tạo.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau đây theo Điều 35 của Quy chế:1. Tiêu chuẩn về học vị và chức danh: Có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ với chuyên môn phù hợp. Nếu là tiến sĩ chưa có chức danh, phải có tối thiểu 01 năm làm công tác nghiên cứu khoa học và giảng dạy kể từ khi có quyết định cấp bằng tiến sĩ. Riêng đối với người hướng dẫn chính hoặc độc lập, phải có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc học vị tiến sĩ khoa học.2. Hoạt động khoa học: Đã hoặc đang chủ trì các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở hoặc tham gia nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ trở lên.3. Công bố khoa học: Trong vòng 05 năm tính đến thời điểm được công nhận hướng dẫn, phải là tác giả chính của các công bố khoa học liên quan đến đề tài luận án, bao gồm: báo cáo hội nghị/bài báo khoa học thuộc danh mục WoS/Scopus, chương sách tham khảo quốc tế uy tín, bài báo tạp chí khoa học trong nước được Hội đồng Giáo sư nhà nước đánh giá từ 0,75 điểm trở lên, hoặc sách chuyên khảo uy tín. Tổng điểm các công bố phải đạt từ 4,0 trở lên.4. Trường hợp đặc biệt: Tiến sĩ chưa có chức danh nhưng có kết quả nghiên cứu xuất sắc (tối thiểu 01 công bố WoS/Scopus/năm liên tục trong 3 năm gần nhất) có thể được đơn vị đào tạo đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét cho phép làm hướng dẫn chính hoặc độc lập tối đa 03 nghiên cứu sinh.5. Quy định về số lượng nghiên cứu sinh: Giáo sư được hướng dẫn độc lập tối đa 07; phó giáo sư hoặc tiến sĩ khoa học tối đa 05; tiến sĩ tối đa 03 (nếu đáp ứng yêu cầu đặc biệt). Đồng hướng dẫn 01 nghiên cứu sinh được tính 0,5.6. Không được giao hướng dẫn: Nếu trong 06 năm có 02 nghiên cứu sinh không được Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ thông qua vì lý do chuyên môn."
}
],
"id": "36081",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi thắc mắc về tiêu chuẩn của cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh là gì?"
}
]
}
],
"title": "Tôi thắc mắc về tiêu chuẩn của cán bộ hướng dẫn nghiên cứu sinh là gì?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 35. Tiêu chuẩn, trách nhiệm và quyền hạn của cán bộ hướng dẫn Tiêu chuẩn người hướng dẫn nghiên cứu sinh: Người hướng dẫn chính, người hướng dẫn phụ và người hướng dẫn độc lập nghiên cứu sinh phải đáp ứng các tiêu chuẩn của giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ theo quy định tại khoản 1, Điều 34 của Quy chế này, đồng thời đáp ứng các tiêu chuẩn sau: Có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc có học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ có chuyên môn phù hợp. Trường hợp, người hướng dẫn có học vị tiến sĩ (chưa có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư) thì phải có tối thiểu 01 năm (12 tháng) làm công tác nghiên cứu khoa học và giảng dạy kể từ khi có quyết định cấp bằng tiến sĩ. Người hướng dẫn chính, người hướng dẫn độc lập phải có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư hoặc có học vị tiến sĩ khoa học; Đã hoặc đang chủ trì các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở hoặc tham gia nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ trở lên. Trong thời gian 05 năm (60 tháng) tính đến thời điểm có quyết định công nhận hướng dẫn nghiên cứu sinh, người hướng dẫn chính, người hướng dẫn độc lập, người đồng hướng dẫn (không phân biệt giữa hướng dẫn chính và hướng dẫn phụ) phải có thêm kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực chuyên môn liên quan tới đề tài luận án hướng dẫn như sau: Là tác giả chính của báo cáo hội nghị khoa học, bài báo khoa học được công bố trong các ấn phẩm thuộc danh mục WoS/Scopus hoặc chương sách tham khảo do các nhà xuất bản quốc tế có uy tín phát hành, hoặc bài báo đăng trên các tạp chí khoa học trong nước được Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định khung điểm đánh giá từ 0,75 điểm trở lên, hoặc sách chuyên khảo do các nhà xuất bản có uy tín trong nước và quốc tế phát hành; các công bố phải đạt tổng điểm từ 4,0 điểm trở lên tính theo điểm tối đa do Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định cho mỗi loại công trình (không chia điểm khi có đồng tác giả); Ngoài tiêu chuẩn như đối với người hướng dẫn chính quy định tại điểm b nêu trên, tiến sĩ chưa có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư nhưng có kết quả nghiên cứu xuất sắc (có tối thiểu 01 công bố khoa học thuộc danh mục WoS/Scopus/năm liên tục trong 3 năm gần nhất), đơn vị đào tạo có thể đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét cho phép làm hướng dẫn chính hoặc hướng dẫn độc lập tối đa 03 nghiên cứu sinh; Mỗi nghiên cứu sinh có tối đa 02 người hướng dẫn, trong đó có ít nhất 01 cán bộ hướng dẫn là giảng viên, nghiên cứu viên cơ hữu của Đại học Quốc gia Hà Nội hoặc có hợp đồng giảng dạy, nghiên cứu khoa học với đơn vị đào tạo theo quy định của pháp luật; làm việc theo chế độ trọn thời gian tại đơn vị đào tạo với thời hạn của hợp đồng phù hợp với kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa của nghiên cứu sinh. Trường hợp luận án có hai cán bộ hướng dẫn thì quyết định phân công cán bộ hướng dẫn phải ghi rõ cán bộ hướng dẫn chính và cán bộ hướng dẫn phụ hoặc đồng hướng dẫn; đ) Khuyến khích các đơn vị đào tạo mời các nhà khoa học có đủ tiêu chuẩn hướng dẫn nghiên cứu sinh đang công tác tại các cơ sở nghiên cứu, đào tạo có uy tín ở nước ngoài tham gia đồng hướng dẫn; Không giao hướng dẫn hoặc đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh mới nếu trong vòng 06 năm (72 tháng) tính đến thời điểm được giao nhiệm vụ có 02 nghiên cứu sinh có luận án không được Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ thông qua vì lý do chuyên môn theo các quy định tại Quy chế này. Quyền hạn của người hướng dẫn Giáo sư được hướng dẫn độc lập tối đa 07 nghiên cứu sinh; phó giáo sư hoặc tiến sĩ khoa học được hướng dẫn độc lập tối đa 05 nghiên cứu sinh; tiến sĩ được hướng dẫn phụ hoặc hướng dẫn độc lập (trong trường hợp đáp ứng yêu cầu tại điểm c, khoản 1, Điều này) tối đa 03 nghiên cứu sinh. Trường hợp đồng hướng dẫn 01 nghiên cứu sinh được tính quy đổi tương đương hướng dẫn độc lập 0,5 nghiên cứu sinh; Các trường hợp cán bộ hướng dẫn đáp ứng các tiêu chuẩn ở các điểm a và điểm b, khoản 1, Điều này và đã hướng dẫn đủ số nghiên cứu sinh như quy định tại điểm a nêu trên, nhưng có năng lực nghiên cứu xuất sắc (là tác giả chính của tối thiểu 03 công bố khoa học thuộc danh mục WoS/Scopus/năm, liên tục trong 3 năm gần nhất) hoặc có đề tài lớn đủ cấp học bổng hỗ trợ cho nghiên cứu sinh, đơn vị đào tạo có thể đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét cho phép điều chỉnh tăng số lượng nghiên cứu sinh được phép hướng dẫn; Cán bộ hướng dẫn luận án có quyền từ chối hướng dẫn nghiên cứu sinh và thông báo bằng văn bản cho đơn vị đào tạo trong các trường hợp: Đã hướng dẫn đủ số lượng tối đa theo quy định tại điểm a nêu trên; Sau 03 tháng kể từ ngày nhận quyết định cử cán bộ hướng dẫn mà nghiên cứu sinh không liên hệ hoặc nghiên cứu sinh không tuân thủ sự hướng dẫn hoặc không hoàn thành kế hoạch nghiên cứu mà không có lý do chính đáng. Ngoài các trách nhiệm chung của giảng viên quy định tại khoản 2, Điều 34 của Quy chế này, cán bộ hướng dẫn luận án còn có trách nhiệm: Thông qua kế hoạch học tập và nghiên cứu của nghiên cứu sinh; lấy ý kiến góp ý của đơn vị chyên môn về đề cương chi tiết của luận án; Tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra và đôn đốc nghiên cứu sinh học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận án, tham gia hội nghị khoa học và hỗ trợ nghiên cứu sinh công bố các kết quả nghiên cứu; Phối hợp với đơn vị đào tạo và đơn vị chuyên môn trong việc lên kế hoạch, giao nhiệm vụ, đôn đốc, kiểm tra việc tham gia và kết quả thực hiện các hoạt động nghiên cứu, trợ giảng và hỗ trợ hoạt động đào tạo của nghiên cứu sinh; Đánh giá tình hình học tập, nghiên cứu, tiến độ thực hiện đề tài của nghiên cứu sinh và định kỳ báo cáo đơn vị chuyên môn, đơn vị quản lý nghiên cứu sinh bằng văn bản; đ) Chịu trách nhiệm về luận án của nghiên cứu sinh: Thông qua luận án của nghiên cứu sinh, xác nhận kết quả nghiên cứu, đóng góp mới của luận án và quyết định việc đề nghị đưa luận án ra đánh giá tại đơn vị chuyên môn và bảo vệ tại Hội đồng đánh giá luận án nếu luận án đã đáp ứng các yêu cầu quy định của Quy chế này; Khai báo đầy đủ, cập nhật thường xuyên các thông tin trong lý lịch khoa học, trong cơ sở dữ liệu của đơn vị đào tạo và Đại học Quốc gia Hà Nội theo quy định; g) Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật và theo quy định của thủ trưởng đơn vị đào tạo.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Số lượng nghiên cứu sinh tối đa mà một người có thể hướng dẫn cùng một lúc phụ thuộc vào chức danh của cán bộ:\nGiáo sư được hướng dẫn độc lập tối đa 07 nghiên cứu sinh.\nPhó giáo sư hoặc tiến sĩ khoa học được hướng dẫn độc lập tối đa 05 nghiên cứu sinh.\nTiến sĩ có thể hướng dẫn phụ hoặc hướng dẫn độc lập (nếu đáp ứng yêu cầu tại điểm c, khoản 1, Điều 35) tối đa 03 nghiên cứu sinh.\nTrường hợp đồng hướng dẫn một nghiên cứu sinh, sẽ được tính quy đổi tương đương 0,5 nghiên cứu sinh độc lập.\nĐơn vị đào tạo cũng có thể đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét điều chỉnh tăng số lượng nghiên cứu sinh được phép hướng dẫn nếu cán bộ hướng dẫn có năng lực nghiên cứu xuất sắc hoặc có đề tài lớn đủ cấp học bổng hỗ trợ cho nghiên cứu sinh."
}
],
"id": "36082",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi có thể hướng dẫn tối đa bao nhiêu nghiên cứu sinh cùng một lúc?"
}
]
}
],
"title": "Tôi có thể hướng dẫn tối đa bao nhiêu nghiên cứu sinh cùng một lúc?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 35. Tiêu chuẩn, trách nhiệm và quyền hạn của cán bộ hướng dẫn Tiêu chuẩn người hướng dẫn nghiên cứu sinh: Người hướng dẫn chính, người hướng dẫn phụ và người hướng dẫn độc lập nghiên cứu sinh phải đáp ứng các tiêu chuẩn của giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ theo quy định tại khoản 1, Điều 34 của Quy chế này, đồng thời đáp ứng các tiêu chuẩn sau: Có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc có học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ có chuyên môn phù hợp. Trường hợp, người hướng dẫn có học vị tiến sĩ (chưa có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư) thì phải có tối thiểu 01 năm (12 tháng) làm công tác nghiên cứu khoa học và giảng dạy kể từ khi có quyết định cấp bằng tiến sĩ. Người hướng dẫn chính, người hướng dẫn độc lập phải có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư hoặc có học vị tiến sĩ khoa học; Đã hoặc đang chủ trì các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở hoặc tham gia nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ trở lên. Trong thời gian 05 năm (60 tháng) tính đến thời điểm có quyết định công nhận hướng dẫn nghiên cứu sinh, người hướng dẫn chính, người hướng dẫn độc lập, người đồng hướng dẫn (không phân biệt giữa hướng dẫn chính và hướng dẫn phụ) phải có thêm kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực chuyên môn liên quan tới đề tài luận án hướng dẫn như sau: Là tác giả chính của báo cáo hội nghị khoa học, bài báo khoa học được công bố trong các ấn phẩm thuộc danh mục WoS/Scopus hoặc chương sách tham khảo do các nhà xuất bản quốc tế có uy tín phát hành, hoặc bài báo đăng trên các tạp chí khoa học trong nước được Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định khung điểm đánh giá từ 0,75 điểm trở lên, hoặc sách chuyên khảo do các nhà xuất bản có uy tín trong nước và quốc tế phát hành; các công bố phải đạt tổng điểm từ 4,0 điểm trở lên tính theo điểm tối đa do Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định cho mỗi loại công trình (không chia điểm khi có đồng tác giả); Ngoài tiêu chuẩn như đối với người hướng dẫn chính quy định tại điểm b nêu trên, tiến sĩ chưa có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư nhưng có kết quả nghiên cứu xuất sắc (có tối thiểu 01 công bố khoa học thuộc danh mục WoS/Scopus/năm liên tục trong 3 năm gần nhất), đơn vị đào tạo có thể đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét cho phép làm hướng dẫn chính hoặc hướng dẫn độc lập tối đa 03 nghiên cứu sinh; Mỗi nghiên cứu sinh có tối đa 02 người hướng dẫn, trong đó có ít nhất 01 cán bộ hướng dẫn là giảng viên, nghiên cứu viên cơ hữu của Đại học Quốc gia Hà Nội hoặc có hợp đồng giảng dạy, nghiên cứu khoa học với đơn vị đào tạo theo quy định của pháp luật; làm việc theo chế độ trọn thời gian tại đơn vị đào tạo với thời hạn của hợp đồng phù hợp với kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa của nghiên cứu sinh. Trường hợp luận án có hai cán bộ hướng dẫn thì quyết định phân công cán bộ hướng dẫn phải ghi rõ cán bộ hướng dẫn chính và cán bộ hướng dẫn phụ hoặc đồng hướng dẫn; đ) Khuyến khích các đơn vị đào tạo mời các nhà khoa học có đủ tiêu chuẩn hướng dẫn nghiên cứu sinh đang công tác tại các cơ sở nghiên cứu, đào tạo có uy tín ở nước ngoài tham gia đồng hướng dẫn; Không giao hướng dẫn hoặc đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh mới nếu trong vòng 06 năm (72 tháng) tính đến thời điểm được giao nhiệm vụ có 02 nghiên cứu sinh có luận án không được Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ thông qua vì lý do chuyên môn theo các quy định tại Quy chế này. Quyền hạn của người hướng dẫn Giáo sư được hướng dẫn độc lập tối đa 07 nghiên cứu sinh; phó giáo sư hoặc tiến sĩ khoa học được hướng dẫn độc lập tối đa 05 nghiên cứu sinh; tiến sĩ được hướng dẫn phụ hoặc hướng dẫn độc lập (trong trường hợp đáp ứng yêu cầu tại điểm c, khoản 1, Điều này) tối đa 03 nghiên cứu sinh. Trường hợp đồng hướng dẫn 01 nghiên cứu sinh được tính quy đổi tương đương hướng dẫn độc lập 0,5 nghiên cứu sinh; Các trường hợp cán bộ hướng dẫn đáp ứng các tiêu chuẩn ở các điểm a và điểm b, khoản 1, Điều này và đã hướng dẫn đủ số nghiên cứu sinh như quy định tại điểm a nêu trên, nhưng có năng lực nghiên cứu xuất sắc (là tác giả chính của tối thiểu 03 công bố khoa học thuộc danh mục WoS/Scopus/năm, liên tục trong 3 năm gần nhất) hoặc có đề tài lớn đủ cấp học bổng hỗ trợ cho nghiên cứu sinh, đơn vị đào tạo có thể đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét cho phép điều chỉnh tăng số lượng nghiên cứu sinh được phép hướng dẫn; Cán bộ hướng dẫn luận án có quyền từ chối hướng dẫn nghiên cứu sinh và thông báo bằng văn bản cho đơn vị đào tạo trong các trường hợp: Đã hướng dẫn đủ số lượng tối đa theo quy định tại điểm a nêu trên; Sau 03 tháng kể từ ngày nhận quyết định cử cán bộ hướng dẫn mà nghiên cứu sinh không liên hệ hoặc nghiên cứu sinh không tuân thủ sự hướng dẫn hoặc không hoàn thành kế hoạch nghiên cứu mà không có lý do chính đáng. Ngoài các trách nhiệm chung của giảng viên quy định tại khoản 2, Điều 34 của Quy chế này, cán bộ hướng dẫn luận án còn có trách nhiệm: Thông qua kế hoạch học tập và nghiên cứu của nghiên cứu sinh; lấy ý kiến góp ý của đơn vị chyên môn về đề cương chi tiết của luận án; Tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra và đôn đốc nghiên cứu sinh học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận án, tham gia hội nghị khoa học và hỗ trợ nghiên cứu sinh công bố các kết quả nghiên cứu; Phối hợp với đơn vị đào tạo và đơn vị chuyên môn trong việc lên kế hoạch, giao nhiệm vụ, đôn đốc, kiểm tra việc tham gia và kết quả thực hiện các hoạt động nghiên cứu, trợ giảng và hỗ trợ hoạt động đào tạo của nghiên cứu sinh; Đánh giá tình hình học tập, nghiên cứu, tiến độ thực hiện đề tài của nghiên cứu sinh và định kỳ báo cáo đơn vị chuyên môn, đơn vị quản lý nghiên cứu sinh bằng văn bản; đ) Chịu trách nhiệm về luận án của nghiên cứu sinh: Thông qua luận án của nghiên cứu sinh, xác nhận kết quả nghiên cứu, đóng góp mới của luận án và quyết định việc đề nghị đưa luận án ra đánh giá tại đơn vị chuyên môn và bảo vệ tại Hội đồng đánh giá luận án nếu luận án đã đáp ứng các yêu cầu quy định của Quy chế này; Khai báo đầy đủ, cập nhật thường xuyên các thông tin trong lý lịch khoa học, trong cơ sở dữ liệu của đơn vị đào tạo và Đại học Quốc gia Hà Nội theo quy định; g) Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật và theo quy định của thủ trưởng đơn vị đào tạo.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Cán bộ hướng dẫn có trách nhiệm tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc nghiên cứu sinh học tập, nghiên cứu, thực hiện đề tài luận án, tham gia hội nghị khoa học và hỗ trợ nghiên cứu sinh công bố các kết quả nghiên cứu."
}
],
"id": "36083",
"is_impossible": false,
"question": "Cán bộ hướng dẫn có trách nhiệm gì trong việc giúp đỡ nghiên cứu sinh công bố kết quả nghiên cứu?"
}
]
}
],
"title": "Cán bộ hướng dẫn có trách nhiệm gì trong việc giúp đỡ nghiên cứu sinh công bố kết quả nghiên cứu?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 35. Tiêu chuẩn, trách nhiệm và quyền hạn của cán bộ hướng dẫn Tiêu chuẩn người hướng dẫn nghiên cứu sinh: Người hướng dẫn chính, người hướng dẫn phụ và người hướng dẫn độc lập nghiên cứu sinh phải đáp ứng các tiêu chuẩn của giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ theo quy định tại khoản 1, Điều 34 của Quy chế này, đồng thời đáp ứng các tiêu chuẩn sau: Có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc có học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ có chuyên môn phù hợp. Trường hợp, người hướng dẫn có học vị tiến sĩ (chưa có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư) thì phải có tối thiểu 01 năm (12 tháng) làm công tác nghiên cứu khoa học và giảng dạy kể từ khi có quyết định cấp bằng tiến sĩ. Người hướng dẫn chính, người hướng dẫn độc lập phải có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư hoặc có học vị tiến sĩ khoa học; Đã hoặc đang chủ trì các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở hoặc tham gia nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ trở lên. Trong thời gian 05 năm (60 tháng) tính đến thời điểm có quyết định công nhận hướng dẫn nghiên cứu sinh, người hướng dẫn chính, người hướng dẫn độc lập, người đồng hướng dẫn (không phân biệt giữa hướng dẫn chính và hướng dẫn phụ) phải có thêm kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực chuyên môn liên quan tới đề tài luận án hướng dẫn như sau: Là tác giả chính của báo cáo hội nghị khoa học, bài báo khoa học được công bố trong các ấn phẩm thuộc danh mục WoS/Scopus hoặc chương sách tham khảo do các nhà xuất bản quốc tế có uy tín phát hành, hoặc bài báo đăng trên các tạp chí khoa học trong nước được Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định khung điểm đánh giá từ 0,75 điểm trở lên, hoặc sách chuyên khảo do các nhà xuất bản có uy tín trong nước và quốc tế phát hành; các công bố phải đạt tổng điểm từ 4,0 điểm trở lên tính theo điểm tối đa do Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định cho mỗi loại công trình (không chia điểm khi có đồng tác giả); Ngoài tiêu chuẩn như đối với người hướng dẫn chính quy định tại điểm b nêu trên, tiến sĩ chưa có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư nhưng có kết quả nghiên cứu xuất sắc (có tối thiểu 01 công bố khoa học thuộc danh mục WoS/Scopus/năm liên tục trong 3 năm gần nhất), đơn vị đào tạo có thể đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét cho phép làm hướng dẫn chính hoặc hướng dẫn độc lập tối đa 03 nghiên cứu sinh; Mỗi nghiên cứu sinh có tối đa 02 người hướng dẫn, trong đó có ít nhất 01 cán bộ hướng dẫn là giảng viên, nghiên cứu viên cơ hữu của Đại học Quốc gia Hà Nội hoặc có hợp đồng giảng dạy, nghiên cứu khoa học với đơn vị đào tạo theo quy định của pháp luật; làm việc theo chế độ trọn thời gian tại đơn vị đào tạo với thời hạn của hợp đồng phù hợp với kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa của nghiên cứu sinh. Trường hợp luận án có hai cán bộ hướng dẫn thì quyết định phân công cán bộ hướng dẫn phải ghi rõ cán bộ hướng dẫn chính và cán bộ hướng dẫn phụ hoặc đồng hướng dẫn; đ) Khuyến khích các đơn vị đào tạo mời các nhà khoa học có đủ tiêu chuẩn hướng dẫn nghiên cứu sinh đang công tác tại các cơ sở nghiên cứu, đào tạo có uy tín ở nước ngoài tham gia đồng hướng dẫn; Không giao hướng dẫn hoặc đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh mới nếu trong vòng 06 năm (72 tháng) tính đến thời điểm được giao nhiệm vụ có 02 nghiên cứu sinh có luận án không được Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ thông qua vì lý do chuyên môn theo các quy định tại Quy chế này. Quyền hạn của người hướng dẫn Giáo sư được hướng dẫn độc lập tối đa 07 nghiên cứu sinh; phó giáo sư hoặc tiến sĩ khoa học được hướng dẫn độc lập tối đa 05 nghiên cứu sinh; tiến sĩ được hướng dẫn phụ hoặc hướng dẫn độc lập (trong trường hợp đáp ứng yêu cầu tại điểm c, khoản 1, Điều này) tối đa 03 nghiên cứu sinh. Trường hợp đồng hướng dẫn 01 nghiên cứu sinh được tính quy đổi tương đương hướng dẫn độc lập 0,5 nghiên cứu sinh; Các trường hợp cán bộ hướng dẫn đáp ứng các tiêu chuẩn ở các điểm a và điểm b, khoản 1, Điều này và đã hướng dẫn đủ số nghiên cứu sinh như quy định tại điểm a nêu trên, nhưng có năng lực nghiên cứu xuất sắc (là tác giả chính của tối thiểu 03 công bố khoa học thuộc danh mục WoS/Scopus/năm, liên tục trong 3 năm gần nhất) hoặc có đề tài lớn đủ cấp học bổng hỗ trợ cho nghiên cứu sinh, đơn vị đào tạo có thể đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét cho phép điều chỉnh tăng số lượng nghiên cứu sinh được phép hướng dẫn; Cán bộ hướng dẫn luận án có quyền từ chối hướng dẫn nghiên cứu sinh và thông báo bằng văn bản cho đơn vị đào tạo trong các trường hợp: Đã hướng dẫn đủ số lượng tối đa theo quy định tại điểm a nêu trên; Sau 03 tháng kể từ ngày nhận quyết định cử cán bộ hướng dẫn mà nghiên cứu sinh không liên hệ hoặc nghiên cứu sinh không tuân thủ sự hướng dẫn hoặc không hoàn thành kế hoạch nghiên cứu mà không có lý do chính đáng. Ngoài các trách nhiệm chung của giảng viên quy định tại khoản 2, Điều 34 của Quy chế này, cán bộ hướng dẫn luận án còn có trách nhiệm: Thông qua kế hoạch học tập và nghiên cứu của nghiên cứu sinh; lấy ý kiến góp ý của đơn vị chyên môn về đề cương chi tiết của luận án; Tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra và đôn đốc nghiên cứu sinh học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận án, tham gia hội nghị khoa học và hỗ trợ nghiên cứu sinh công bố các kết quả nghiên cứu; Phối hợp với đơn vị đào tạo và đơn vị chuyên môn trong việc lên kế hoạch, giao nhiệm vụ, đôn đốc, kiểm tra việc tham gia và kết quả thực hiện các hoạt động nghiên cứu, trợ giảng và hỗ trợ hoạt động đào tạo của nghiên cứu sinh; Đánh giá tình hình học tập, nghiên cứu, tiến độ thực hiện đề tài của nghiên cứu sinh và định kỳ báo cáo đơn vị chuyên môn, đơn vị quản lý nghiên cứu sinh bằng văn bản; đ) Chịu trách nhiệm về luận án của nghiên cứu sinh: Thông qua luận án của nghiên cứu sinh, xác nhận kết quả nghiên cứu, đóng góp mới của luận án và quyết định việc đề nghị đưa luận án ra đánh giá tại đơn vị chuyên môn và bảo vệ tại Hội đồng đánh giá luận án nếu luận án đã đáp ứng các yêu cầu quy định của Quy chế này; Khai báo đầy đủ, cập nhật thường xuyên các thông tin trong lý lịch khoa học, trong cơ sở dữ liệu của đơn vị đào tạo và Đại học Quốc gia Hà Nội theo quy định; g) Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật và theo quy định của thủ trưởng đơn vị đào tạo.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Cán bộ hướng dẫn luận án có quyền từ chối hướng dẫn nghiên cứu sinh nếu đã hướng dẫn đủ số lượng tối đa theo quy định, hoặc nếu sau 03 tháng kể từ ngày nhận quyết định cử cán bộ hướng dẫn mà nghiên cứu sinh không liên hệ, không tuân thủ sự hướng dẫn, hoặc không hoàn thành kế hoạch nghiên cứu mà không có lý do chính đáng."
}
],
"id": "36084",
"is_impossible": false,
"question": "Cán bộ hướng dẫn có thể từ chối hướng dẫn nghiên cứu sinh trong trường hợp nào?"
}
]
}
],
"title": "Cán bộ hướng dẫn có thể từ chối hướng dẫn nghiên cứu sinh trong trường hợp nào?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 35. Tiêu chuẩn, trách nhiệm và quyền hạn của cán bộ hướng dẫn Tiêu chuẩn người hướng dẫn nghiên cứu sinh: Người hướng dẫn chính, người hướng dẫn phụ và người hướng dẫn độc lập nghiên cứu sinh phải đáp ứng các tiêu chuẩn của giảng viên giảng dạy trình độ tiến sĩ theo quy định tại khoản 1, Điều 34 của Quy chế này, đồng thời đáp ứng các tiêu chuẩn sau: Có chức danh giáo sư, phó giáo sư hoặc có học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ có chuyên môn phù hợp. Trường hợp, người hướng dẫn có học vị tiến sĩ (chưa có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư) thì phải có tối thiểu 01 năm (12 tháng) làm công tác nghiên cứu khoa học và giảng dạy kể từ khi có quyết định cấp bằng tiến sĩ. Người hướng dẫn chính, người hướng dẫn độc lập phải có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư hoặc có học vị tiến sĩ khoa học; Đã hoặc đang chủ trì các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở hoặc tham gia nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ trở lên. Trong thời gian 05 năm (60 tháng) tính đến thời điểm có quyết định công nhận hướng dẫn nghiên cứu sinh, người hướng dẫn chính, người hướng dẫn độc lập, người đồng hướng dẫn (không phân biệt giữa hướng dẫn chính và hướng dẫn phụ) phải có thêm kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực chuyên môn liên quan tới đề tài luận án hướng dẫn như sau: Là tác giả chính của báo cáo hội nghị khoa học, bài báo khoa học được công bố trong các ấn phẩm thuộc danh mục WoS/Scopus hoặc chương sách tham khảo do các nhà xuất bản quốc tế có uy tín phát hành, hoặc bài báo đăng trên các tạp chí khoa học trong nước được Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định khung điểm đánh giá từ 0,75 điểm trở lên, hoặc sách chuyên khảo do các nhà xuất bản có uy tín trong nước và quốc tế phát hành; các công bố phải đạt tổng điểm từ 4,0 điểm trở lên tính theo điểm tối đa do Hội đồng Giáo sư nhà nước quy định cho mỗi loại công trình (không chia điểm khi có đồng tác giả); Ngoài tiêu chuẩn như đối với người hướng dẫn chính quy định tại điểm b nêu trên, tiến sĩ chưa có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư nhưng có kết quả nghiên cứu xuất sắc (có tối thiểu 01 công bố khoa học thuộc danh mục WoS/Scopus/năm liên tục trong 3 năm gần nhất), đơn vị đào tạo có thể đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét cho phép làm hướng dẫn chính hoặc hướng dẫn độc lập tối đa 03 nghiên cứu sinh; Mỗi nghiên cứu sinh có tối đa 02 người hướng dẫn, trong đó có ít nhất 01 cán bộ hướng dẫn là giảng viên, nghiên cứu viên cơ hữu của Đại học Quốc gia Hà Nội hoặc có hợp đồng giảng dạy, nghiên cứu khoa học với đơn vị đào tạo theo quy định của pháp luật; làm việc theo chế độ trọn thời gian tại đơn vị đào tạo với thời hạn của hợp đồng phù hợp với kế hoạch học tập, nghiên cứu toàn khóa của nghiên cứu sinh. Trường hợp luận án có hai cán bộ hướng dẫn thì quyết định phân công cán bộ hướng dẫn phải ghi rõ cán bộ hướng dẫn chính và cán bộ hướng dẫn phụ hoặc đồng hướng dẫn; đ) Khuyến khích các đơn vị đào tạo mời các nhà khoa học có đủ tiêu chuẩn hướng dẫn nghiên cứu sinh đang công tác tại các cơ sở nghiên cứu, đào tạo có uy tín ở nước ngoài tham gia đồng hướng dẫn; Không giao hướng dẫn hoặc đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh mới nếu trong vòng 06 năm (72 tháng) tính đến thời điểm được giao nhiệm vụ có 02 nghiên cứu sinh có luận án không được Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ thông qua vì lý do chuyên môn theo các quy định tại Quy chế này. Quyền hạn của người hướng dẫn Giáo sư được hướng dẫn độc lập tối đa 07 nghiên cứu sinh; phó giáo sư hoặc tiến sĩ khoa học được hướng dẫn độc lập tối đa 05 nghiên cứu sinh; tiến sĩ được hướng dẫn phụ hoặc hướng dẫn độc lập (trong trường hợp đáp ứng yêu cầu tại điểm c, khoản 1, Điều này) tối đa 03 nghiên cứu sinh. Trường hợp đồng hướng dẫn 01 nghiên cứu sinh được tính quy đổi tương đương hướng dẫn độc lập 0,5 nghiên cứu sinh; Các trường hợp cán bộ hướng dẫn đáp ứng các tiêu chuẩn ở các điểm a và điểm b, khoản 1, Điều này và đã hướng dẫn đủ số nghiên cứu sinh như quy định tại điểm a nêu trên, nhưng có năng lực nghiên cứu xuất sắc (là tác giả chính của tối thiểu 03 công bố khoa học thuộc danh mục WoS/Scopus/năm, liên tục trong 3 năm gần nhất) hoặc có đề tài lớn đủ cấp học bổng hỗ trợ cho nghiên cứu sinh, đơn vị đào tạo có thể đề nghị Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét cho phép điều chỉnh tăng số lượng nghiên cứu sinh được phép hướng dẫn; Cán bộ hướng dẫn luận án có quyền từ chối hướng dẫn nghiên cứu sinh và thông báo bằng văn bản cho đơn vị đào tạo trong các trường hợp: Đã hướng dẫn đủ số lượng tối đa theo quy định tại điểm a nêu trên; Sau 03 tháng kể từ ngày nhận quyết định cử cán bộ hướng dẫn mà nghiên cứu sinh không liên hệ hoặc nghiên cứu sinh không tuân thủ sự hướng dẫn hoặc không hoàn thành kế hoạch nghiên cứu mà không có lý do chính đáng. Ngoài các trách nhiệm chung của giảng viên quy định tại khoản 2, Điều 34 của Quy chế này, cán bộ hướng dẫn luận án còn có trách nhiệm: Thông qua kế hoạch học tập và nghiên cứu của nghiên cứu sinh; lấy ý kiến góp ý của đơn vị chyên môn về đề cương chi tiết của luận án; Tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra và đôn đốc nghiên cứu sinh học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận án, tham gia hội nghị khoa học và hỗ trợ nghiên cứu sinh công bố các kết quả nghiên cứu; Phối hợp với đơn vị đào tạo và đơn vị chuyên môn trong việc lên kế hoạch, giao nhiệm vụ, đôn đốc, kiểm tra việc tham gia và kết quả thực hiện các hoạt động nghiên cứu, trợ giảng và hỗ trợ hoạt động đào tạo của nghiên cứu sinh; Đánh giá tình hình học tập, nghiên cứu, tiến độ thực hiện đề tài của nghiên cứu sinh và định kỳ báo cáo đơn vị chuyên môn, đơn vị quản lý nghiên cứu sinh bằng văn bản; đ) Chịu trách nhiệm về luận án của nghiên cứu sinh: Thông qua luận án của nghiên cứu sinh, xác nhận kết quả nghiên cứu, đóng góp mới của luận án và quyết định việc đề nghị đưa luận án ra đánh giá tại đơn vị chuyên môn và bảo vệ tại Hội đồng đánh giá luận án nếu luận án đã đáp ứng các yêu cầu quy định của Quy chế này; Khai báo đầy đủ, cập nhật thường xuyên các thông tin trong lý lịch khoa học, trong cơ sở dữ liệu của đơn vị đào tạo và Đại học Quốc gia Hà Nội theo quy định; g) Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật và theo quy định của thủ trưởng đơn vị đào tạo.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Cán bộ hướng dẫn có trách nhiệm đánh giá tình hình học tập, nghiên cứu, tiến độ thực hiện đề tài của nghiên cứu sinh và định kỳ báo cáo bằng văn bản cho đơn vị chuyên môn, đơn vị quản lý nghiên cứu sinh."
}
],
"id": "36085",
"is_impossible": false,
"question": "Trách nhiệm của cán bộ hướng dẫn trong việc đánh giá tiến độ nghiên cứu của nghiên cứu sinh như thế nào?"
}
]
}
],
"title": "Trách nhiệm của cán bộ hướng dẫn trong việc đánh giá tiến độ nghiên cứu của nghiên cứu sinh như thế nào?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 36. Trách nhiệm của nghiên cứu sinh Thực hiện nghĩa vụ của công dân theo quy định của pháp luật. Nghiên cứu sinh là người nước ngoài phải tuân thủ pháp luật Việt Nam, tôn trọng phong tục, tập quán của Việt Nam. Thực hiện nghiêm túc quy chế của Đại học Quốc gia Hà Nội và các quy định, nội quy của đơn vị đào tạo. Khai báo và cập nhật đầy đủ, chính xác, kịp thời các thông tin liên quan đến cá nhân, đến quá trình đào tạo, những thay đổi trong quá trình học tập của nghiên cứu sinh (nếu có) theo quy định của đơn vị đào tạo và của Đại học Quốc gia Hà Nội. Thực hiện kế hoạch học tập và nghiên cứu khoa học đúng thời hạn quy định theo chương trình, kế hoạch của đơn vị đào tạo; báo cáo đầy đủ và đúng hạn về kết quả học tập, nghiên cứu, rèn luyện và các thông tin khác theo yêu cầu của đơn vị đào tạo. Trung thực trong khoa học, tôn trọng quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ. Không được tìm hiểu hoặc tiếp xúc với phản biện độc lập, không được liên hệ hoặc gặp gỡ các thành viên Hội đồng đánh giá luận án trước khi bảo vệ luận án; không được tham gia vào quá trình chuẩn bị tổ chức bảo vệ luận án (như: đưa hồ sơ luận án đến các thành viên Hội đồng, tiếp xúc để nhận các bản nhận xét luận án của thành viên Hội đồng). Tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học và trợ giảng, hỗ trợ đào tạo như một thành viên của đơn vị chuyên môn (trợ giảng, chữa bài tập, hướng dẫn thực hành, đồ án tốt nghiệp, hướng dẫn thực tập, thực tế, coi thi, chấm thi,… cho sinh viên và học viên cao học; tham gia các đề tài nghiên cứu, tham dự các hội nghị, hội thảo chuyên môn,…) theo yêu cầu của cán bộ hướng dẫn và kế hoạch, phân công của thủ trưởng đơn vị đào tạo, lãnh đạo đơn vị chuyên môn. Định mức hoàn thành công tác này do thủ trưởng đơn vị đào tạo quy định. Có ý thức xây dựng, gìn giữ, bảo vệ và phát huy thương hiệu của Đại học Quốc gia Hà Nội và các đơn vị đào tạo. Tôn trọng giảng viên, cán bộ, nhân viên của Đại học Quốc gia Hà Nội. Đoàn kết, giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau trong học tập, nghiên cứu và rèn luyện; thực hiện tốt nếp sống văn minh. Tích cực tham gia các phong trào, các cuộc vận động về chính trị, tư tưởng, đạo đức của ngành giáo dục và của Đại học Quốc gia Hà Nội. Nộp đủ và đúng thời hạn các khoản kinh phí theo quy định.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nghiên cứu sinh có nghĩa vụ khai báo và cập nhật đầy đủ, chính xác, kịp thời các thông tin liên quan đến cá nhân, đến quá trình đào tạo và những thay đổi trong quá trình học tập của mình (nếu có) theo quy định của đơn vị đào tạo và của Đại học Quốc gia Hà Nội."
}
],
"id": "36086",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết nghiên cứu sinh có nghĩa vụ gì trong việc cập nhật thông tin cá nhân liên quan đến quá trình đào tạo?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết nghiên cứu sinh có nghĩa vụ gì trong việc cập nhật thông tin cá nhân liên quan đến quá trình đào tạo?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 36. Trách nhiệm của nghiên cứu sinh Thực hiện nghĩa vụ của công dân theo quy định của pháp luật. Nghiên cứu sinh là người nước ngoài phải tuân thủ pháp luật Việt Nam, tôn trọng phong tục, tập quán của Việt Nam. Thực hiện nghiêm túc quy chế của Đại học Quốc gia Hà Nội và các quy định, nội quy của đơn vị đào tạo. Khai báo và cập nhật đầy đủ, chính xác, kịp thời các thông tin liên quan đến cá nhân, đến quá trình đào tạo, những thay đổi trong quá trình học tập của nghiên cứu sinh (nếu có) theo quy định của đơn vị đào tạo và của Đại học Quốc gia Hà Nội. Thực hiện kế hoạch học tập và nghiên cứu khoa học đúng thời hạn quy định theo chương trình, kế hoạch của đơn vị đào tạo; báo cáo đầy đủ và đúng hạn về kết quả học tập, nghiên cứu, rèn luyện và các thông tin khác theo yêu cầu của đơn vị đào tạo. Trung thực trong khoa học, tôn trọng quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ. Không được tìm hiểu hoặc tiếp xúc với phản biện độc lập, không được liên hệ hoặc gặp gỡ các thành viên Hội đồng đánh giá luận án trước khi bảo vệ luận án; không được tham gia vào quá trình chuẩn bị tổ chức bảo vệ luận án (như: đưa hồ sơ luận án đến các thành viên Hội đồng, tiếp xúc để nhận các bản nhận xét luận án của thành viên Hội đồng). Tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học và trợ giảng, hỗ trợ đào tạo như một thành viên của đơn vị chuyên môn (trợ giảng, chữa bài tập, hướng dẫn thực hành, đồ án tốt nghiệp, hướng dẫn thực tập, thực tế, coi thi, chấm thi,… cho sinh viên và học viên cao học; tham gia các đề tài nghiên cứu, tham dự các hội nghị, hội thảo chuyên môn,…) theo yêu cầu của cán bộ hướng dẫn và kế hoạch, phân công của thủ trưởng đơn vị đào tạo, lãnh đạo đơn vị chuyên môn. Định mức hoàn thành công tác này do thủ trưởng đơn vị đào tạo quy định. Có ý thức xây dựng, gìn giữ, bảo vệ và phát huy thương hiệu của Đại học Quốc gia Hà Nội và các đơn vị đào tạo. Tôn trọng giảng viên, cán bộ, nhân viên của Đại học Quốc gia Hà Nội. Đoàn kết, giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau trong học tập, nghiên cứu và rèn luyện; thực hiện tốt nếp sống văn minh. Tích cực tham gia các phong trào, các cuộc vận động về chính trị, tư tưởng, đạo đức của ngành giáo dục và của Đại học Quốc gia Hà Nội. Nộp đủ và đúng thời hạn các khoản kinh phí theo quy định.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nghiên cứu sinh phải tham gia các hoạt động trợ giảng và hỗ trợ đào tạo theo yêu cầu của cán bộ hướng dẫn và kế hoạch, phân công của thủ trưởng đơn vị đào tạo, lãnh đạo đơn vị chuyên môn. Định mức hoàn thành công tác này do thủ trưởng đơn vị đào tạo quy định."
}
],
"id": "36087",
"is_impossible": false,
"question": "Nghiên cứu sinh phải tuân thủ những quy định nào trong việc tham gia các hoạt động trợ giảng và hỗ trợ đào tạo?"
}
]
}
],
"title": "Nghiên cứu sinh phải tuân thủ những quy định nào trong việc tham gia các hoạt động trợ giảng và hỗ trợ đào tạo?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan Điều 36. Trách nhiệm của nghiên cứu sinh Thực hiện nghĩa vụ của công dân theo quy định của pháp luật. Nghiên cứu sinh là người nước ngoài phải tuân thủ pháp luật Việt Nam, tôn trọng phong tục, tập quán của Việt Nam. Thực hiện nghiêm túc quy chế của Đại học Quốc gia Hà Nội và các quy định, nội quy của đơn vị đào tạo. Khai báo và cập nhật đầy đủ, chính xác, kịp thời các thông tin liên quan đến cá nhân, đến quá trình đào tạo, những thay đổi trong quá trình học tập của nghiên cứu sinh (nếu có) theo quy định của đơn vị đào tạo và của Đại học Quốc gia Hà Nội. Thực hiện kế hoạch học tập và nghiên cứu khoa học đúng thời hạn quy định theo chương trình, kế hoạch của đơn vị đào tạo; báo cáo đầy đủ và đúng hạn về kết quả học tập, nghiên cứu, rèn luyện và các thông tin khác theo yêu cầu của đơn vị đào tạo. Trung thực trong khoa học, tôn trọng quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ. Không được tìm hiểu hoặc tiếp xúc với phản biện độc lập, không được liên hệ hoặc gặp gỡ các thành viên Hội đồng đánh giá luận án trước khi bảo vệ luận án; không được tham gia vào quá trình chuẩn bị tổ chức bảo vệ luận án (như: đưa hồ sơ luận án đến các thành viên Hội đồng, tiếp xúc để nhận các bản nhận xét luận án của thành viên Hội đồng). Tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học và trợ giảng, hỗ trợ đào tạo như một thành viên của đơn vị chuyên môn (trợ giảng, chữa bài tập, hướng dẫn thực hành, đồ án tốt nghiệp, hướng dẫn thực tập, thực tế, coi thi, chấm thi,… cho sinh viên và học viên cao học; tham gia các đề tài nghiên cứu, tham dự các hội nghị, hội thảo chuyên môn,…) theo yêu cầu của cán bộ hướng dẫn và kế hoạch, phân công của thủ trưởng đơn vị đào tạo, lãnh đạo đơn vị chuyên môn. Định mức hoàn thành công tác này do thủ trưởng đơn vị đào tạo quy định. Có ý thức xây dựng, gìn giữ, bảo vệ và phát huy thương hiệu của Đại học Quốc gia Hà Nội và các đơn vị đào tạo. Tôn trọng giảng viên, cán bộ, nhân viên của Đại học Quốc gia Hà Nội. Đoàn kết, giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau trong học tập, nghiên cứu và rèn luyện; thực hiện tốt nếp sống văn minh. Tích cực tham gia các phong trào, các cuộc vận động về chính trị, tư tưởng, đạo đức của ngành giáo dục và của Đại học Quốc gia Hà Nội. Nộp đủ và đúng thời hạn các khoản kinh phí theo quy định.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nghiên cứu sinh cần trung thực trong khoa học, tôn trọng quyền tác giả và quyền sở hữu trí tuệ."
}
],
"id": "36088",
"is_impossible": false,
"question": "Nghiên cứu sinh cần tuân thủ những nguyên tắc gì về quyền sở hữu trí tuệ trong quá trình nghiên cứu?"
}
]
}
],
"title": "Nghiên cứu sinh cần tuân thủ những nguyên tắc gì về quyền sở hữu trí tuệ trong quá trình nghiên cứu?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 36. Trách nhiệm của nghiên cứu sinh Thực hiện nghĩa vụ của công dân theo quy định của pháp luật. Nghiên cứu sinh là người nước ngoài phải tuân thủ pháp luật Việt Nam, tôn trọng phong tục, tập quán của Việt Nam. Thực hiện nghiêm túc quy chế của Đại học Quốc gia Hà Nội và các quy định, nội quy của đơn vị đào tạo. Khai báo và cập nhật đầy đủ, chính xác, kịp thời các thông tin liên quan đến cá nhân, đến quá trình đào tạo, những thay đổi trong quá trình học tập của nghiên cứu sinh (nếu có) theo quy định của đơn vị đào tạo và của Đại học Quốc gia Hà Nội. Thực hiện kế hoạch học tập và nghiên cứu khoa học đúng thời hạn quy định theo chương trình, kế hoạch của đơn vị đào tạo; báo cáo đầy đủ và đúng hạn về kết quả học tập, nghiên cứu, rèn luyện và các thông tin khác theo yêu cầu của đơn vị đào tạo. Trung thực trong khoa học, tôn trọng quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ. Không được tìm hiểu hoặc tiếp xúc với phản biện độc lập, không được liên hệ hoặc gặp gỡ các thành viên Hội đồng đánh giá luận án trước khi bảo vệ luận án; không được tham gia vào quá trình chuẩn bị tổ chức bảo vệ luận án (như: đưa hồ sơ luận án đến các thành viên Hội đồng, tiếp xúc để nhận các bản nhận xét luận án của thành viên Hội đồng). Tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học và trợ giảng, hỗ trợ đào tạo như một thành viên của đơn vị chuyên môn (trợ giảng, chữa bài tập, hướng dẫn thực hành, đồ án tốt nghiệp, hướng dẫn thực tập, thực tế, coi thi, chấm thi,… cho sinh viên và học viên cao học; tham gia các đề tài nghiên cứu, tham dự các hội nghị, hội thảo chuyên môn,…) theo yêu cầu của cán bộ hướng dẫn và kế hoạch, phân công của thủ trưởng đơn vị đào tạo, lãnh đạo đơn vị chuyên môn. Định mức hoàn thành công tác này do thủ trưởng đơn vị đào tạo quy định. Có ý thức xây dựng, gìn giữ, bảo vệ và phát huy thương hiệu của Đại học Quốc gia Hà Nội và các đơn vị đào tạo. Tôn trọng giảng viên, cán bộ, nhân viên của Đại học Quốc gia Hà Nội. Đoàn kết, giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau trong học tập, nghiên cứu và rèn luyện; thực hiện tốt nếp sống văn minh. Tích cực tham gia các phong trào, các cuộc vận động về chính trị, tư tưởng, đạo đức của ngành giáo dục và của Đại học Quốc gia Hà Nội. Nộp đủ và đúng thời hạn các khoản kinh phí theo quy định.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nghiên cứu sinh không được phép liên hệ với phản biện độc lập hoặc thành viên Hội đồng đánh giá luận án trước khi bảo vệ luận án."
}
],
"id": "36089",
"is_impossible": false,
"question": "Khi nào nghiên cứu sinh không được phép liên hệ với phản biện độc lập hoặc thành viên Hội đồng đánh giá luận án?"
}
]
}
],
"title": "Khi nào nghiên cứu sinh không được phép liên hệ với phản biện độc lập hoặc thành viên Hội đồng đánh giá luận án?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 36. Trách nhiệm của nghiên cứu sinh Thực hiện nghĩa vụ của công dân theo quy định của pháp luật. Nghiên cứu sinh là người nước ngoài phải tuân thủ pháp luật Việt Nam, tôn trọng phong tục, tập quán của Việt Nam. Thực hiện nghiêm túc quy chế của Đại học Quốc gia Hà Nội và các quy định, nội quy của đơn vị đào tạo. Khai báo và cập nhật đầy đủ, chính xác, kịp thời các thông tin liên quan đến cá nhân, đến quá trình đào tạo, những thay đổi trong quá trình học tập của nghiên cứu sinh (nếu có) theo quy định của đơn vị đào tạo và của Đại học Quốc gia Hà Nội. Thực hiện kế hoạch học tập và nghiên cứu khoa học đúng thời hạn quy định theo chương trình, kế hoạch của đơn vị đào tạo; báo cáo đầy đủ và đúng hạn về kết quả học tập, nghiên cứu, rèn luyện và các thông tin khác theo yêu cầu của đơn vị đào tạo. Trung thực trong khoa học, tôn trọng quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ. Không được tìm hiểu hoặc tiếp xúc với phản biện độc lập, không được liên hệ hoặc gặp gỡ các thành viên Hội đồng đánh giá luận án trước khi bảo vệ luận án; không được tham gia vào quá trình chuẩn bị tổ chức bảo vệ luận án (như: đưa hồ sơ luận án đến các thành viên Hội đồng, tiếp xúc để nhận các bản nhận xét luận án của thành viên Hội đồng). Tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học và trợ giảng, hỗ trợ đào tạo như một thành viên của đơn vị chuyên môn (trợ giảng, chữa bài tập, hướng dẫn thực hành, đồ án tốt nghiệp, hướng dẫn thực tập, thực tế, coi thi, chấm thi,… cho sinh viên và học viên cao học; tham gia các đề tài nghiên cứu, tham dự các hội nghị, hội thảo chuyên môn,…) theo yêu cầu của cán bộ hướng dẫn và kế hoạch, phân công của thủ trưởng đơn vị đào tạo, lãnh đạo đơn vị chuyên môn. Định mức hoàn thành công tác này do thủ trưởng đơn vị đào tạo quy định. Có ý thức xây dựng, gìn giữ, bảo vệ và phát huy thương hiệu của Đại học Quốc gia Hà Nội và các đơn vị đào tạo. Tôn trọng giảng viên, cán bộ, nhân viên của Đại học Quốc gia Hà Nội. Đoàn kết, giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau trong học tập, nghiên cứu và rèn luyện; thực hiện tốt nếp sống văn minh. Tích cực tham gia các phong trào, các cuộc vận động về chính trị, tư tưởng, đạo đức của ngành giáo dục và của Đại học Quốc gia Hà Nội. Nộp đủ và đúng thời hạn các khoản kinh phí theo quy định.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nghiên cứu sinh có trách nhiệm nộp đầy đủ và đúng thời hạn các khoản kinh phí đào tạo theo quy định."
}
],
"id": "36090",
"is_impossible": false,
"question": "Trách nhiệm của nghiên cứu sinh trong việc nộp kinh phí đào tạo được quy định như thế nào?"
}
]
}
],
"title": "Trách nhiệm của nghiên cứu sinh trong việc nộp kinh phí đào tạo được quy định như thế nào?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 37. Quyền lợi của nghiên cứu sinh Được nhận vào học đúng ngành/chuyên ngành đã đăng ký dự tuyển khi trúng tuyển. Được cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến việc học tập. Được tham gia hoạt động của các đoàn thể, tổ chức xã hội trong đơn vị đào tạo. Được sử dụng thư viện, tài liệu khoa học, phòng thí nghiệm, các trang thiết bị và cơ sở vật chất khác của đơn vị đào tạo và cơ sở phối hợp để phục vụ cho việc thực hiện kế hoạch học tập, nghiên cứu đã được thông qua. Được thanh toán thù lao khi tham gia các hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học theo quy định của đơn vị đào tạo. Được bồi hoàn học phí nếu nghiên cứu sinh không có lỗi nhưng do vi phạm của đơn vị đào tạo dẫn đến việc không được cấp bằng tiến sĩ. Được đề xuất với đơn vị đào tạo danh sách cán bộ hướng dẫn luận án; đề nghị thay cán bộ hướng dẫn luận án nếu sau 03 tháng kể từ khi nhận được quyết định giao đề tài và cử cán bộ hướng dẫn mà nghiên cứu sinh không liên hệ được với cán bộ hướng dẫn hoặc không được hướng dẫn thực hiện luận án. Được phản hồi ý kiến với người có thẩm quyền của đơn vị đào tạo về chương trình đào tạo, về việc giảng dạy của giảng viên và các hoạt động liên quan đến quá trình tuyển sinh, tổ chức và quản lý đào tạo tiến sĩ. Được tôn trọng và đối xử bình đẳng. Các quyền khác theo quy định của pháp luật.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Có, nghiên cứu sinh có quyền đề nghị thay cán bộ hướng dẫn luận án nếu sau 03 tháng kể từ khi nhận được quyết định giao đề tài và cử cán bộ hướng dẫn mà nghiên cứu sinh không liên hệ được với cán bộ hướng dẫn hoặc không được hướng dẫn thực hiện luận án."
}
],
"id": "36091",
"is_impossible": false,
"question": "Em có quyền đề xuất thay đổi cán bộ hướng dẫn luận án không?"
}
]
}
],
"title": "Em có quyền đề xuất thay đổi cán bộ hướng dẫn luận án không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 37. Quyền lợi của nghiên cứu sinh Được nhận vào học đúng ngành/chuyên ngành đã đăng ký dự tuyển khi trúng tuyển. Được cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến việc học tập. Được tham gia hoạt động của các đoàn thể, tổ chức xã hội trong đơn vị đào tạo. Được sử dụng thư viện, tài liệu khoa học, phòng thí nghiệm, các trang thiết bị và cơ sở vật chất khác của đơn vị đào tạo và cơ sở phối hợp để phục vụ cho việc thực hiện kế hoạch học tập, nghiên cứu đã được thông qua. Được thanh toán thù lao khi tham gia các hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học theo quy định của đơn vị đào tạo. Được bồi hoàn học phí nếu nghiên cứu sinh không có lỗi nhưng do vi phạm của đơn vị đào tạo dẫn đến việc không được cấp bằng tiến sĩ. Được đề xuất với đơn vị đào tạo danh sách cán bộ hướng dẫn luận án; đề nghị thay cán bộ hướng dẫn luận án nếu sau 03 tháng kể từ khi nhận được quyết định giao đề tài và cử cán bộ hướng dẫn mà nghiên cứu sinh không liên hệ được với cán bộ hướng dẫn hoặc không được hướng dẫn thực hiện luận án. Được phản hồi ý kiến với người có thẩm quyền của đơn vị đào tạo về chương trình đào tạo, về việc giảng dạy của giảng viên và các hoạt động liên quan đến quá trình tuyển sinh, tổ chức và quản lý đào tạo tiến sĩ. Được tôn trọng và đối xử bình đẳng. Các quyền khác theo quy định của pháp luật.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nghiên cứu sinh được tham gia các hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học, và được thanh toán thù lao theo quy định của đơn vị đào tạo."
}
],
"id": "36092",
"is_impossible": false,
"question": "Nghiên cứu sinh có được tham gia hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học không?"
}
]
}
],
"title": "Nghiên cứu sinh có được tham gia hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 37. Quyền lợi của nghiên cứu sinh Được nhận vào học đúng ngành/chuyên ngành đã đăng ký dự tuyển khi trúng tuyển. Được cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến việc học tập. Được tham gia hoạt động của các đoàn thể, tổ chức xã hội trong đơn vị đào tạo. Được sử dụng thư viện, tài liệu khoa học, phòng thí nghiệm, các trang thiết bị và cơ sở vật chất khác của đơn vị đào tạo và cơ sở phối hợp để phục vụ cho việc thực hiện kế hoạch học tập, nghiên cứu đã được thông qua. Được thanh toán thù lao khi tham gia các hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học theo quy định của đơn vị đào tạo. Được bồi hoàn học phí nếu nghiên cứu sinh không có lỗi nhưng do vi phạm của đơn vị đào tạo dẫn đến việc không được cấp bằng tiến sĩ. Được đề xuất với đơn vị đào tạo danh sách cán bộ hướng dẫn luận án; đề nghị thay cán bộ hướng dẫn luận án nếu sau 03 tháng kể từ khi nhận được quyết định giao đề tài và cử cán bộ hướng dẫn mà nghiên cứu sinh không liên hệ được với cán bộ hướng dẫn hoặc không được hướng dẫn thực hiện luận án. Được phản hồi ý kiến với người có thẩm quyền của đơn vị đào tạo về chương trình đào tạo, về việc giảng dạy của giảng viên và các hoạt động liên quan đến quá trình tuyển sinh, tổ chức và quản lý đào tạo tiến sĩ. Được tôn trọng và đối xử bình đẳng. Các quyền khác theo quy định của pháp luật.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nghiên cứu sinh có quyền sử dụng thư viện, tài liệu khoa học, phòng thí nghiệm và các trang thiết bị, cơ sở vật chất khác của đơn vị đào tạo và cơ sở phối hợp để phục vụ cho việc thực hiện kế hoạch học tập, nghiên cứu đã được thông qua."
}
],
"id": "36093",
"is_impossible": false,
"question": "Nghiên cứu sinh có quyền sử dụng các thiết bị và tài liệu phục vụ cho nghiên cứu không?"
}
]
}
],
"title": "Nghiên cứu sinh có quyền sử dụng các thiết bị và tài liệu phục vụ cho nghiên cứu không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 37. Quyền lợi của nghiên cứu sinh Được nhận vào học đúng ngành/chuyên ngành đã đăng ký dự tuyển khi trúng tuyển. Được cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến việc học tập. Được tham gia hoạt động của các đoàn thể, tổ chức xã hội trong đơn vị đào tạo. Được sử dụng thư viện, tài liệu khoa học, phòng thí nghiệm, các trang thiết bị và cơ sở vật chất khác của đơn vị đào tạo và cơ sở phối hợp để phục vụ cho việc thực hiện kế hoạch học tập, nghiên cứu đã được thông qua. Được thanh toán thù lao khi tham gia các hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học theo quy định của đơn vị đào tạo. Được bồi hoàn học phí nếu nghiên cứu sinh không có lỗi nhưng do vi phạm của đơn vị đào tạo dẫn đến việc không được cấp bằng tiến sĩ. Được đề xuất với đơn vị đào tạo danh sách cán bộ hướng dẫn luận án; đề nghị thay cán bộ hướng dẫn luận án nếu sau 03 tháng kể từ khi nhận được quyết định giao đề tài và cử cán bộ hướng dẫn mà nghiên cứu sinh không liên hệ được với cán bộ hướng dẫn hoặc không được hướng dẫn thực hiện luận án. Được phản hồi ý kiến với người có thẩm quyền của đơn vị đào tạo về chương trình đào tạo, về việc giảng dạy của giảng viên và các hoạt động liên quan đến quá trình tuyển sinh, tổ chức và quản lý đào tạo tiến sĩ. Được tôn trọng và đối xử bình đẳng. Các quyền khác theo quy định của pháp luật.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Nghiên cứu sinh có quyền phản hồi ý kiến với người có thẩm quyền của đơn vị đào tạo về chương trình đào tạo và việc giảng dạy của giảng viên và các hoạt động liên quan đến quá trình tuyển sinh, tổ chức và quản lý đào tạo tiến sĩ."
}
],
"id": "36094",
"is_impossible": false,
"question": "Nghiên cứu sinh có quyền phản hồi về chương trình đào tạo và việc giảng dạy không?"
}
]
}
],
"title": "Nghiên cứu sinh có quyền phản hồi về chương trình đào tạo và việc giảng dạy không?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 37. Quyền lợi của nghiên cứu sinh Được nhận vào học đúng ngành/chuyên ngành đã đăng ký dự tuyển khi trúng tuyển. Được cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến việc học tập. Được tham gia hoạt động của các đoàn thể, tổ chức xã hội trong đơn vị đào tạo. Được sử dụng thư viện, tài liệu khoa học, phòng thí nghiệm, các trang thiết bị và cơ sở vật chất khác của đơn vị đào tạo và cơ sở phối hợp để phục vụ cho việc thực hiện kế hoạch học tập, nghiên cứu đã được thông qua. Được thanh toán thù lao khi tham gia các hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học theo quy định của đơn vị đào tạo. Được bồi hoàn học phí nếu nghiên cứu sinh không có lỗi nhưng do vi phạm của đơn vị đào tạo dẫn đến việc không được cấp bằng tiến sĩ. Được đề xuất với đơn vị đào tạo danh sách cán bộ hướng dẫn luận án; đề nghị thay cán bộ hướng dẫn luận án nếu sau 03 tháng kể từ khi nhận được quyết định giao đề tài và cử cán bộ hướng dẫn mà nghiên cứu sinh không liên hệ được với cán bộ hướng dẫn hoặc không được hướng dẫn thực hiện luận án. Được phản hồi ý kiến với người có thẩm quyền của đơn vị đào tạo về chương trình đào tạo, về việc giảng dạy của giảng viên và các hoạt động liên quan đến quá trình tuyển sinh, tổ chức và quản lý đào tạo tiến sĩ. Được tôn trọng và đối xử bình đẳng. Các quyền khác theo quy định của pháp luật.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Đơn vị đào tạo có trách nhiệm bồi hoàn học phí cho nghiên cứu sinh nếu nghiên cứu sinh không có lỗi nhưng do vi phạm của đơn vị đào tạo dẫn đến việc không được cấp bằng tiến sĩ."
}
],
"id": "36095",
"is_impossible": false,
"question": "Trách nhiệm của đơn vị đào tạo trong việc đảm bảo quyền lợi của nghiên cứu sinh về học phí được quy định như thế nào?"
}
]
}
],
"title": "Trách nhiệm của đơn vị đào tạo trong việc đảm bảo quyền lợi của nghiên cứu sinh về học phí được quy định như thế nào?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan Điều 39. Trách nhiệm và quyền hạn của đơn vị chuyên môn Giới thiệu nhân sự của tiểu ban chuyên môn xét tuyển nghiên cứu sinh và tạo điều kiện để tiểu ban chuyên môn thực hiện nhiệm vụ. Trình thủ trưởng đơn vị đào tạo quyết định các học phần trong chương trình đào tạo phù hợp với quy định tại Điều 16 của Quy chế này. Thông qua kế hoạch đào tạo đối với từng nghiên cứu sinh; quy định lịch làm việc của nghiên cứu sinh với người hướng dẫn, lịch báo cáo của nghiên cứu sinh với đơn vị chuyên môn về kết quả học tập, nghiên cứu trong năm. Tổ chức lấy ý kiến góp ý cho đề cương của nghiên cứu sinh; tổ chức sinh hoạt chuyên môn, báo cáo kết quả định kỳ cho nghiên cứu sinh; phân công nhiệm vụ trợ giảng, hỗ trợ đào tạo cho từng nghiên cứu sinh. Phối hợp với cán bộ hướng dẫn và đơn vị đào tạo tổ chức cho nghiên cứu sinh tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, hoạt động trợ giảng và hỗ trợ đào tạo. Giám sát, kiểm tra, tổ chức đánh giá việc thực hiện kế hoạch và kết quả học tập của nghiên cứu sinh; đề xuất thủ trưởng đơn vị đào tạo quyết định về việc tiếp tục học tập, thay đổi tên đề tài luận án, bổ sung hoặc thay đổi người hướng dẫn, kéo dài thời gian đào tạo, chuyển đơn vị đào tạo của nghiên cứu sinh. Đề xuất với thủ trưởng đơn vị đào tạo danh mục các tạp chí khoa học chuyên ngành trong và ngoài nước để nghiên cứu sinh công bố kết quả nghiên cứu; hướng dẫn và hỗ trợ nghiên cứu sinh công bố kết quả nghiên cứu. Tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án tại đơn vị chuyên môn; quyết định danh sách các nhà khoa học cần mời tham dự seminar đánh giá tổng thể luận án tại đơn vị chuyên môn cũng như các nhà khoa học tham gia tiểu ban chuyên môn đánh giá luận án theo quy định tại Điều 27 của Quy chế này. Định kỳ 06 tháng báo cáo thủ trưởng đơn vị đào tạo về tình hình học tập, nghiên cứu của nghiên cứu sinh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Đơn vị chuyên môn có vai trò giới thiệu nhân sự của tiểu ban chuyên môn xét tuyển nghiên cứu sinh và tạo điều kiện để tiểu ban chuyên môn thực hiện nhiệm vụ."
}
],
"id": "36096",
"is_impossible": false,
"question": "Em thắc mắc đơn vị chuyên môn có vai trò gì trong việc xét tuyển nghiên cứu sinh?"
}
]
}
],
"title": "Em thắc mắc đơn vị chuyên môn có vai trò gì trong việc xét tuyển nghiên cứu sinh?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 39. Trách nhiệm và quyền hạn của đơn vị chuyên môn Giới thiệu nhân sự của tiểu ban chuyên môn xét tuyển nghiên cứu sinh và tạo điều kiện để tiểu ban chuyên môn thực hiện nhiệm vụ. Trình thủ trưởng đơn vị đào tạo quyết định các học phần trong chương trình đào tạo phù hợp với quy định tại Điều 16 của Quy chế này. Thông qua kế hoạch đào tạo đối với từng nghiên cứu sinh; quy định lịch làm việc của nghiên cứu sinh với người hướng dẫn, lịch báo cáo của nghiên cứu sinh với đơn vị chuyên môn về kết quả học tập, nghiên cứu trong năm. Tổ chức lấy ý kiến góp ý cho đề cương của nghiên cứu sinh; tổ chức sinh hoạt chuyên môn, báo cáo kết quả định kỳ cho nghiên cứu sinh; phân công nhiệm vụ trợ giảng, hỗ trợ đào tạo cho từng nghiên cứu sinh. Phối hợp với cán bộ hướng dẫn và đơn vị đào tạo tổ chức cho nghiên cứu sinh tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, hoạt động trợ giảng và hỗ trợ đào tạo. Giám sát, kiểm tra, tổ chức đánh giá việc thực hiện kế hoạch và kết quả học tập của nghiên cứu sinh; đề xuất thủ trưởng đơn vị đào tạo quyết định về việc tiếp tục học tập, thay đổi tên đề tài luận án, bổ sung hoặc thay đổi người hướng dẫn, kéo dài thời gian đào tạo, chuyển đơn vị đào tạo của nghiên cứu sinh. Đề xuất với thủ trưởng đơn vị đào tạo danh mục các tạp chí khoa học chuyên ngành trong và ngoài nước để nghiên cứu sinh công bố kết quả nghiên cứu; hướng dẫn và hỗ trợ nghiên cứu sinh công bố kết quả nghiên cứu. Tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án tại đơn vị chuyên môn; quyết định danh sách các nhà khoa học cần mời tham dự seminar đánh giá tổng thể luận án tại đơn vị chuyên môn cũng như các nhà khoa học tham gia tiểu ban chuyên môn đánh giá luận án theo quy định tại Điều 27 của Quy chế này. Định kỳ 06 tháng báo cáo thủ trưởng đơn vị đào tạo về tình hình học tập, nghiên cứu của nghiên cứu sinh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Đơn vị chuyên môn có quyền thông qua kế hoạch đào tạo của từng nghiên cứu sinh, quy định lịch làm việc của nghiên cứu sinh với người hướng dẫn và lịch báo cáo kết quả học tập, nghiên cứu của nghiên cứu sinh trong năm."
}
],
"id": "36097",
"is_impossible": false,
"question": "Tôi muốn biết đơn vị chuyên môn có quyền hạn gì trong việc quyết định lịch làm việc và báo cáo của nghiên cứu sinh?"
}
]
}
],
"title": "Tôi muốn biết đơn vị chuyên môn có quyền hạn gì trong việc quyết định lịch làm việc và báo cáo của nghiên cứu sinh?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 39. Trách nhiệm và quyền hạn của đơn vị chuyên môn Giới thiệu nhân sự của tiểu ban chuyên môn xét tuyển nghiên cứu sinh và tạo điều kiện để tiểu ban chuyên môn thực hiện nhiệm vụ. Trình thủ trưởng đơn vị đào tạo quyết định các học phần trong chương trình đào tạo phù hợp với quy định tại Điều 16 của Quy chế này. Thông qua kế hoạch đào tạo đối với từng nghiên cứu sinh; quy định lịch làm việc của nghiên cứu sinh với người hướng dẫn, lịch báo cáo của nghiên cứu sinh với đơn vị chuyên môn về kết quả học tập, nghiên cứu trong năm. Tổ chức lấy ý kiến góp ý cho đề cương của nghiên cứu sinh; tổ chức sinh hoạt chuyên môn, báo cáo kết quả định kỳ cho nghiên cứu sinh; phân công nhiệm vụ trợ giảng, hỗ trợ đào tạo cho từng nghiên cứu sinh. Phối hợp với cán bộ hướng dẫn và đơn vị đào tạo tổ chức cho nghiên cứu sinh tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, hoạt động trợ giảng và hỗ trợ đào tạo. Giám sát, kiểm tra, tổ chức đánh giá việc thực hiện kế hoạch và kết quả học tập của nghiên cứu sinh; đề xuất thủ trưởng đơn vị đào tạo quyết định về việc tiếp tục học tập, thay đổi tên đề tài luận án, bổ sung hoặc thay đổi người hướng dẫn, kéo dài thời gian đào tạo, chuyển đơn vị đào tạo của nghiên cứu sinh. Đề xuất với thủ trưởng đơn vị đào tạo danh mục các tạp chí khoa học chuyên ngành trong và ngoài nước để nghiên cứu sinh công bố kết quả nghiên cứu; hướng dẫn và hỗ trợ nghiên cứu sinh công bố kết quả nghiên cứu. Tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án tại đơn vị chuyên môn; quyết định danh sách các nhà khoa học cần mời tham dự seminar đánh giá tổng thể luận án tại đơn vị chuyên môn cũng như các nhà khoa học tham gia tiểu ban chuyên môn đánh giá luận án theo quy định tại Điều 27 của Quy chế này. Định kỳ 06 tháng báo cáo thủ trưởng đơn vị đào tạo về tình hình học tập, nghiên cứu của nghiên cứu sinh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Đơn vị chuyên môn có trách nhiệm đề xuất danh mục các tạp chí khoa học chuyên ngành trong và ngoài nước để nghiên cứu sinh công bố kết quả nghiên cứu, đồng thời hướng dẫn và hỗ trợ nghiên cứu sinh trong việc công bố các kết quả nghiên cứu."
}
],
"id": "36098",
"is_impossible": false,
"question": "Đơn vị chuyên môn có trách nhiệm gì trong việc giúp nghiên cứu sinh công bố kết quả nghiên cứu?"
}
]
}
],
"title": "Đơn vị chuyên môn có trách nhiệm gì trong việc giúp nghiên cứu sinh công bố kết quả nghiên cứu?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "nan\nĐiều 39. Trách nhiệm và quyền hạn của đơn vị chuyên môn Giới thiệu nhân sự của tiểu ban chuyên môn xét tuyển nghiên cứu sinh và tạo điều kiện để tiểu ban chuyên môn thực hiện nhiệm vụ. Trình thủ trưởng đơn vị đào tạo quyết định các học phần trong chương trình đào tạo phù hợp với quy định tại Điều 16 của Quy chế này. Thông qua kế hoạch đào tạo đối với từng nghiên cứu sinh; quy định lịch làm việc của nghiên cứu sinh với người hướng dẫn, lịch báo cáo của nghiên cứu sinh với đơn vị chuyên môn về kết quả học tập, nghiên cứu trong năm. Tổ chức lấy ý kiến góp ý cho đề cương của nghiên cứu sinh; tổ chức sinh hoạt chuyên môn, báo cáo kết quả định kỳ cho nghiên cứu sinh; phân công nhiệm vụ trợ giảng, hỗ trợ đào tạo cho từng nghiên cứu sinh. Phối hợp với cán bộ hướng dẫn và đơn vị đào tạo tổ chức cho nghiên cứu sinh tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, hoạt động trợ giảng và hỗ trợ đào tạo. Giám sát, kiểm tra, tổ chức đánh giá việc thực hiện kế hoạch và kết quả học tập của nghiên cứu sinh; đề xuất thủ trưởng đơn vị đào tạo quyết định về việc tiếp tục học tập, thay đổi tên đề tài luận án, bổ sung hoặc thay đổi người hướng dẫn, kéo dài thời gian đào tạo, chuyển đơn vị đào tạo của nghiên cứu sinh. Đề xuất với thủ trưởng đơn vị đào tạo danh mục các tạp chí khoa học chuyên ngành trong và ngoài nước để nghiên cứu sinh công bố kết quả nghiên cứu; hướng dẫn và hỗ trợ nghiên cứu sinh công bố kết quả nghiên cứu. Tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án tại đơn vị chuyên môn; quyết định danh sách các nhà khoa học cần mời tham dự seminar đánh giá tổng thể luận án tại đơn vị chuyên môn cũng như các nhà khoa học tham gia tiểu ban chuyên môn đánh giá luận án theo quy định tại Điều 27 của Quy chế này. Định kỳ 06 tháng báo cáo thủ trưởng đơn vị đào tạo về tình hình học tập, nghiên cứu của nghiên cứu sinh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Đơn vị chuyên môn có vai trò giám sát, kiểm tra và tổ chức đánh giá việc thực hiện kế hoạch và kết quả học tập của nghiên cứu sinh."
}
],
"id": "36099",
"is_impossible": false,
"question": "Đơn vị chuyên môn có vai trò gì trong việc đánh giá kết quả học tập của nghiên cứu sinh?"
}
]
}
],
"title": "Đơn vị chuyên môn có vai trò gì trong việc đánh giá kết quả học tập của nghiên cứu sinh?"
} |
v2.0 | {
"paragraphs": [
{
"context": "Điều 39. Trách nhiệm và quyền hạn của đơn vị chuyên môn Giới thiệu nhân sự của tiểu ban chuyên môn xét tuyển nghiên cứu sinh và tạo điều kiện để tiểu ban chuyên môn thực hiện nhiệm vụ. Trình thủ trưởng đơn vị đào tạo quyết định các học phần trong chương trình đào tạo phù hợp với quy định tại Điều 16 của Quy chế này. Thông qua kế hoạch đào tạo đối với từng nghiên cứu sinh; quy định lịch làm việc của nghiên cứu sinh với người hướng dẫn, lịch báo cáo của nghiên cứu sinh với đơn vị chuyên môn về kết quả học tập, nghiên cứu trong năm. Tổ chức lấy ý kiến góp ý cho đề cương của nghiên cứu sinh; tổ chức sinh hoạt chuyên môn, báo cáo kết quả định kỳ cho nghiên cứu sinh; phân công nhiệm vụ trợ giảng, hỗ trợ đào tạo cho từng nghiên cứu sinh. Phối hợp với cán bộ hướng dẫn và đơn vị đào tạo tổ chức cho nghiên cứu sinh tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, hoạt động trợ giảng và hỗ trợ đào tạo. Giám sát, kiểm tra, tổ chức đánh giá việc thực hiện kế hoạch và kết quả học tập của nghiên cứu sinh; đề xuất thủ trưởng đơn vị đào tạo quyết định về việc tiếp tục học tập, thay đổi tên đề tài luận án, bổ sung hoặc thay đổi người hướng dẫn, kéo dài thời gian đào tạo, chuyển đơn vị đào tạo của nghiên cứu sinh. Đề xuất với thủ trưởng đơn vị đào tạo danh mục các tạp chí khoa học chuyên ngành trong và ngoài nước để nghiên cứu sinh công bố kết quả nghiên cứu; hướng dẫn và hỗ trợ nghiên cứu sinh công bố kết quả nghiên cứu. Tổ chức seminar đánh giá tổng thể luận án tại đơn vị chuyên môn; quyết định danh sách các nhà khoa học cần mời tham dự seminar đánh giá tổng thể luận án tại đơn vị chuyên môn cũng như các nhà khoa học tham gia tiểu ban chuyên môn đánh giá luận án theo quy định tại Điều 27 của Quy chế này. Định kỳ 06 tháng báo cáo thủ trưởng đơn vị đào tạo về tình hình học tập, nghiên cứu của nghiên cứu sinh.",
"qas": [
{
"answers": [
{
"answer_start": 0,
"text": "Đơn vị chuyên môn có trách nhiệm phân công nhiệm vụ trợ giảng và hỗ trợ đào tạo cho từng nghiên cứu sinh."
}
],
"id": "36100",
"is_impossible": false,
"question": "Đơn vị chuyên môn có trách nhiệm gì trong việc phân công trợ giảng và hỗ trợ đào tạo cho nghiên cứu sinh?"
}
]
}
],
"title": "Đơn vị chuyên môn có trách nhiệm gì trong việc phân công trợ giảng và hỗ trợ đào tạo cho nghiên cứu sinh?"
} |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.