Document ID: 46735

Title: CỦA TỔNG CỤC THỐNG KÊ SỐ 02/2000/TT-TCTK NGÀY 23 THÁNG 08 NĂM 2000 VỀ VIỆC SỬA ĐỔI QUY ĐỊNH TÍNH CHỈ TIÊU SẢN LƯỢNG LƯƠNG THỰC

Legal Basis:

Full Text:
[{"full_text": "Mục I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI SỬA ĐỔI. Sản lượng lương thực là chỉ tiêu kinh tế rất quan trọng phục vụ cho việc tính toán, cân đối sản xuất và tiêu dùng lương thực xã hội. Trong hơn 40 năm qua, phạm vi chỉ tiêu sản lượng lương thực không những bao gồm sản lượng thóc (lúa), ngô sản xuất mà còn cả sản lượng một số cây chất bột có củ (như: khoai lang, sắn, khoai mỡ, khoai sọ, khoai nước, khoai tây, dong riềng, củ từ, khoai lấy củ khác) qui đổi ra thóc theo những hệ số qui ước (1 kg thóc = 1 kg ngô hạt = 3 kg khoai lang tươi, sắn tươi = 5 kg dong riềng, khoai nước...). Việc quy định tính toán như trên, trong nột thời gian dài đã phục vụ cho các ngành, các cấp chỉ đạo sản xuất, đánh giá cân đối lương thực phù hợp điều kiện sản xuất tự cung, tự cấp theo cơ chế bao cấp khi nước ta còn thiếu lương thực. Đến nay, quy định này không còn phù hợp và cần thiết phải sửa đổi vì: Ở trong nước sau 15 năm đổi mới tình hình sản xuất, cân đối lương thực nước đã chuyển mạnh theo hướng sản xuất hàng hoá gắn với cơ chế thị trường, sản lượng thóc (lúa) sản xuất không những cung cấp đủ cho nhu cầu tiêu dùng, dự trữ trong nước mà còn dư thừa xuất khẩu ngày càng lớn. Từ đó, tập quán sử dụng lương thực của dân cư ở các địa phương đã có nhiều thay đổi: lương thực cho người chủ yếu là thóc (lúa) và ngô, còn các loại cây chất bột lấy củ trước đây dùng làm lương thực hỗ trợ cho người thì nay chủ yếu được dùng làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến (sắn cao sản dùng làm nguyên liệu sản xuất mỳ chính, dong riềng dùng để làm miến, chế biến thực phẩm,....) hoặc làm thức ăn cho gia súc (khoai lang, sắn, khoai nước,...). Cân đối lương thực trên phạm vi cả nước cũng chủ yếu tập trung vào thóc (lúa) và ngô là những sản phẩm có thể xuất khẩu và bảo quản lâu dài. Giá cả giữa thóc (lúa), các loại cây chất bột lấy củ cũng đã thay đổi khác trước hệ số qui đổi cũ không còn thích hợp. Chỉ tiêu sản lượng lương thực qui thóc theo quy định trước đây đã lạc hậu, không phục vụ được yêu cầu của Chính phủ cũng như các ngành, các địa phương trong cơ chế mới và không còn được quan tâm. Ở ngoài nước, thống kê của FAO (Tổ chức nông nghiệp và lương thực của Liên hợp quốc) và của các nước trên thế giới từ trước đến nay không dùng chỉ tiêu sản lượng lương thực qui thóc như nước ta. Do đó việc so sánh quốc tế giữa nước ta với các nước và Tổ chức quốc tế về các chỉ tiêu có liên quan đến sản lượng lương thực rất khó khăn, hạn chế tốc độ hội nhập của thống kê nước ta và thế giới. Xuất phát từ thực tế trên đây, từ năm 1997 đến nay, Tổng cục Thống kê đã phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan ở Trung ương nghiên cứu, trao đổi và đã đi đến thống nhất quan điểm và nội dung sửa đổi quy định về chỉ tiêu sản lượng lương thực. Được sự uỷ nhiệm của liên Bộ, Tổng cục Thống kê đã trình và xin ý kiến của Thủ trướng Chính phủ. Ngày 22 tháng 8 năm 2000 Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn đã có ý kiến chỉ đạo: Đồng ý cả về chủ trương và nội dung sửa đổi theo đề nghị của Tổng cục Thống kê, đồng thời bổ sung một số ý kiến cụ thể.", "header": "['Thông tư 02/2000/TT-TCTK sửa đổi quy định tính chỉ tiêu sản lượng lương thực do Tổng cục thống kê ban hành']", "len_tokenizer": 582, "lower_segmented_text": "mục i . sự cần_thiết phải sửa_đổi . sản_lượng lương_thực là chỉ_tiêu kinh_tế rất quan_trọng phục_vụ cho việc tính_toán , cân_đối sản_xuất và tiêu_dùng lương_thực xã_hội . trong hơn 40 năm qua , phạm_vi chỉ_tiêu sản_lượng lương_thực không_những bao_gồm sản_lượng thóc ( lúa ) , ngô sản_xuất mà còn cả sản_lượng một_số cây chất bột có củ ( như : khoai_lang , sắn , khoai_mỡ , khoai_sọ , khoai_nước , khoai_tây , dong_riềng , củ_từ , khoai lấy củ khác ) qui_đổi ra thóc theo những hệ_số qui_ước ( 1 kg thóc = 1 kg ngô hạt = 3 kg khoai_lang tươi , sắn tươi = 5 kg dong_riềng , khoai_nước ... ) . việc quy_định_tính_toán như trên , trong nột thời_gian dài đã phục_vụ cho các ngành , các cấp chỉ_đạo sản_xuất , đánh_giá cân_đối lương_thực phù_hợp điều_kiện sản_xuất tự cung , tự_cấp theo cơ_chế bao_cấp khi nước ta còn thiếu lương_thực . đến nay , quy_định này không còn phù_hợp và cần_thiết phải sửa_đổi vì : ở trong nước sau 15 năm đổi_mới tình_hình sản_xuất , cân_đối lương_thực nước đã chuyển mạnh theo hướng sản_xuất hàng_hoá gắn với cơ_chế thị_trường , sản_lượng thóc ( lúa ) sản_xuất không_những cung_cấp đủ cho nhu_cầu tiêu_dùng , dự_trữ trong nước mà còn dư_thừa xuất_khẩu ngày_càng lớn . từ đó , tập_quán sử_dụng lương_thực của dân_cư ở các địa_phương đã có nhiều thay_đổi : lương_thực cho người chủ_yếu là thóc ( lúa ) và ngô , còn các loại cây chất bột lấy củ trước đây dùng làm lương_thực hỗ_trợ cho người thì nay chủ_yếu được dùng làm nguyên_liệu cho ngành công_nghiệp chế_biến ( sắn cao_sản dùng làm nguyên_liệu sản_xuất mỳ chính , dong_riềng dùng để làm miến , chế_biến thực_phẩm , ... . ) hoặc làm thức_ăn cho gia_súc ( khoai_lang , sắn , khoai_nước , ... ) . cân_đối lương_thực trên phạm_vi cả nước cũng chủ_yếu tập_trung vào thóc ( lúa ) và ngô là những sản_phẩm có_thể xuất_khẩu và bảo_quản lâu_dài . giá_cả giữa thóc ( lúa ) , các loại cây chất bột lấy củ cũng đã thay_đổi khác trước hệ_số qui_đổi cũ không còn thích_hợp . chỉ_tiêu sản_lượng lương_thực qui thóc theo quy_định trước đây đã lạc_hậu , không phục_vụ được yêu_cầu của chính_phủ cũng như các ngành , các địa_phương trong cơ_chế mới và không còn được quan_tâm . ở ngoài nước , thống_kê của fao ( tổ_chức nông_nghiệp và lương_thực của liên_hợp quốc ) và của các nước trên thế_giới từ trước đến nay không dùng chỉ_tiêu sản_lượng lương_thực qui thóc như nước ta . do đó việc so_sánh quốc_tế giữa nước ta với các nước và tổ_chức quốc_tế về các chỉ_tiêu có liên_quan đến sản_lượng lương_thực rất khó_khăn , hạn_chế tốc_độ hội_nhập của thống_kê nước ta và thế_giới . xuất_phát từ thực_tế trên đây , từ năm 1997 đến nay , tổng_cục thống_kê đã phối_hợp với các bộ , ngành có liên_quan ở trung_ương nghiên_cứu , trao_đổi và đã đi đến thống_nhất quan_điểm và nội_dung sửa_đổi quy_định về chỉ_tiêu sản_lượng lương_thực . được sự uỷ_nhiệm của liên_bộ , tổng_cục thống_kê đã trình và xin ý_kiến của thủ trướng chính_phủ . ngày 22 tháng 8 năm 2000 phó thủ_tướng nguyễn công tạn đã có ý_kiến chỉ_đạo : đồng_ý cả về chủ_trương và nội_dung sửa_đổi theo đề_nghị của tổng_cục thống_kê , đồng_thời bổ_sung một_số ý_kiến cụ_thể .", "pointer_link": "['Mục I']"}, {"full_text": "Mục II. NỘI DUNG SỬA ĐỔI QUY ĐỊNH TÍNH CHỈ TIÊU SẢN LƯỢNG LƯƠNG THỰC. Tiếp thu ý kiến của liên Bộ và thực hiện nghiêm túc ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn, Tổng cục Thống kê quy định: Từ nay không tính toán và không sử dụng chỉ tiêu sản lượng lương thực quy thóc, thay vào đó sẽ tính toán và sử dụng chỉ tiêu sản lượng lương thực có hạt (cereals) với tên gọi, phạm vi và phương pháp tính như sau: - Tên gọi: Sản lượng lương thực có hạt. (Gọi tắt là sản lượng lương thực) - Phạm vi: Bao gồm sản lượng thóc (lúa), ngô, cao lương, kê, mỳ, mạch... - Phương pháp tính: Cộng giản đơn sản lượng các cây lương thực có hạt nói trên không quy đổi, với hình thái sản phẩm hạt khô, sạch. Các cây chất bột lấy củ (như: khoai lang, sắn, khoai mỡ, dong riềng, khoai nước, ....) vẫn được thống kê và xếp vào nhóm cây chất bột có củ, những sản lượng của nó không qui đổi để tính vào sản lượng lương thực như trước.", "header": "['Thông tư 02/2000/TT-TCTK sửa đổi quy định tính chỉ tiêu sản lượng lương thực do Tổng cục thống kê ban hành']", "len_tokenizer": 191, "lower_segmented_text": "mục ii . nội_dung sửa_đổi quy_định_tính chỉ_tiêu sản_lượng lương_thực . tiếp_thu ý_kiến của liên_bộ và thực_hiện nghiêm_túc ý_kiến chỉ_đạo của phó thủ_tướng nguyễn công tạn , tổng_cục thống_kê quy_định : từ nay không tính_toán và không sử_dụng chỉ_tiêu sản_lượng lương_thực quy thóc , thay vào đó sẽ tính_toán và sử_dụng chỉ_tiêu sản_lượng lương_thực có hạt ( cereals ) với tên gọi , phạm_vi và phương_pháp tính như sau : - tên gọi : sản_lượng lương_thực có hạt . ( gọi tắt là sản_lượng lương_thực ) - phạm_vi : bao_gồm sản_lượng thóc ( lúa ) , ngô , cao_lương , kê , mỳ , mạch ... - phương_pháp tính : cộng_giản_đơn sản_lượng các cây lương_thực có hạt nói trên không quy_đổi , với hình_thái sản_phẩm hạt khô , sạch . các cây chất bột lấy củ ( như : khoai_lang , sắn , khoai_mỡ , dong