Document ID: 453913

Title: VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Legal Basis:
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;

Full Text:
[{"full_text": "Mục I. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH. Thực hiện cam kết tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới năm 1992 ở Rio de Janerio, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Định hướng Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam) tại Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17 tháng 8 năm 2004. Phát triển bền vững trở thành quan điểm xuyên suốt trong chính sách của Đảng, Nhà nước và đã được lồng ghép trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, các Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2015 và 2016 - 2020. Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011- 2020 (Quyết định số 432/QĐ-TTg ngày 12 tháng 4 năm 2012). Tháng 9 năm 2015, tại Hội nghị Thượng đỉnh Liên hợp quốc về phát triển bền vững, các quốc gia trên thế giới đã thông qua Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững với 17 mục tiêu về phát triển bền vững. Nhằm cụ thể hóa Chương trình nghị sự 2030 tại Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững (Quyết định số 622/QĐ-TTg ngày 10 tháng 5 năm 2017), trong đó đã đề ra 17 mục tiêu phát triển bền vững với 115 mục tiêu cụ thể. Nhằm cụ thể hóa các mục tiêu, chỉ tiêu về phát triển bền vững, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 681/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2019 về lộ trình thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững Việt Nam đến năm 2030. Nhìn lại quá trình thực hiện phát triển bền vững trong thời gian qua, Việt Nam đã đạt được một số kết quả tích cực: (1) Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giảm bình quân 1,53%/năm trong giai đoạn 2016-2019; (2) Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi trên 1.000 trẻ đẻ sống giảm từ 22,1 năm 2015 xuống 21 năm 2019; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng từ 76,4% năm 2015 lên 90% năm 2019; (3) Tỷ lệ huy động trẻ em 5 tuổi đi học mẫu giáo đạt 99,9% năm 2019; tỷ lệ học sinh được công nhận hoàn thành chương trình tiểu học là 99,6% năm 2019; (4) Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội (nhiệm kỳ 2016 - 2021) là 26,7%; (5) Tỷ lệ hộ có nguồn nước hợp vệ sinh năm 2018 đạt 95,7%; (6) Hơn 99% các hộ gia đình Việt Nam đã được tiếp cận với điện năm 2018; (7) Tỷ lệ dân số sử dụng Internet là 65.9% (tương đương khoảng 64 triệu người) năm 2019; (8) Tăng trưởng GDP giai đoạn 2016 - 2019 đạt ở mức tương đối cao, trung bình khoảng 6,8%/năm, mức tăng năng suất lao động giai đoạn 2016 - 2018 đạt gần 5,8%; (9) Các vấn đề về quản lý tài nguyên và môi trường cũng đã được cải thiện, độ che phủ rừng tăng, đạt 41,89% năm 2019; (10) Giảm bất bình đẳng trong xã hội, thúc đẩy tiếp cận pháp lý và thông tin ngày càng được cải thiện hơn; mức độ hội nhập quốc tế của Việt Nam ngày càng sâu rộng và toàn diện, vị thế quốc tế ngày càng được nâng cao. Mặc dù vậy, quá trình phát triển bền vững của đất nước còn có những khó khăn, thách thức sau: Mô hình tăng trưởng vẫn chưa rõ nét, năng suất lao động tăng chủ yếu do tăng cường độ vốn, quá trình cơ cấu lại các ngành kinh tế vẫn còn nhiều hạn chế; chênh lệch mức sống và mức độ thụ hưởng các dịch vụ xã hội của người dân giữa các vùng và giữa các địa phương trong vùng vẫn còn lớn; khoa học và công nghệ vẫn chưa trở thành động lực cốt lõi của phát triển bền vững, vẫn còn thiếu các cơ chế, chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp thực hiện đổi mới và ứng dụng công nghệ; quy mô dân số vẫn tiếp tục gia tăng, cơ cấu dân số đã bước vào giai đoạn già hóa dân số, có sự khác biệt lớn về chỉ số sức khỏe giữa các vùng, miền, chất lượng dân số thấp, thể lực chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, bị hạn chế về chiều cao, cân nặng, sức bền; tình trạng ô nhiễm môi trường diễn biến phức tạp tại một số địa phương, đặc biệt là các vùng có mật độ phát triển công nghiệp cao, tình hình ô nhiễm môi trường ở một số nơi vẫn diễn biến phức tạp, xử lý vi phạm về môi trường còn nhiều bất cập; biến đổi khí hậu và thiên tai ảnh hưởng rất lớn đến các vùng miền, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trong khi đó, việc triển khai thực hiện phát triển bền vững tại các ngành và các cấp vẫn chưa thực sự nghiêm túc và quyết liệt; cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương và huy động sự tham gia của các bên liên quan chưa thực sự hiệu quả; nhu cầu tài chính cho thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030 là rất lớn nhưng nguồn lực của quốc gia còn hạn chế. Năm 2020 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là năm cuối của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2016 - 2020, tạo đà cho việc thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2021 - 2025 và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2021 - 2030. Năm 2020 cũng là năm chứng kiến đại dịch COVID-19 và tác động đa diện của nó trên toàn cầu, có nguy cơ gây ra khủng hoảng kinh tế, xã hội ở nhiều quốc gia, nhất là các nước đang phát triển và các nước chậm phát triển, làm tăng rủi ro không hoàn thành 17 mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) vào năm 2030 ở nhiều nước. Đại dịch cũng là một cơ hội để chúng ta suy nghĩ lại về con đường tăng trưởng kinh tế và tầm quan trọng của phát triển bền vững. Trong bối cảnh đó, Chính phủ ban hành Nghị quyết để thúc đẩy việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững trong các ngành, các cấp và các địa phương từ nay đến năm 2030.", "header": "['Nghị quyết 136/NQ-CP năm 2020 về phát triển bền vững do Chính phủ ban hành']", "len_tokenizer": 999, "lower_segmented_text": "mục i . đánh_giá tình_hình . thực_hiện cam_kết tại hội_nghị thượng_đỉnh thế_giới năm 1992 ở rio de janerio , thủ_tướng chính_phủ đã phê_duyệt định_hướng chiến_lược phát_triển bền_vững việt_nam ( chương_trình nghị_sự 21 của việt_nam ) tại quyết_định số 153 / 2004 / qđ - ttg ngày 17 tháng 8 năm 2004 . phát_triển bền_vững trở_thành quan_điểm xuyên suốt trong chính_sách của đảng , nhà_nước và đã được lồng_ghép trong chiến_lược phát_triển kinh_tế - xã_hội 2011 - 2020 , các kế_hoạch phát_triển kinh_tế - xã_hội 2011 - 2015 và 2016 - 2020 . thủ_tướng chính_phủ cũng đã ban_hành chiến_lược phát_triển bền_vững việt_nam giai_đoạn 2011 - 2020 ( quyết_định số 432 / qđ - ttg ngày 12 tháng 4 năm 2012 ) . tháng 9 năm 2015 , tại hội_nghị thượng_đỉnh liên_hợp quốc về phát_triển bền_vững , các quốc_gia trên thế_giới đã thông_qua chương_trình nghị_sự 2030 vì sự phát_triển bền_vững với 17 mục_tiêu về phát_triển bền_vững . nhằm cụ_thể_hóa chương_trình nghị_sự 2030 tại việt_nam , thủ_tướng chính_phủ đã ban_hành kế_hoạch hành_động quốc_gia thực_hiện chương_trình nghị_sự 2030 vì sự phát_triển bền_vững ( quyết_định số 622 / qđ - ttg ngày 10 tháng 5 năm 2017 ) , trong đó đã đề ra 17 mục_tiêu phát_triển bền_vững với 115 mục_tiêu cụ_thể . nhằm cụ_thể_hóa các mục_tiêu , chỉ_tiêu về phát_triển bền_vững , thủ_tướng chính_phủ đã ban_hành_quyết_định số 681 / qđ - ttg ngày 04 tháng 6 năm 2019 về lộ_trình thực_hiện các mục_tiêu phát_triển bền_vững việt_nam đến năm 2030 . nhìn lại quá_trình thực_hiện phát_triển bền_vững trong thời_gian qua , việt_nam đã đạt được một_số kết_quả tích_cực : ( 1 ) tỷ_lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa_chiều giảm bình_quân 1,53 % / năm trong giai_đoạn 2016 - 2019 ; ( 2 ) tỷ_suất tử_vong trẻ_em dưới 5 tuổi trên 1.000 trẻ đẻ sống giảm từ 22,1 năm 2015 xuống 21 năm 2019 ; tỷ_lệ bao_phủ bảo_hiểm y_tế tăng từ 76,4 % năm 2015 lên 90 % năm 2019 ; ( 3 ) tỷ_lệ huy_động trẻ_em 5 tuổi đi học mẫu_giáo đạt 99,9 % năm 2019 ; tỷ_lệ học_sinh được công_nhận hoàn_thành chương_trình tiểu_học là 99,6 % năm 2019 ; ( 4 ) tỷ_lệ nữ đại_biểu quốc_hội ( nhiệm_kỳ 2016 - 2021 ) là 26,7 % ; ( 5 ) tỷ_lệ hộ có nguồn nước hợp vệ_sinh năm 2018 đạt 95,7 % ; ( 6 ) hơn 99 % các hộ gia_đình việt_nam đã được tiếp_cận với điện năm 2018 ; ( 7 ) tỷ_lệ dân_số sử_dụng internet là 65.9 % ( tương_đương khoảng 64 triệu người ) năm 2019 ; ( 8 ) tăng_trưởng gdp giai_đoạn 2016 - 2019 đạt ở mức tương_đối cao , trung_bình khoảng 6,8 % / năm , mức tăng năng_suất lao_động giai_đoạn 2016 - 2018 đạt gần 5,8 % ; ( 9 ) các vấn_đề về quản_lý_tài_nguyên và môi_trường cũng đã được cải_thiện , độ che_phủ rừng tăng , đạt 41,89 % năm 2019 ; ( 10 ) giảm bất_bình_đẳng trong xã_hội , thúc_đẩy tiếp_cận pháp_lý và thông_tin ngày_càng được cải_thiện hơn ; mức_độ hội_nhập quốc_tế của việt nam ngày_càng sâu_rộng và toàn_diện , vị_thế quốc_tế ngày_càng được nâng cao . mặc_dù vậy , quá_trình phát_triển bền_vững của đấ