Document ID: 418800

Title: PHIÊN HỌP CHÍNH PHỦ THƯỜNG KỲ TRỰC TUYẾN VỚI CÁC ĐỊA PHƯƠNG THÁNG 6 NĂM 2019

Legal Basis:
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;
Căn cứ Nghị định số 138/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 2016 của Chính phủ ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ;

Full Text:
[{"full_text": "Điều 1. Về tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ; tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2019. Chính phủ thống nhất đánh giá: Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn rất phức tạp, khó lường; tăng trưởng kinh tế, thương mại, đầu tư toàn cầu suy giảm, nhờ sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, sự nỗ lực của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân cả nước, tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm tiếp tục chuyển biến tích cực. Tốc độ tăng trưởng GDP đạt 6,76%, cao hơn cùng kỳ giai đoạn 2011 - 2017; nổi bật là khu vực nông nghiệp, nỗ lực vượt khó, nhất là dịch tả lợn châu Phi và thời tiết nắng nóng, hạn hán; ngành thủy sản đạt 6,45%, cao nhất trong 9 năm gần đây; ngành chế biến, chế tạo tăng 11,18%; ngành khai khoáng tăng trưởng trở lại sau 3 năm giảm liên tục. Tổng cầu tiếp tục tăng mạnh, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,5%. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, chỉ số giá tiêu dùng bình quân 6 tháng tăng 2,64%, thấp nhất trong 3 năm qua; thanh khoản thị trường tài chính, tiền tệ được đảm bảo; tăng trưởng tín dụng và cơ Cấu tín dụng tích cực, đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 10,3%, trong đó vốn đầu tư khu vực ngoài nhà nước chiếm khoảng 43,6%, tăng 16,4%. Xuất khẩu hàng hóa ước đạt 122,4 tỷ USD, tăng 7,1%, xuất siêu 1,6 tỷ USD. Giải ngân vốn FDI đạt 9,1 tỷ USD, tăng 8,1%. Thu ngân sách nhà nước đạt 52,8% dự toán, tăng 13,2% so với cùng kỳ năm 2018. Môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện; tình hình sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng lạc quan; trong đó, đa số các doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo đánh giá tình hình sản xuất, kinh doanh quý II tốt hơn quý I và lạc quan hơn quý III/2019; chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) đứng thứ 2 trong ASEAN; chỉ số niềm tin người tiêu dùng đứng thứ 3 thế giới, số doanh nghiệp thành lập mới tăng 3,8%, số vốn đăng ký tăng 32,5% so với cùng kỳ. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường được chú trọng. Công tác an sinh xã hội được quan tâm thực hiện tốt. Đời sống của Nhân dân được cải thiện; số hộ thiếu đói giảm 30,9%. Tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm giảm; thu nhập của người lao động tăng. Khoa học công nghệ và hoạt động đổi mới sáng tạo có nhiều đóng góp tích cực. Xây dựng Chính phủ điện tử có bước tiến cả trong nhận thức và hành động. Quốc phòng, an ninh được tăng cường, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế đạt nhiều kết quả quan trọng, vai trò và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên. Bên cạnh kết quả đã đạt được, nước ta vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế và khó khăn, thách thức. Một số ngành, lĩnh vực động lực tăng trưởng có xu hướng chững lại; xuất khẩu một số mặt hàng nông sản chủ lực giảm. Giải ngân vốn đầu tư công chậm, đặc biệt là giải ngân vốn ODA. Sản xuất, kinh doanh ở một số ngành, lĩnh vực còn khó khăn, nhất là đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tình hình thời tiết, dịch bệnh diễn biến phức tạp, nhất là dịch bệnh tả lợn Châu Phi, nắng nóng kéo dài trên diện rộng, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của người dân; diện tích rừng bị thiệt hại tăng, vẫn còn nhiều vấn đề xã hội bất cập gây bức xúc dư luận chưa được giải quyết triệt để; cháy nổ, tai nạn giao thông nghiêm trọng xảy ra còn nhiều. Tinh thần, thái độ phục vụ của một bộ phận cán bộ, công chức còn lơ là, thiếu trách nhiệm... cần chấn chỉnh kịp thời trong thời gian tới. Trong bối cảnh tình hình thế giới biến động nhanh, phức tạp và tiềm ẩn nhiều rủi ro, thách thức, tăng trưởng kinh tế và thương mại toàn cầu suy giảm, căng thẳng thương mại diễn biến khó lường, tác động nhiều mặt đến nền kinh tế nước ta. Quan điểm chỉ đạo của Chính phủ là: Kiên quyết không lùi bước trước khó khăn, thách thức, kiên định với mục tiêu tăng trưởng và các chỉ tiêu, định hướng, nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra; tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được, nỗ lực vượt qua khó khăn, thách thức; không ngừng đổi mới, sáng tạo, quyết liệt hành động, quyết tâm phấn đấu hoàn thành toàn diện các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch năm 2019. Chính phủ đánh giá cao tinh thần làm việc chủ động, sát sao, chỉ đạo xử lý kịp thời, hiệu quả nhiều vấn đề thực tiễn phát sinh của các bộ, ngành, địa phương; đã có nhiều mô hình tốt, cách làm hiệu quả, những kinh nghiệm quý trong quản lý, điều hành cần tiếp tục nhân rộng để làm tốt hơn nữa trên phạm vi cả nước. Nhiệm vụ từ nay đến cuối năm còn rất nặng nề, Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tuyệt đối không được chủ quan trong chỉ đạo điều hành; theo dõi, đánh giá tình hình thế giới và trong nước, kịp thời có đối sách, giải pháp phù hợp; nghiêm túc quán triệt phương châm “Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, bứt phá, hiệu quả”; tiếp tục thực hiện đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra tại Nghị quyết số 01/NQ-CP , số 02/NQ-CP của Chính phủ; Chỉ thị 09/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản chỉ đạo, điều hành khác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; đồng thời bám sát kịch bản tăng trưởng; chú trọng triển khai thực hiện quyết liệt, hiệu quả các giải pháp tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng năm 2019 nêu tại Nghị quyết số 23/NQ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2019; trong đó tập trung thực hiện một số nội dung chủ yếu sau:\na) Các nhiệm vụ trọng tâm phát triển kinh tế - xã hội: - Từng Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải thể hiện tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng, Nhà nước và nhân dân, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, có giải pháp cụ thể khắc phục ngay tồn tại, hạn chế; thường xuyên theo dõi, linh hoạt ứng phó phù hợp với diễn biến tình hình quốc tế, trong nước; xác định rõ những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, cấp bách, chỉ đạo quyết liệt, cụ thể, tích cực huy động sự vào cuộc của hệ thống chính trị trong tổ chức triển khai nhiệm vụ, nỗ lực phấn đấu tạo chuyển biến mạnh mẽ, thực chất hơn nữa trong ngành, lĩnh vực, địa bàn phụ trách. - Các bộ, cơ quan: Kế hoạch và Đầu tư, Công Thương, Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phối hợp chặt chẽ, nâng cao hiệu quả công tác điều phối giữa các cơ quan điều hành kinh -tế vĩ mô; thường xuyên theo dõi, đánh giá, phân tích tình hình kinh tế thế giới và trong nước để có đối sách phù hợp, kịp thời, hiệu quả, không để bị động, bất ngờ. - Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì cùng các bộ, ngành, địa phương rà soát, cập nhật kịch bản tăng trưởng theo quý và cả năm của cả nước, của từng ngành, lĩnh vực, kịp thời chỉ đạo, điều hành phù hợp với diễn biến tình hình; tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch đầu tư công theo Nghị quyết số 70/NQ-CP ngày 03 tháng 8 năm 2017; khẩn trương hoàn thành việc giao, điều chỉnh kế hoạch vốn đầu tư công, bảo đảm trình tự, thủ tục theo quy định; kiên quyết điều chỉnh, cắt giảm vốn từ các dự án giải ngân thấp, chuyển sang dự án đang có nhu cầu bổ sung vốn. Tăng cường quản lý đấu thầu, đẩy nhanh triển khai đấu thầu qua mạng. Từng bộ, ngành, địa phương thành lập Tổ công tác rà soát, kiểm tra kiểm điểm rõ trách nhiệm gây chậm trễ trong việc thực hiện, giải ngân các dự án đầu tư công. Thực hiện nghiêm Chỉ thị số 18/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài. Tích cực chuẩn bị triển khai Luật đầu tư công vừa được Quốc hội thông qua. - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ động theo dõi, đánh giá tác động thị trường tài chính tiền tệ thế giới, triển khai các Công cụ của chính sách tiền tệ linh hoạt, ổn định thị trường ngoại tệ; phối hợp hài hòa với các chính sách tài khóa, bảo đảm mục tiêu kiểm soát lạm phát, củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô. Tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân trong tiếp cận vốn tín dụng phục vụ đầu tư, sản xuất, kinh doanh, góp phần hạn chế tín dụng đen. Triển khai mạnh mẽ các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt. Đẩy nhanh tiến độ cơ cấu lại các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu, nhất là đối với các ngân hàng thương mại yếu kém; tăng cường năng lực tài chính, quản trị, giám sát chặt chẽ hoạt động của các tổ chức tín dụng, bảo đảm an toàn hệ thống. Khẩn trương hoàn thiện, trình Chính phủ dự thảo Nghị định sửa đổi