Document ID: 194312

Title: VỀ CHỦ ĐỘNG ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Legal Basis:

Full Text:
[{"full_text": "Mục I. - TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN. Thời gian qua, công tác ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng tránh thiên tai, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đã được quan tâm, có bước chuyển biến và đạt được một số kết quả bước đầu quan trọng. Tuy nhiên, việc ứng phó với biến đổi khí hậu còn bị động, lúng túng; thiên tai ngày càng bất thường, gây nhiều thiệt hại về người và tài sản; tài nguyên chưa được quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả và bền vững, một số loại tài nguyên bị khai thác quá mức dẫn tới suy thoái, cạn kiệt; ô nhiễm môi trường vẫn tiếp tục gia tăng, có nơi nghiêm trọng; việc khắc phục hậu quả về môi trường do chiến tranh để lại còn chậm; đa dạng sinh học suy giảm, nguy cơ mất cân bằng sinh thái đang diễn ra trên diện rộng, ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội, sức khoẻ và đời sống nhân dân. Những hạn chế, yếu kém nêu trên có nguyên nhân khách quan, nhưng nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Nhận thức và tầm nhìn của các cấp uỷ, chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng về công tác này chưa đầy đủ, thiếu thống nhất, còn thiên về lợi ích kinh tế trước mắt, chưa coi trọng phát triển bền vững. Một số chủ trương của Đảng chưa được quán triệt và thể chế hoá đầy đủ, kịp thời. Hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ; một số cơ chế, chính sách chưa sát với thực tế, thiếu tính khả thi. Chất lượng công tác dự báo và quy hoạch còn nhiều hạn chế, chưa theo kịp yêu cầu phát triển, tính tổng thể, liên ngành, liên vùng; chưa rõ trọng tâm, trọng điểm và nguồn lực thực hiện. Tổ chức bộ máy, quản lý nhà nước và việc phân công, phân cấp, phối hợp giữa các bộ, ban, ngành, địa phương còn thiếu chặt chẽ; tổ chức thực hiện chưa thực sự chủ động, cương quyết; hiệu lực, hiệu quả thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm chưa cao. Chủ trương xã hội hoá chưa huy động được sự tham gia của các đoàn thể, hiệp hội, doanh nghiệp, cộng đồng và người dân.", "header": "['Nghị quyết 24-NQ/TW năm 2013 chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường do Ban chấp hành Trung ương ban hành']", "len_tokenizer": 326, "lower_segmented_text": "mục i . - tình_hình và nguyên_nhân . thời_gian qua , công_tác ứng_phó với biến_đổi khí_hậu , phòng_tránh thiên_tai , quản_lý_tài_nguyên và bảo_vệ môi_trường đã được quan_tâm , có bước chuyển_biến và đạt được một_số kết_quả bước_đầu quan_trọng . tuy_nhiên , việc ứng_phó với biến_đổi khí_hậu còn bị_động , lúng_túng ; thiên_tai ngày_càng bất_thường , gây nhiều thiệt_hại về người và tài_sản ; tài_nguyên chưa được quản_lý , khai_thác , sử_dụng có hiệu_quả và bền_vững , một_số loại tài_nguyên bị khai_thác quá mức dẫn tới suy_thoái , cạn_kiệt ; ô_nhiễm môi_trường vẫn tiếp_tục gia_tăng , có nơi nghiêm_trọng ; việc khắc_phục hậu_quả về môi_trường do chiến_tranh để lại còn chậm ; đa_dạng sinh_học suy_giảm , nguy_cơ mất cân_bằng sinh_thái đang diễn ra trên diện rộng , ảnh_hưởng tiêu_cực đến phát_triển kinh_tế - xã_hội , sức_khoẻ và đời_sống nhân_dân . những hạn_chế , yếu_kém nêu trên có nguyên_nhân khách_quan , nhưng nguyên_nhân chủ_quan là chủ_yếu . nhận_thức và tầm nhìn của các cấp_uỷ , chính_quyền , doanh_nghiệp và cộng_đồng về công_tác này chưa đầy_đủ , thiếu thống_nhất , còn thiên về lợi_ích kinh_tế trước_mắt , chưa coi_trọng phát_triển bền_vững . một_số chủ_trương của đảng chưa được quán_triệt và thể_chế hoá đầy_đủ , kịp_thời . hệ_thống pháp_luật thiếu đồng_bộ ; một_số cơ_chế , chính_sách chưa sát với thực_tế , thiếu tính khả_thi . chất_lượng công_tác dự_báo và quy_hoạch còn nhiều hạn_chế , chưa theo kịp yêu_cầu phát_triển , tính tổng_thể , liên_ngành , liên vùng ; chưa rõ trọng_tâm , trọng_điểm và nguồn_lực thực_hiện . tổ_chức bộ_máy , quản_lý nhà_nước và việc phân_công , phân_cấp , phối_hợp giữa các bộ , ban , ngành , địa_phương còn thiếu chặt_chẽ ; tổ_chức thực_hiện chưa thực_sự chủ_động , cương_quyết ; hiệu_lực , hiệu_quả thanh_tra , kiểm_tra , giám_sát , xử_lý vi_phạm chưa cao . chủ_trương xã_hội_hoá chưa huy_động được sự tham_gia của các đoàn_thể , hiệp_hội , doanh_nghiệp , cộng_đồng và người dân .", "pointer_link": "['Mục I']"}, {"full_text": "Mục II. - QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU. 1- Quan điểm - Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường là những vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có tầm ảnh hưởng lớn, quan hệ, tác động qua lại, cùng quyết định sự phát triển bền vững của đất nước; là cơ sở, tiền đề cho hoạch định đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và an sinh xã hội. Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị; là trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự tham gia, giám sát của toàn xã hội. - Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường phải trên cơ sở phương thức quản lý tổng hợp và thống nhất, liên ngành, liên vùng. Vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa bảo đảm lợi ích lâu dài, trong đó lợi ích lâu dài là cơ bản. Vừa bảo đảm toàn diện, vừa phải có trọng tâm, trọng điểm; có bước đi phù hợp trong từng giai đoạn; dựa vào nội lực là chính, đồng thời phát huy hiệu quả nguồn lực hỗ trợ và kinh nghiệm quốc tế. - Biến đổi khí hậu là vấn đề toàn cầu, là thách thức nghiêm trọng đối với toàn nhân loại trong thế kỷ 21. Ứng phó với biến đổi khí hậu phải được đặt trong mối quan hệ toàn cầu; không chỉ là thách thức mà còn tạo cơ hội thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng phát triển bền vững. Phải tiến hành đồng thời thích ứng và giảm nhẹ, trong đó thích ứng với biến đổi khí hậu, chủ động phòng, tránh thiên tai là trọng tâm. - Tài nguyên là tài sản quốc gia, là nguồn lực, nguồn vốn tự nhiên đặc biệt quan trọng để phát triển đất nước. Tài nguyên phải được đánh giá đầy đủ các giá trị, định giá, hạch toán trong nền kinh tế, được quản lý, bảo vệ chặt chẽ; khai thác, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả và bền vững, gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh tài nguyên. Chú trọng phát triển, sử dụng năng lượng tái tạo, vật liệu mới, tái chế. - Môi trường là vấn đề toàn cầu. Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu vừa là một nội dung cơ bản của phát triển bền vững. Tăng cường bảo vệ môi trường phải theo phương châm ứng xử hài hoà với thiên nhiên, theo quy luật tự nhiên, phòng ngừa là chính; kết hợp kiểm soát, khắc phục ô nhiễm, cải thiện môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; lấy bảo vệ sức khoẻ nhân dân làm mục tiêu hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng. Đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững. 2- Mục tiêu\na) Mục tiêu tổng quát - Đến năm 2020, về cơ bản, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng tránh thiên tai, giảm phát thải khí nhà kính; có bước chuyển biến cơ bản trong khai thác, sử dụng tài nguyên theo hướng hợp lý, hiệu quả và bền vững, kiềm chế mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học nhằm bảo đảm chất lượng môi trường sống, duy trì cân bằng sinh thái, hướng tới nền kinh tế xanh, thân thiện với môi trường. - Đến năm 2050, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả và bền vững tài nguyên; bảo đảm chất lượng môi trường sống và cân bằng sinh thái, phấn đấu đạt các chỉ tiêu về môi trường tương đương với mức hiện nay của các nước công nghiệp phát triển trong khu vực.\nb) Mục tiêu cụ thể đến năm 2020 - Về ứng phó với biến đổi khí hậu : Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai, giám sát biến đổi khí hậu của các cơ quan chuyên môn. Hình thành cho mỗi thành viên trong xã hội ý thức chủ động phòng, tránh thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu. Giảm dần thiệt hại về người, tài sản do thiên tai gây ra. Chủ động phòng, chống, hạn chế tác động của triều cường, ngập lụt, xâm nhập mặn do nước biển dâng đối với vùng ven biển, nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng, ven biển miền Trung, trước hết là khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Cà Mau và các thành phố ven biển khác. Giảm mức phát thải khí nhà kính trên đơn vị GDP từ 8 - 10% so với năm 2010. - Về quản lý tài nguyên : Đánh giá được tiềm năng, giá trị của các