Document ID: 37208

Title: CỦA BỘ THUỶ SẢN SỐ 4-TS/TT NGÀY 23-10-1986 HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN QUYẾT ĐỊNH CỦA CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 151-CT NGÀY 21-6-1986 VỀ TỔ CHỨC LẠI SẢN XUẤT NGHỀ CÁ TRÊN CÁC NGƯ TRƯỜNG

Legal Basis:

Full Text:
[{"full_text": "Mục I. - PHÂN BỐ CÁC NGƯ TRƯỜNG. Từ những đặc điểm tự nhiên, nguồn lợi, tập quán sản xuất và phân bố lực lượng sản xuất, biển Việt Nam phân ra bốn vùng là vùng biển Vịnh Bắc bộ, vùng biển Trung bộ, vùng biển đông tây Nam bộ và vùng biển khơi.\n1. Tổ chức điều tra. ở vùng biển gần địa phương mình, Sở Thuỷ sản cần phối hợp với các viện nghiên cứu để điều tra các đối tượng đánh bắt có giá trị kinh tế, phục vụ nội địa và xuất khẩu, nhằm bổ sung mức độ chính xác và làm phong phú thêm tài liệu đã có. Đồng thời, kết hợp với tầu thuyền sản xuất, khôi phục lại chế độ điều tra, khảo sát để xác định chính xác các bãi tôm, cá và sự biến động của chúng. Giao cho Viện nghiên cứu hải sản Hải Phòng hàng năm lập kế hoạch hướng dẫn phối hợp tiếp tục nghiên cứu, điều tra nguồn lợi thuỷ sản. Dưới sự hướng dẫn của Bộ Thuỷ sản và sự chỉ đạo trực tiếp của Sở Thuỷ sản các huyện ven biển phải tổ chức điều tra vùng eo, vịnh, cửa lạch, đầm phá, bãi ngang ven biển để lập quy hoạch, kế hoạch tận dụng mặt nước, đắp đầm nuôi tôm, trồng rong câu phục vụ xuất khẩu.\n2. Công tác dự báo ngư trường. Vào trung tuần hàng tháng Viện nghiên cứu hải sản Hải Phòng có nhiệm vụ dự báo cho tháng sau về khu vực phân bố, mức khai thác, khả năng xuất hiện các đối tượng đánh bắt trên các vùng biển và trên các ngư trường chính. Các Sở Thuỷ sản, các quốc doanh khai thác hải sản, căn cứ vào dự báo chung, kết hợp với điều tra và kết quả sản xuất thực tế, để tổ chức dự báo trên các ngư trường của địa phương mình. Ngoài dự báo hàng tháng, Viện nghiên cứu hải sản Hải phòng có nhiệm vụ tiến hành dự báo dài hạn từ 3 đến 6 tháng về xu thế phân bố, biến động, mật độ khai thác... các đối tượng đánh bắt chủ yếu ở các vùng biển, nhất là trên các ngư trường chính.\n3. Khôi phục, duy trì chế độ báo cáo định kỳ sản xuất và ngư trường. Cùng với báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh hàng tháng; Sở Thuỷ sản, các đơn vị trực thuộc Bộ có nhiệm vụ thường xuyên báo cáo Bộ về diễn biến của các đối tượng đánh bắt địa phương, đơn vị mình; những nguyên nhân tác động đến diễn biến ngư trường, nguồn lợi... Vụ khai thác bảo vệ Bộ Thuỷ sản có trách nhiệm đôn đốc nhắc nhở các Sở Thuỷ sản, các đơn vị báo cáo theo định kỳ. Đồng thời, cùng với Viện nghiên cứu hải sản Hải Phòng tập hợp, xử lý các số liệu để thông báo nhanh tình hình ngư trường đến các địa phương và giúp cho việc dự báo ngư trường chính xác hơn.\n4. Vùng biển khơi là vùng biển sâu, nằm phía ngoài các giới hạn quy định của các vùng biển trên.", "header": "['Thông tư 4-TS/TT hướng dẫn Quyết định 151-CT-1986 về tổ chức lại sản xuất nghề cá trên các ngư trường do Bộ thủy sản ban hành']", "len_tokenizer": 442, "lower_segmented_text": "mục i . - phân_bố các ngư_trường . từ những đặc_điểm tự_nhiên , nguồn lợi , tập_quán sản_xuất và phân_bố lực_lượng sản_xuất , biển việt nam phân ra bốn vùng là vùng_biển vịnh bắc bộ , vùng_biển trung bộ , vùng_biển đông tây nam bộ và vùng_biển khơi . \n 1 . tổ_chức điều_tra . ở vùng_biển gần địa_phương mình , sở thuỷ_sản cần phối_hợp với các viện nghiên_cứu để điều_tra các đối_tượng đánh_bắt có giá_trị kinh_tế , phục_vụ nội_địa và xuất_khẩu , nhằm bổ_sung mức_độ chính_xác và làm phong_phú thêm tài_liệu đã có . đồng_thời , kết_hợp với tầu thuyền sản_xuất , khôi_phục lại chế_độ điều_tra , khảo_sát để xác_định chính_xác các bãi tôm , cá và sự_biến_động của chúng . giao cho viện nghiên_cứu hải_sản hải phòng hàng năm lập kế_hoạch hướng_dẫn phối_hợp tiếp_tục nghiên_cứu , điều_tra nguồn lợi thuỷ_sản . dưới sự hướng_dẫn của bộ thuỷ_sản và sự chỉ_đạo trực_tiếp của sở thuỷ_sản các huyện ven biển phải tổ_chức điều_tra vùng eo , vịnh , cửa lạch , đầm_phá , bãi ngang ven biển để lập quy_hoạch , kế_hoạch tận_dụng mặt_nước , đắp đầm nuôi tôm , trồng rong câu phục_vụ xuất_khẩu . \n 2 . công_tác dự_báo ngư_trường . vào trung_tuần hàng tháng viện nghiên_cứu hải_sản hải phòng có nhiệm_vụ dự_báo cho tháng sau về khu_vực phân_bố , mức khai_thác , khả_năng xuất_hiện các đối_tượng đánh_bắt trên các vùng_biển và trên các ngư_trường chính . các sở thuỷ_sản , các quốc_doanh khai_thác hải_sản , căn_cứ vào dự_báo chung , kết_hợp với điều_tra và kết_quả sản_xuất thực_tế , để tổ_chức dự_báo trên các ngư_trường của địa_phương mình . ngoài dự_báo hàng tháng , viện nghiên_cứu hải_sản hải phòng có nhiệm_vụ tiến_hành dự_báo dài_hạn từ 3 đến 6 tháng về xu_thế phân_bố , biến_động , mật_độ khai_thác ... các đối_tượng đánh_bắt chủ_yếu ở các vùng_biển , nhất là trên các ngư_trường chính . \n 3 . khôi_phục , duy_trì chế_độ báo_cáo định_kỳ sản_xuất và ngư_trường . cùng với báo_cáo tình_hình thực_hiện kế_hoạch sản_xuất , kinh_doanh hàng tháng ; sở thuỷ_sản , các đơn_vị trực_thuộc bộ có nhiệm_vụ thường_xuyên báo_cáo bộ về diễn_biến của các đối_tượng đánh_bắt địa_phương , đơn_vị mình ; những nguyên_nhân tác_động đến diễn_biến ngư_trường , nguồn lợi ... vụ khai_thác bảo_vệ bộ thuỷ_sản có trách_nhiệm đôn_đốc nhắc_nhở các sở thuỷ_sản , các đơn_vị báo_cáo theo định_kỳ . đồng_thời , cùng với viện nghiên_cứu hải_sản hải phòng tập_hợp , xử_lý các số_liệu để thông_báo nhanh tình_hình ngư_trường đến các địa_phương và giúp cho việc dự_báo ngư_trường chính_xác hơn . \n 4 . vùng_biển khơi là vùng_biển sâu , nằm phía ngoài các giới_hạn quy_định của các vùng_biển trên .", "pointer_link": "['Mục I']"}, {"full_text": "Mục II. - PHÂN TUYẾN SẢN XUẤT. Trên cơ sở cơ cấu nghề nghiệp, khả năng hoạt động của tầu thuyền và tập quán sản xuất; các ngư trường hiện đang khai thác chia làm 3 tuyến là tuyến bờ, tuyến lộng và tuyến khơi.\n2. Khai thác hải sản.\na) Đối với quốc doanh khai thác hải sản, nhanh chóng củng cố, kiện toàn tổ chức để làm tốt vai trò chủ đạo của quốc doanh đối với nghề cá: - Sắp xếp lại đội tầu khai thác hiện có. Những tầu không còn khả năng đánh bắt, chuyển sang làm hậu cần dịch vụ, vận tải sản phẩm thuỷ sản trên biển. Những tầu sức kéo giảm, chuyển sang các nghề đánh cá nổi hoặc kéo tôm... - Xây dựng cơ cấu nghề nghiệp hợp lý để bảo đảm khai thác tốt trên tuyến lộng, tuyến khơi. Đẩy mạnh việc làm kiêm nghề để khai thác cả cá đáy lẫn cá nổi và đặc sản. - Làm nòng cốt trong việc chỉ huy, chỉ đạo khai thác, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật. - Các xí nghiệp khai thác hải sản của Trung ương, địa phương thông qua hình thức liên doanh, liên kết để sử dụng, bố trí hợp lý đội tầu của mình, vừa làm nhiệm vụ khai thác, vừa làm hậu cần dịch vụ cho lực lượng ngư dân tại chỗ, một phần cho ngư dân các nơi khác di chuyển theo mùa vụ để thu gọn sản phẩm.\nb) Nghề cá nhân dân hiện nay và trong những năm tới vẫn chiếm vị trí quan trọng trong sản xuất nghề cá. Vì thế, đòi hỏi phải nhanh chóng tổ chức lại sản xuất, trước mắt trên những ngư trường chính nhằm tăng dần sản lượng đánh bắt hàng năm. Tổ chức lại sản xuất nghề cá nhân dân bao gồm những vấn đề chủ yếu sau: - Cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng quan hệ sản xuất mới nhằm bảo đảm cho nghề cá phát triển vững chắc trên cơ sở tăng sản lượng đánh bắt, tăng tích luỹ và tăng thu nhập cho hợp tác xã, tập đoàn sản xuất. Trong cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng quan hệ sản xuất mới, cần chỉ đạo tốt các nội dung về hình thức và bước đi của hợp tác xã, tập đoàn sản xuất; quy mô tổ chức thích hợp. Đồng thời, xác định phương hướng sản xuất và cơ cấu nghề nghiệp phù hợp với điều kiện tự nhiên, nguồn lợi, tập quán của địa phương. Ngoài ra, ở mỗi hợp tác xã, tập đoàn sản xuất cần kiện toàn lại lực lượng đánh bắt, hậu cần dịch vụ của mình để có kế hoạch tổ chức, đăng ký lực lượng di chuyển sản xuất theo mùa vụ trên các ngư trường hàng năm, theo hướng dẫn của Bộ Thuỷ sản và Sở Thuỷ sản. - Để khắc phục tình trạng cơ cấu nghề nghiệp chưa hợp lý, các địa phương cần xây dựng cơ cấu nghề nghiệp mới theo phương hướng sau: Vùng biển vịnh Bắc Bộ, giảm dần số lượng nghề vó ánh sáng từ 600 - 700 và hiện nay xuống còn khoảng 300 - 350 vàng trong năm tới. Phục hồi và phát triển nghề rê - thu, câu vàng, kéo cá thủ công và kéo tôm... Vùng biển Trung bộ, giảm dần các nghề lưới cao, quát, rùng, xăm bãi là các nghề khai thác cá con, năng suất vùng ven bờ. Tăng cường phát triển các nghề khai thác vùng xa bờ như rê chuồn, cán khơi, lưới vây, rút chì và nghề câu vàng... Vùng biển đông và tây Nam bộ, tăng cường đầu tư nghề lưới kéo cá ở vùng biển có