Document ID: 408619

Title: VỀ MỘT SỐ NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM PHÁT TRIỂN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ GIAI ĐOẠN 2019 - 2020, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN 2025

Legal Basis:
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;

Full Text:
[{"full_text": "Mục I. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH. Trong những năm qua, Đảng, Chính phủ luôn quan tâm, coi trọng phát triển ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng Chính phủ điện tử trong hoạt động của cơ quan nhà nước và phục vụ người dân, doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, các bộ, ngành, địa phương đã có nhiều cố gắng và đạt được những kết quả bước đầu trong triển khai xây dựng Chính phủ điện tử, như: ban hành theo thẩm quyền, trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy định, hướng dẫn để hoàn thiện hành lang pháp lý, thúc đẩy việc xây dựng Chính phủ điện tử; xây dựng và đưa vào vận hành Cơ sở dữ liệu quốc gia về Đăng ký doanh nghiệp, từng bước triển khai xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về Bảo hiểm, Cơ sở dữ liệu Đất đai quốc gia, Cơ sở dữ liệu quốc gia về Dân cư; đã cung cấp một số dịch vụ công trực tuyến thiết yếu cho doanh nghiệp và người dân như: đăng ký doanh nghiệp, kê khai thuế, nộp thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội...; một số bộ, ngành đã xử lý hồ sơ công việc trên môi trường mạng; tại một số địa phương, hệ thống thông tin một cửa điện tử được đưa vào vận hành, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm của đội ngũ công chức; chất lượng nhân lực về công nghệ thông tin của Việt Nam cũng được nâng cao. Theo Báo cáo đánh giá về Chính phủ điện tử của Liên hợp quốc, năm 2016, Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử (EGDI) của Việt Nam xếp hạng thứ 89/193 quốc gia, tăng 10 bậc, trong đó chỉ số thành phần về dịch vụ công trực tuyến (OSI) tăng 08 bậc, lên thứ hạng 74/193 quốc gia (so với năm 2014); đến năm 2018, Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử của Việt Nam xếp hạng thứ 88/193 quốc gia, tăng 01 bậc, trong đó chỉ số thành phần về dịch vụ công trực tuyến (OSI) tăng 15 bậc, lên thứ hạng 59/193 quốc gia (so với năm 2016). Bên cạnh đó, nhiều nội dung triển khai Chính phủ điện tử chưa được như mong đợi, kết quả đạt được vẫn còn rất khiêm tốn như: xếp hạng về Chính phủ điện tử còn thấp, dưới mức trung bình trong ASEAN, chỉ số hạ tầng viễn thông (TII) giảm 10 bậc, xuống thứ hạng thứ 100/193 quốc gia (so với năm 2016); đặc biệt, còn thiếu khung pháp lý đồng bộ về xây dựng Chính phủ điện tử; việc xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia, hạ tầng công nghệ thông tin nền tảng phục vụ phát triển Chính phủ điện tử còn chậm, bảo mật, an toàn, an ninh thông tin thấp, chưa kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống thông tin; cơ chế đầu tư, thuê dịch vụ công nghệ thông tin vẫn còn vướng mắc; ứng dụng công nghệ thông tin được triển khai chưa hiệu quả, việc giải quyết thủ tục hành chính và xử lý hồ sơ công việc còn phụ thuộc nhiều vào giấy tờ, thủ công; tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến còn rất thấp. Nguyên nhân chủ yếu của vấn đề trên là do chưa phát huy vai trò của người đứng đầu trong chỉ đạo thực hiện; cơ chế bảo đảm thực thi nhiệm vụ xây dựng Chính phủ điện tử chưa đủ mạnh, các cấp, các ngành chưa xác định rõ lộ trình và các mục tiêu cụ thể trong triển khai; còn thiếu khung pháp lý đồng bộ về xây dựng Chính phủ điện tử; thiếu cơ chế tài chính và đầu tư phù hợp với đặc thù dự án công nghệ thông tin; thiếu quy định cụ thể về định danh, xác thực cá nhân, tổ chức trong giao dịch điện tử; thiếu các quy định pháp lý về văn thư, lưu trữ điện tử; nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống thông tin của cơ quan hành chính nhà nước chậm được triển khai; tình trạng cát cứ thông tin, dữ liệu còn phổ biến dẫn đến trùng lặp, không thống nhất; việc bảo đảm an toàn, an ninh cho các hệ thống thông tin của các cơ quan nhà nước còn chưa được quan tâm đúng mức; nhiều bộ, ngành, địa phương còn coi nhẹ ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý, điều hành; việc triển khai còn mang tính hình thức, thói quen thủ công, giấy tờ chưa được khắc phục; còn thiếu gắn kết chặt chẽ giữa ứng dụng công nghệ thông tin với cải cách hành chính và đổi mới lề lối, phương thức làm việc; chưa chú trọng công tác truyền thông và huy động tối đa nguồn lực xã hội trong xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử... Để tiếp tục kế thừa, phát huy những thành quả đạt được, khắc phục những hạn chế, tồn tại nêu trên, đáp ứng các mục tiêu, yêu cầu của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong thời gian tới, từng bước hiện thực hóa quyết tâm xây dựng Chính phủ kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động, phục vụ người dân, doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc xây dựng, ban hành Nghị quyết của Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019 - 2020, định hướng đến 2025 là yêu cầu cấp thiết.", "header": "['Nghị quyết 17/NQ-CP năm 2019 về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019-2020, định hướng đến 2025 do Chính phủ ban hành']", "len_tokenizer": 784, "lower_segmented_text": "mục i . đánh_giá tình_hình . trong những năm qua , đảng , chính_phủ luôn quan_tâm , coi_trọng phát_triển ứng_dụng công_nghệ thông_tin , xây_dựng chính_phủ điện_tử trong hoạt_động của cơ_quan nhà_nước và phục_vụ người dân , doanh_nghiệp . trên cơ_sở đó , các bộ , ngành , địa_phương đã có nhiều cố_gắng và đạt được những kết_quả bước_đầu trong triển_khai xây_dựng chính_phủ điện_tử , như : ban_hành theo thẩm_quyền , trình cấp có thẩm_quyền ban_hành các văn_bản quy_định , hướng_dẫn để hoàn_thiện hành_lang pháp_lý , thúc_đẩy việc xây_dựng chính_phủ điện_tử ; xây_dựng và đưa vào vận_hành cơ_sở dữ_liệu quốc_gia về đăng_ký doanh_nghiệp , từng bước triển_khai xây_dựng cơ_sở dữ_liệu quốc_gia về bảo_hiểm , cơ_sở dữ_liệu đất_đai quốc_gia , cơ_sở dữ_liệu quốc_gia về dân_cư ; đã cung_cấp một_số dịch_vụ công trực_tuyến thiết_yếu cho doanh_nghiệp và người dân như : đăng_ký doanh_nghiệp , kê_khai thuế , nộp thuế , hải_quan , bảo_hiểm xã_hội ... ; một_số bộ , ngành đã xử_lý hồ_sơ công_việc trên môi_trường mạng ; tại một_số địa_phương , hệ_thống thông_tin một cửa điện_tử được đưa vào vận_hành , nâng cao tính minh_bạch và trách_nhiệm của đội_ngũ công_chức ; chất_lượng nhân_lực về công_nghệ thông_tin của việt_nam cũng được nâng cao . theo báo_cáo đánh_giá về chính_phủ điện_tử của liên_hợp quốc , năm 2016 , chỉ_số phát_triển chính_phủ điện_tử ( egdi ) của việt nam xếp_hạng thứ 89 / 193 quốc_gia , tăng 10 bậc , trong đó chỉ_số_thành_phần về dịch_vụ công trực_tuyến ( osi ) tăng 08 bậc , lên thứ hạng 74 / 193 quốc_gia ( so với năm 2014 ) ; đến năm 2018 , chỉ_số phát_triển chính_phủ điện_tử của việt nam xếp_hạng thứ 88 / 193 quốc_gia , tăng 01 bậc , trong đó chỉ_số_thành_phần về dịch_vụ công trực_tuyến ( osi ) tăng 15 bậc , lên thứ hạng 59 / 193 quốc_gia ( so với năm 2016 ) . bên cạnh đó , nhiều nội_dung triển_khai chính_phủ điện_tử chưa được như mong_đợi , kết_quả đạt được vẫn còn rất khiêm_tốn như : xếp_hạng về chính_phủ điện_tử còn thấp , dưới mức trung_bình trong asean , chỉ_số hạ_tầng viễn_thông ( tii ) giảm 10 bậc , xuống thứ hạng thứ 100 / 193 quốc_gia ( so với năm 2016 ) ; đặc_biệt , còn thiếu khung pháp_lý đồng_bộ về xây_dựng chính_phủ điện_tử ; việc xây_dựng các cơ_sở dữ_liệu quốc_gia , hạ_tầng công_nghệ thông_tin nền_tảng phục_vụ phát_triển chính_phủ điện_tử còn chậm , bảo_mật , an_toàn , an_ninh thông_tin thấp , chưa kết_nối , chia_sẻ dữ_liệu giữa các hệ_thống thông_tin ; cơ_chế đầu_tư , thuê dịch_vụ công_nghệ thông_tin vẫn còn vướng_mắc ; ứng_dụng công_nghệ thông_tin được triển_khai chưa hiệu_quả , việc giải_quyết thủ_tục hành_chính và xử_lý hồ_sơ công_việc còn phụ_thuộc nhiều vào giấy_tờ , thủ_công ; tỷ_lệ sử_dụng dịch_vụ công trực_tuyến còn rất thấp . nguyên_nhân chủ_yếu của vấn_đề trên là do chưa phát_huy vai_trò của người đứng đầu trong chỉ_đạo thực_hiện ; cơ_chế bảo_đảm thực_thi nhiệm_vụ xây_dựng chính_phủ điện_tử chưa đủ mạnh , các cấp , các ngành chưa xác_định rõ lộ_trình và các mục_tiêu cụ_thể trong triển_khai ; còn thiếu khung pháp_lý đồng_bộ về xây_dựng chính_phủ điện_tử ; thiếu cơ_chế_tài_chính và đầu_tư phù_hợp với đặc_thù dự_án công_nghệ thông_tin ; thiếu quy_định cụ_thể về định_danh , xác_thực cá_nhân , tổ_chức trong giao_dịch điện_tử ; thiếu các quy_định pháp_lý về văn_thư , lưu_trữ điện_tử ; nền_tảng tích_hợp , chia_sẻ dữ_liệu giữa các hệ_thống thông_tin của cơ_quan hành_chính nhà_nước chậm được triển_khai ; tình_trạng cát_cứ thông_tin , dữ_liệu còn phổ_biến dẫn đến trùng_lặp , không thống_nhất ; việc bảo_đảm an_