Document ID: 51254

Title: None

Legal Basis:
Căn cứ vào Luật tổ chức Toà án nhân dân; Để áp dụng đúng và thống nhất các quy định của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình;

Full Text:
[{"full_text": "Điều 1. Tranh chấp hợp đồng dân sự có đặt cọc Điều 1. Thừa kế trong trường hợp chưa có đăng ký kết hôn. a. Trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987, nếu có một bên chết trước, thì bên vợ hoặc chồng còn sống được hưởng di sản của bên chết để lại theo quy định của pháp luật về thừa kế. b. Trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày 01/01/2001 đến ngày 01/01/2003; do đó cho đến trước ngày 01/01/2003 mà có một bên vợ hoặc chồng chết trước thì bên chồng hoặc vợ còn sống được hưởng di sản của bên chết để lại theo quy định của pháp luật về thừa kế. Trong trường hợp sau ngày 01/01/2003 họ vẫn chưa đăng ký kết hôn mà có một bên vợ hoặc chồng chết trước và có tranh chấp về thừa kế thì trong khi chưa có quy định mới của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tuỳ từng trường hợp mà Toà án xử lý như sau: - Nếu chưa thụ lý vụ án thì không thụ lý; - Nếu đã thụ lý vụ án và đang giải quyết thì ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án.", "header": "['Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP về việc hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình do Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ban hành'\n 'Mục I. ĐỐI VỚI CÁC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DÂN SỰ']", "len_tokenizer": 255, "lower_segmented_text": "điều 1 . tranh_chấp hợp_đồng dân_sự có đặt_cọc điều 1 . thừa_kế trong trường_hợp chưa có đăng_ký_kết_hôn . a . trường_hợp quan_hệ vợ_chồng được xác_lập trước ngày 03 / 01 / 1987 , nếu có một bên chết trước , thì bên vợ hoặc chồng còn sống được hưởng di_sản của bên chết để lại theo quy_định của pháp_luật về thừa_kế . b . trường_hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ_chồng từ ngày 03 / 01 / 1987 đến ngày 01 / 01 / 2001 mà có đủ điều_kiện kết_hôn theo quy_định của luật hôn_nhân và gia_đình năm 2000 thì có nghĩa_vụ đăng_ký_kết_hôn trong thời_hạn hai năm , kể từ ngày 01 / 01 / 2001 đến ngày 01 / 01 / 2003 ; do đó cho đến trước ngày 01 / 01 / 2003 mà có một bên vợ hoặc chồng chết trước thì bên chồng hoặc vợ còn sống được hưởng di_sản của bên chết để lại theo quy_định của pháp_luật về thừa_kế . trong trường_hợp sau ngày 01 / 01 / 2003 họ vẫn chưa đăng_ký_kết_hôn mà có một bên vợ hoặc chồng chết trước và có tranh_chấp về thừa_kế thì trong khi chưa có quy_định mới của cơ_quan nhà_nước có thẩm_quyền , tuỳ từng trường_hợp mà toà_án xử_lý như sau : - nếu chưa thụ_lý vụ án thì không thụ_lý ; - nếu đã thụ_lý vụ án và đang giải_quyết thì ra quyết_định tạm đình_chỉ việc giải_quyết vụ án .", "pointer_link": "['Mục I' 'Điều 1']"}, {"full_text": "Khoản 2.1. Đối với trường hợp công dân Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với công dân Việt Nam đã đi ra nước ngoài Khi giải quyết loại việc này, cần phân biệt như sau: a. Đối với những trường hợp uỷ thác tư pháp không có kết quả vì lý do bị đơn sống lưu vong, không có cơ quan nào quản lý, không có địa chỉ rõ ràng nên không thể liên hệ với họ được, thì Toà án yêu cầu thân nhân của bị đơn đó gửi cho họ lời khai của nguyên đơn và báo cho họ gửi về Toà án những lời khai hoặc tài liệu cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Sau khi có kết quả, Toà án có thể căn cứ vào những lời khai và tài liệu đó để xét xử theo thủ tục chung. b. Trường hợp bên đương sự là bị đơn đang ở nước ngoài không có địa chỉ, không có tin tức hoặc giấu địa chỉ nên nguyên đơn ở trong nước không thể biết địa chỉ, tin tức của họ, thì giải quyết như sau: - Nếu bị đơn ở nước ngoài không có địa chỉ, không có tin tức gì về họ (kể cả thân nhân của họ cũng không có địa chỉ, tin tức gì về họ), thì Toà án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 45 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và giải thích cho nguyên đơn biết họ có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án cấp huyện nơi họ thường trú tuyên bố bị đơn mất tích hoặc đã chết theo quy định của pháp luật về tuyên bố mất tích, tuyên bố chết. - Nếu thông qua thân nhân của họ mà biết rằng họ vẫn có liên hệ với thân nhân ở trong nước, nhưng thân nhân của họ không cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án, cũng như không thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết để gửi lời khai về cho Toà án, thì coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Nếu Toà án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của họ cũng không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết, thì Toà án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung. Sau khi xét xử Toà án cần gửi ngay cho thân nhân của bị đơn bản sao bản án hoặc quyết định để những người này chuyển cho bị đơn, đồng thời tiến hành niêm yết công khai bản sao bản án, quyết định tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi bị đơn cư trú cuối cùng và nơi thân nhân của bị đơn cư trú để đương sự có thể sử dụng quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật tố tụng.", "header": "['Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP về việc hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình do Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ban hành'\n 'Mục I. ĐỐI VỚI CÁC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DÂN SỰ'\n 'Điều 2. Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà ở Điều 2. Ly hôn có yếu tố nước ngoài']", "len_tokenizer": 429, "lower_segmented_text": "khoản 2.1 . đối_với trường_hợp công_dân việt nam ở trong nước xin ly_hôn với công_dân việt_nam đã đi ra nước_ngoài khi giải_quyết loại việc này , cần phân_biệt như sau : a . đối_với những trường_hợp uỷ_thác tư_pháp không có kết_quả vì lý_do bị_đơn sống lưu_vong , không có cơ_quan nào quản_lý , không có địa_chỉ rõ_ràng nên không_thể liên_hệ với họ được , thì toà_án yêu_cầu thân_nhân của bị_đơn đó gửi cho họ lời khai của nguyên đơn và báo cho họ gửi về toà_án những lời khai hoặc tài_liệu cần_thiết cho việc giải_quyết vụ án . sau khi có kết_quả , toà_án có_thể căn_cứ vào những lời khai và tài_liệu đó để xét_xử theo thủ_tục chung . b . trường_hợp bên đương_sự là bị_đơn đang ở nước_ngoài không có địa_chỉ , không có tin_tức hoặc giấu địa_chỉ nên nguyên đơn ở trong nước không_thể biết địa_chỉ , tin_tức của họ , thì giải_quyết như sau : - nếu bị_đơn ở nước_ngoài không có địa_chỉ , không có tin_tức gì về họ ( kể_cả thân_nhân của họ cũng không có địa_chỉ , tin_tức gì về họ ) , thì toà_án ra quyết_định tạm đình_chỉ việc giải_quyết vụ án theo quy_định tại điểm c khoản 1 điều 45 pháp_lệnh thủ_tục giải_quyết các vụ án dân_sự và giải_thích cho nguyên đơn biết họ có quyền khởi_kiện yêu_cầu toà_án cấp huyện nơi họ thường_trú tuyên_bố bị_đơn mất_tích hoặc đã chết theo quy_định của pháp_luật về tuyên_bố mất_tích , tuyên_bố chết . - nếu thông_qua thân_nhân của họ mà biết rằng họ vẫn có liên_hệ với thân_nhân ở trong nước , nhưng thân_nhân của họ không cung_cấp địa_chỉ , tin_tức của bị_đơn cho toà_án , cũng như_không thực_hiện yêu_cầu của toà_án thông_báo cho bị_đơn biết để gửi lời khai về cho toà_án , thì coi đây là trường_hợp bị_đơn cố_tình giấu địa_chỉ , từ_chối khai_báo , từ_chối cung_cấp những tài_liệu cần_thiết . nếu toà_án đã yêu_cầu đến lần thứ hai mà thân_nhân của họ cũng không chịu cung_cấp địa_chỉ , tin_tức của bị_đơn cho toà_án cũng như_không chịu thực_hiện yêu_cầu của toà_án thông_báo cho bị_đơn biết , thì toà_án đưa vụ án ra xét_xử vắng_mặt bị_đơn theo thủ_tục chung . sau khi xét_xử toà_án cần gửi ngay cho thân_nhân của bị_đơn bản_sao bản_án hoặc quyết_định để những người này chuyển cho bị_đơn , đồng_thời tiến_hành niêm_yết công_khai bản_sao bản_án , quyết_định tại trụ_sở uỷ_ban nhân_dân cấp xã nơi bị_đơn cư_trú cuối_cùng và nơi thân_nhân của bị_đơn cư_trú để đương_sự có_thể sử_dụng quyền kháng_cáo theo quy_định của pháp_luật tố_tụng .", "pointer_link": "['Mục I' 'Điều 2' 'Khoản 2.1']"}, {"full_text": "Khoản 2.2. Đối với trường hợp các bên đều là công dân Việt Nam kết hôn ở nước ngoài theo pháp luật nước ngoài, nay họ về Việt Nam xin ly hôn. Khi giải quyết loại việc này cần phân biệt như sau: a. Đối với trường hợp các bên có giấy chứng nhận kết hôn do cơ quan có thẩm quyền của nước đã ký kết với Việt