Document ID: 365078

Title: VỀ MỘT SỐ NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC HOÀN THIỆN VÀ ĐẨY MẠNH VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ VÀ KHAI THÁC CÁC CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG THEO HÌNH THỨC HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG - KINH DOANH - CHUYỂN GIAO (BOT)

Legal Basis:
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Căn cứ Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân số 87/2015/QH13;
Căn cứ Nghị quyết số 235/NQ-UBTVQH14 ngày 25 tháng 8 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Chương trình giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội năm 2017 và Nghị quyết số 321/NQ-UBTVQH14 ngày 22 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thành lập Đoàn giám sát “Việc thực hiện chính sách pháp luật về đầu tư và khai thác các công trình giao thông theo hình thức hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT)”;

Full Text:
[{"full_text": "Điều 1. Đánh giá tình hình. Tán thành với nội dung Báo cáo kết quả giám sát của Đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về “Việc thực hiện chính sách pháp luật về đầu tư và khai thác các công trình giao thông theo hình thức hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT)”. Trong thời gian qua, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT đã được hoàn thiện một bước. Nhiều công trình giao thông trọng điểm quốc gia đã được đầu tư, nâng cấp, góp phần quan trọng trong việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ của nước ta, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia. Việc thực hiện chủ trương huy động nguồn lực xã hội, trong đó có hình thức hợp đồng BOT là đúng đắn, giúp giảm bớt gánh nặng của ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và quá trình triển khai thực hiện các dự án giao thông theo hình thức hợp đồng BOT còn tồn tại nhiều hạn chế cần được khắc phục. Cụ thể: Các văn bản quy phạm pháp luật chưa được ban hành kịp thời, đầy đủ, đồng bộ; tính pháp lý chưa cao, văn bản có hiệu lực pháp luật cao nhất mới chỉ là nghị định, một số quy định chưa rõ ràng, chồng chéo, chưa phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế. Việc lựa chọn dự án đầu tư và thứ tự ưu tiên đầu tư chưa hợp lý. Đa số các dự án tập trung trong lĩnh vực đường bộ theo phương thức cải tạo, nâng cấp tuyến đường độc đạo hiện hữu nên chưa bảo đảm quyền lựa chọn của người tham gia giao thông. Việc thu hút nguồn vốn đầu tư còn hạn chế, chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng. Ngoài ra, chính sách chưa ổn định gây khó khăn trong việc thu hút nhà đầu tư nước ngoài. Việc lập, thẩm định, phê duyệt dự án còn bất cập, thiếu minh bạch, công tác thiết kế, dự toán còn sai sót và chưa chặt chẽ làm tăng giá trị dự toán công trình. Hầu hết các dự án đều chỉ định thầu, nhưng nhiều nhà đầu tư, nhà thầu nguồn lực hạn chế dẫn đến những vi phạm trong quá trình thực hiện, vận hành và khai thác công trình gây thất thoát và giảm hiệu quả đầu tư. Công tác giải phóng mặt bằng một số dự án gặp nhiều vướng mắc, chưa đồng bộ làm tăng chi phí và ảnh hưởng tới tiến độ thực hiện dự án. Việc thi công xây dựng, giám sát và quản lý chất lượng công trình bị buông lỏng dẫn đến nhiều dự án chất lượng chưa đáp ứng được yêu cầu; công tác nghiệm thu, thanh toán còn tồn tại sai sót. Việc quyết toán công trình còn khó khăn, kéo dài và thiếu chế tài xử lý nghiêm đối với nhà đầu tư chậm quyết toán. Các quy định của pháp luật và thực tế triển khai về thu phí (giá) sử dụng dịch vụ đường bộ, vị trí đặt trạm thu phí còn chưa hợp lý dẫn đến việc một số dự án gây bức xúc trong dư luận xã hội. Việc quy định, thực hiện công khai, minh bạch các thông tin về dự án còn bất cập. Công tác thông tin tuyên truyền còn thiếu thống nhất dẫn đến sự thiếu đồng thuận và có cách hiểu khác nhau trong xã hội đối với các công trình giao thông theo hình thức hợp đồng BOT. Nguyên nhân các hạn chế, yếu kém: Các cơ quan quản lý còn ít kinh nghiệm; chưa bao quát đầy đủ các tình huống phát sinh trong quá trình thực hiện; sự phối, kết hợp giữa các cơ quan, đơn vị chưa thực sự hiệu quả, trách nhiệm chưa cao, vẫn còn tình trạng buông lỏng quản lý. Công tác kiểm tra, thanh tra chưa thường xuyên, chưa kịp thời, chế tài xử lý các vi phạm chưa nghiêm. Trong khi Chính phủ và các cơ quan chức năng chưa chủ động tổng kết, đánh giá và kịp thời sửa đổi hoặc đề xuất sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các quy định pháp luật về đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT nhưng đã cho phép triển khai đầu tư nhiều dự án giao thông theo hình thức này. Bộ Giao thông vận tải chịu trách nhiệm chính đối với những hạn chế, vi phạm của các dự án do Bộ quyết định đầu tư. Bộ Tài chính chịu trách nhiệm liên quan đến việc ban hành thông tư hướng dẫn việc thu phí (giá thu phí, thỏa thuận vị trí đặt trạm thu phí và quy trình giám sát thu phí) chưa hợp lý. Cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương chịu trách nhiệm về những hạn chế, vi phạm của dự án do địa phương quyết định đầu tư và việc chưa thực hiện tốt công tác tuyên truyền, tạo sự đồng thuận của người dân trong việc lựa chọn dự án, thỏa thuận vị trí đặt trạm thu phí, bảo đảm an ninh trật tự, giải phóng mặt bằng chậm. Các nhà đầu tư chịu trách nhiệm về những vi phạm trong quá trình thực hiện dự án không đúng quy định của pháp luật.", "header": "['Nghị quyết 437/NQ-UBTVQH14 năm 2017 về nhiệm vụ và giải pháp tiếp tục hoàn thiện và đẩy mạnh việc thực hiện chính sách pháp luật về đầu tư và khai thác công trình giao thông theo hình thức hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT) do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành']", "len_tokenizer": 713, "lower_segmented_text": "điều 1 . đánh_giá tình_hình . tán_thành với nội_dung báo_cáo kết_quả giám_sát của đoàn giám_sát của ủy_ban thường_vụ quốc_hội về “ việc thực_hiện chính_sách pháp_luật về đầu_tư và khai_thác các công_trình giao_thông theo hình_thức hợp_đồng xây_dựng - kinh_doanh - chuyển_giao ( bot ) ” . trong thời_gian qua , hệ_thống văn_bản quy_phạm_pháp_luật về đầu_tư theo hình_thức hợp_đồng bot đã được hoàn_thiện một bước . nhiều công_trình giao_thông trọng_điểm quốc_gia đã được đầu_tư , nâng_cấp , góp_phần quan_trọng trong việc thực_hiện chủ_trương , đường_lối của đảng về xây_dựng hệ_thống kết_cấu_hạ_tầng đồng_bộ của nước ta , thúc_đẩy phát_triển kinh_tế - xã_hội , tăng_cường năng_lực cạnh_tranh quốc_gia . việc thực_hiện chủ_trương huy_động nguồn_lực xã_hội , trong đó có hình_thức hợp_đồng bot là đúng_đắn , giúp giảm bớt gánh nặng của ngân_sách nhà_nước . tuy_nhiên , hệ_thống văn_bản quy_phạm_pháp_luật và quá_trình triển_khai thực_hiện các dự_án giao_thông theo hình_thức hợp_đồng bot còn tồn_tại nhiều hạn_chế cần được khắc_phục . cụ_thể : các văn_bản quy_phạm_pháp_luật chưa được ban_hành kịp_thời , đầy_đủ , đồng_bộ ; tính pháp_lý chưa cao , văn_bản có hiệu_lực pháp_luật cao nhất mới chỉ là nghị_định , một_số quy_định chưa rõ_ràng , chồng_chéo , chưa phù_hợp với thực_tiễn và thông_lệ quốc_tế . việc lựa_chọn dự_án đầu_tư và thứ tự ưu_tiên đầu_tư chưa hợp_lý . đa_số các dự_án tập_trung trong lĩnh_vực đường_bộ theo phương_thức cải_tạo , nâng_cấp tuyến đường độc_đạo hiện_hữu nên chưa bảo_đảm quyền lựa_chọn của người tham_gia giao_thông . việc thu_hút nguồn vốn đầu_tư còn hạn_chế , chủ_yếu dựa vào vốn vay ngân_hàng . ngoài_ra , chính_sách chưa ổn_định gây khó_khăn trong việc thu_hút nhà đầu_tư nước_ngoài . việc lập , thẩm_định , phê_duyệt dự_án còn bất_cập , thiếu minh_bạch , công_tác thiết_kế , dự_toán còn sai_sót và chưa chặt_chẽ làm tăng_giá_trị dự_toán công_trình . hầu_hết các dự_án đều chỉ_định thầu , nhưng nhiều nhà đầu_tư , nhà_thầu nguồn_lực hạn_chế dẫn đến những vi_phạm trong quá_trình thực_hiện , vận_hành và khai_thác công_trình gây thất_thoát và giảm hiệu_quả đầu_tư . công_tác giải_phóng mặt_bằng một_số dự_án gặp nhiều vướng_mắc , chưa đồng_bộ làm tăng chi_phí và ảnh_hưởng tới tiến_độ thực_hiện dự_án . việc thi_công xây_dựng , giám_sát và quản_lý chất_lượng công_trình bị buông_lỏng dẫn đến nhiều dự_án chất_lượng chưa đáp_ứng được yêu_cầu ; công_tác nghiệm_thu , thanh_toán còn tồn_tại sai_sót . việc quyết_toán công_trình còn khó_khăn , kéo_dài và thiếu chế_tài xử_lý nghiêm đối_với nhà đầu_tư chậm quyết_toán . các quy_định của pháp_luật và thực_tế triển_khai về thu phí ( giá ) sử_dụng dịch_vụ đường_bộ , vị_trí đặt trạm thu phí còn chưa hợp_lý dẫn đến việc một_số dự_án gây bức_xúc trong dư_luận xã_hội . việc quy_định , thực_hiện công_khai , minh_bạch các thông_tin về dự_án còn bất_cập . công_tác thông_tin tuyên_truyền còn thiếu thống_nhất dẫn đến sự thiếu đồng thuận và có cách hiểu khác nhau trong xã_hội đối_với các công_trình giao_thông theo hình_thức hợp_đồng bot . nguyên_nhân các hạn_chế , yếu_kém : các cơ_quan quản_lý còn ít kinh_nghiệm ; chưa bao_quát đầy_đủ các tình_huống phát_sinh trong quá_trình thực_hiện ; sự phối , kết_hợp giữa các cơ_quan , đơn_vị chưa thực_sự hiệu_quả , trách_nhiệm chưa cao , vẫn còn tình_trạng buông_lỏng quản_lý . công_tác kiểm_tra , thanh_tra chưa thường_xuyên , chưa kịp_thời , chế_tài xử_lý các vi_phạm chưa nghiêm . trong khi chính_phủ và các cơ_quan_chức_năng chưa chủ_động tổng_kết , đánh_giá và kịp_thời sửa_