Document ID: 408731

Title: PHIÊN HỌP CHÍNH PHỦ THƯỜNG KỲ THÁNG 02 NĂM 2019

Legal Basis:
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;
Căn cứ Nghị định số 138/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 2016 của Chính phủ ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ;

Full Text:
[{"full_text": "Điều 1. Về tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 và 02 tháng đầu năm 2019, tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ. Trong dịp Tết Kỷ Hợi 2019, các bộ, ngành, địa phương đã nghiêm túc thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, nhiều tổ chức, cá nhân cùng chung tay chăm lo, phục vụ Nhân dân đón Tết trong không khí đầm ấm, vui tươi, lành mạnh, an toàn. Không khí mừng Đảng, mừng Xuân, mừng đất nước, niềm tự hào dân tộc lan tỏa khắp mọi miền Tổ quốc và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Đặc biệt, Việt Nam đã tổ chức chu đáo, trọng thị, bảo đảm an toàn tuyệt đối Hội nghị thượng đỉnh Triều Tiên - Hoa Kỳ lần thứ hai tại Hà Nội, đón Chủ tịch Đảng Lao động Triều Tiên, Chủ tịch Ủy ban Quốc vụ Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên Kim Jong Un thăm hữu nghị chính thức và các hoạt động song phương của Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tại Việt Nam; tạo ấn tượng mạnh mẽ, thể hiện vai trò nước chủ nhà có trách nhiệm và đáng tin cậy trong cộng đồng quốc tế; khẳng định vị thế mới của Việt Nam trong việc tổ chức các sự kiện đẳng cấp thế giới; góp phần quảng bá hình ảnh đất nước tươi đẹp, an toàn; con người Việt Nam yêu chuộng hòa bình, thân thiện và mến khách. Tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 và 02 tháng đầu năm 2019 tiếp tục xu thế tích cực. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát; thị trường chứng khoán phục hồi. Xuất khẩu ước đạt 36,68 tỷ USD, tăng 5,9% so với cùng kỳ. Thu hút vốn đầu tư đăng ký có yếu tố nước ngoài tăng hơn 2,5 lần so với cùng kỳ; giải ngân vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 9,8% so với cùng kỳ, là mức tăng cao nhất cả về giá trị và tốc độ so với cùng kỳ trong 3 năm gần đây. Sản xuất nông nghiệp và công nghiệp ổn định. Thu ngân sách đạt khá. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 12,2%. Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam tăng 10,12%; riêng trong tháng 2, tăng 10,9%. Các chính sách với người có công, chính sách an sinh xã hội được quan tâm thực hiện tốt. Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thông tin, tuyên truyền diễn ra sôi nổi; hoạt động lễ hội được tổ chức tốt, an toàn, văn minh. Quốc phòng, an ninh được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Tuy nhiên, tình hình kinh tế - xã hội còn một số tồn tại, hạn chế; xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực giảm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trưởng chậm; giải ngân vốn đầu tư công chưa đạt yêu cầu; số doanh nghiệp thành lập mới giảm; dịch bệnh trên vật nuôi, cây trồng diễn biến phức tạp, nhất là dịch tả lợn Châu Phi; giá lúa đồng bằng sông Cửu Long xuống thấp. Một số hiện tượng gây bức xúc xã hội như: tín dụng đen, đánh nhau, đốt pháo, tội phạm hình sự nghiêm trọng... vẫn còn diễn ra. Tai nạn giao thông tuy giảm nhưng tình trạng vi phạm quy định về trật tự an toàn giao thông diễn ra còn nhiều. Trong thời gian tới, Chính phủ yêu cầu từng thành viên Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tích cực, trách nhiệm, chỉ đạo, điều hành quyết liệt, thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra tại các Nghị quyết số 01/NQ-CP , số 02/NQ-CP ngày 01 tháng 01 năm 2019 của Chính phủ và chương trình, kế hoạch hành động của bộ, ngành, địa phương mình với quyết tâm, nỗ lực cao nhất, phấn đấu hoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra ngay từ quý đầu, tạo đà vững chắc để thắng lợi toàn diện các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2019; từng cán bộ, công chức, viên chức cần đề cao trách nhiệm cá nhân, không ngừng đổi mới sáng tạo, nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc; trong đó tập trung thực hiện một số nội dung chủ yếu sau: - Các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Công Thương, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo dõi sát diễn biến kinh tế trong nước và thế giới, vận dụng linh hoạt, sáng tạo, điều hành đồng bộ các công cụ chính sách kinh tế vĩ mô, tiếp tục củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, tạo thêm dư địa chính sách, tăng khả năng chống chịu của nền kinh tế trước những biến động khó lường của tình hình thế giới, thúc đẩy tăng trưởng nhanh hơn, toàn diện hơn và bền vững hơn. - Từng bộ, ngành, địa phương kịp thời tháo gỡ khó khăn, tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh, tạo thuận lợi cho phát triển sản xuất, kinh doanh; chủ động ứng phó trước tác động bất lợi từ bên ngoài, biến nguy cơ, thách thức thành cơ hội; huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực; tập trung thực hiện các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng của từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương. Rà soát, cập nhật kịch bản tăng trưởng năm 2019 của bộ, ngành mình theo từng quý, gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ đưa ra thảo luận tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 3 năm 2019. - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, thận trọng, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách khác đảm bảo mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, duy trì thanh khoản hợp lý; tiếp tục củng cố dự trữ ngoại hối nhà nước. Mở rộng tín dụng gắn với kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng. Quan tâm phát triển các sản phẩm tín dụng phục vụ nhu cầu đời sống, tiêu dùng và tài chính vi mô, đáp ứng kịp thời nhu cầu chính đáng của người dân, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và hạn chế tín dụng đen. - Bộ Tài chính tiếp tục điều hành chính sách tài khóa chặt chẽ; triển khai quyết liệt công tác thu ngân sách và các giải pháp chống thất thu ngân sách nhà nước, phấn đấu hoàn thành vượt mức dự toán thu ngân sách nhà nước năm 2019. Tập trung thực hiện các giải pháp phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường chứng khoán, dịch vụ tài chính, hỗ trợ doanh nghiệp huy động trực tiếp nguồn vốn với chi phí thấp. - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê rà soát, đánh giá lại quy mô tổng sản phẩm trong nước (GDP), bảo đảm tính khách quan, minh bạch, trong đó xem xét quy mô của khu vực kinh tế phi chính thức; trên cơ sở đó, các bộ, ngành liên quan tính toán, rà soát, đề xuất các chính sách phù hợp, nhất là về tiền tệ, tín dụng, tài khóa, đầu tư, thương mại. - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính tăng cường phối hợp kiểm tra, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. Giao Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trực tiếp theo dõi và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về công tác phân bổ, giao kế hoạch vốn đầu tư công, tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công của bộ, cơ quan, địa phương mình quản lý. - Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp và các bộ, cơ quan liên quan khẩn trương rà soát quy định pháp luật liên quan đến quy hoạch, báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý những vướng mắc, bất cập trong thực hiện chuyển tiếp quy hoạch; khẩn trương hoàn thiện trình Chính phủ ban hành Nghị định hướng dẫn Luật Quy hoạch và các văn bản liên quan, bảo đảm tính đồng bộ và khả thi. Xây dựng chương trình, kế hoạch xúc tiến đầu tư, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhất là các tập đoàn đa quốc gia công nghệ cao. - Các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị liên quan tập trung triển khai các công việc, nhiệm vụ cần thiết theo kế hoạch hoạt động của Tiểu ban kinh tế - xã hội; làm tốt nhiệm vụ tổng kết, đánh giá việc thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020 và nghiên cứu chuẩn bị xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2030 và kế hoạch 5 năm 2021-2025. - Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan rà soát, tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước khi Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định các nội dung sau: + Điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 từ điều chỉnh nội bộ và dự phòng 10% vốn ngân sách trung ương tại bộ, ngành, địa phương (bao gồm vốn trái phiếu Chính phủ) cho các dự án chưa có trong danh mục kế hoạch đầu tư công trung hạn, các dự án có trong danh mục kế hoạch đầu tư công trung hạn nhưng phải điều chỉnh quyết định đầu tư. + Điều chỉnh (cắt giảm, bổ sung) kế ho