Document ID: 426035

Title: PHIÊN HỌP CHÍNH PHỦ THƯỜNG KỲ THÁNG 9 NĂM 2019

Legal Basis:
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;
Căn cứ Nghị định số 138/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 2016 của Chính phủ ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ;

Full Text:
[{"full_text": "Điều 1. Về tình hình thực hiện Nghị quyết 01/NQ-CP , tình hình kinh tế - xã hội tháng 9 và 9 tháng năm 2019. Chính phủ thống nhất đánh giá: Tuy trong bối cảnh gặp nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là tác động của tình hình quốc tế diễn biến phức tạp, tăng trưởng kinh tế, thương mại toàn cầu sụt giảm, nhờ sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tình hình kinh tế - xã hội nước ta tháng 9 và 9 tháng năm 2019 vẫn đạt được kết quả tích cực và toàn diện, nhiều chỉ tiêu đạt cao hơn so với cùng kỳ, đã tạo không khí phấn khởi, củng cố thêm niềm tin của các nhà đầu tư, doanh nghiệp trong và ngoài nước. Kết quả quan trọng đạt được trên các lĩnh vực khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước, minh chứng rõ nét cho tinh thần đoàn kết, đổi mới, sáng tạo và nỗ lực vượt khó, ý chí quyết tâm, phấn đấu, vươn lên của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân cả nước. Tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức cao, GDP quý III tăng 7,31%, cao hơn cùng kỳ (6,82%); 9 tháng đầu năm tăng 6,98%, là mức tăng 9 tháng cao nhất trong 9 năm gần đây. Kinh tế vĩ mô ổn định vững chắc hơn; lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 9 tháng tăng 2,5%, thấp nhất trong 3 năm qua. Các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm trong điều kiện kinh tế thế giới có nhiều biến động. Tỷ giá, thị trường ngoại tệ ổn định; dự trữ ngoại hối tiếp tục được củng cố; lãi suất cho vay giảm. Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội tăng 10,3% so với cùng kỳ; trong đó, khu vực ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nhất 45,3% và có tốc độ tăng cao nhất 16,9%. vốn FDI thực hiện đạt 14,2 tỷ USD, cao nhất trong nhiều năm trở lại đây; góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tăng 82,3%. Thu ngân sách nhà nước đạt 77,5% dự toán, tăng 10,1% so cùng kỳ. Xuất khẩu đạt 194,3 tỷ USD, tăng 8,2% so với cùng kỳ, trong đó xuất khẩu khu vực kinh tế trong nước tăng 16,4%; xuất siêu đạt 5,9 tỷ USD. Khu vực công nghiệp, xây dựng tăng 9,36%, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,37%, tiếp tục là động lực chủ yếu dẫn dắt nền kinh tế. Khu vực dịch vụ duy trì đà tăng trưởng; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng tăng 11,6% so với cùng kỳ; thu hút 12,87 triệu lượt khách quốc tế, tăng 10,8% so với cùng kỳ, năng lực cạnh tranh du lịch của Việt Nam được Diễn đàn Kinh tế thế giới đánh giá tăng 4 bậc, xếp thứ 63/140 quốc gia và nền kinh tế. Khu vực nông nghiệp gặp nhiều khó khăn do bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh, thiên tai, hạn hán nhưng tiếp tục phát triển ổn định; sản lượng thủy sản tăng 6,12%. Cả nước có 102.274 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 5,9% về số doanh nghiệp và tăng 34% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ, giải quyết việc làm, thông tin truyền thông, bảo vệ môi trường được chú trọng. Tổ chức khai giảng năm học mới 2019-2020 với không khí vui tươi, phấn khởi. Công tác an sinh xã hội, chăm lo đời sống và sức khỏe cho nhân dân tiếp tục được quan tâm, nhất là đối với người có công, gia đình chính sách. Đời sống của nhân dân được cải thiện; số hộ thiếu đói giảm 33%. Công tác cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, xây dựng Chính phủ điện tử và công tác phòng chống tham nhũng tiếp tục được đẩy mạnh. Quốc phòng, an ninh được giữ vững, bảo vệ vững chắc chủ quyền của đất nước. Công tác đối ngoại đạt nhiều kết quả quan trọng, vị thế và uy tín của Việt Nam ngày càng được nâng cao. Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) đánh giá năm 2019 Việt Nam có mức độ cải thiện điểm số và tăng hạng năng lực cạnh tranh tốt nhất toàn cầu, tăng 10 bậc, lên thứ 67/141 quốc gia, vùng lãnh thổ. Bên cạnh kết quả đạt được, nền kinh tế nước ta vẫn còn những hạn chế, tồn tại và còn phải đối mặt với những khó khăn, thách thức từ bên ngoài, nhất là căng thẳng thương mại giữa các nước lớn diễn biến phức tạp, khó lường, rủi ro địa chính trị, tình hình biển Đông diễn biến phức tạp... Giải ngân vốn đầu tư công đạt thấp hơn so với cùng kỳ. Sản xuất nông nghiệp khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh tả lợn Châu Phi, thiên tai, hạn hán. Kim ngạch xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản giảm do giá giảm và thị trường gặp khó khăn. Dịch vụ du lịch chưa phát huy hết tiềm năng. Sản xuất kinh doanh còn khó khăn, nhất là đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Một số dự án hạ tầng giao thông trọng điểm chậm tiến độ. Vốn FDI đăng ký mới và tăng thêm giảm. Nhiều vấn đề văn hóa, xã hội, an ninh trật tự, an toàn giao thông, dịch bệnh, môi trường đô thị, nhất là thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh xử lý còn chậm, chưa có giải pháp hữu hiệu, kịp thời... Quan điểm chỉ đạo của Chính phủ trong những tháng còn lại của năm 2019 là tiếp tục kiên định mục tiêu đề ra, yêu cầu các cấp, các ngành tuyệt đối không được lơ là, chủ quan, bám sát và thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đề ra tại các Nghị quyết số 01/NQ-CP , 02/NQ-CP ngày 01 tháng 01 năm 2019 của Chính phủ, Chỉ thị số 09/CT-TTg ngày 01 tháng 4 năm 2019 của Thủ tướng Chính phủ; tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về thể chế, chính sách; cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, thuận lợi hơn nữa; tăng cường ứng dụng công nghệ, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển; thực hiện tốt công tác phòng, chống thiên tai, chủ động ứng phó biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường; củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc chủ quyền đất nước, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội; đẩy mạnh công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế; theo dõi sát diễn biến tình hình quốc tế và trong nước để có đối sách kịp thời, phù hợp. Chính phủ yêu cầu từng Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố đề cao trách nhiệm người đứng đầu, sâu sát công việc, chủ động phối hợp xử lý những vướng mắc, bất cập; có giải pháp cụ thể khắc phục những tồn tại, hạn chế, nhất là vấn đề giải ngân vốn đầu tư, giải phóng mặt bằng, cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp; tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm sau: - Các bộ, ngành đánh giá toàn diện tác động của xung đột thương mại giữa các nước lớn, tác động của thị trường tài chính quốc tế; cập nhật kịch bản tăng trưởng năm 2019 để có các giải pháp, phù hợp, kịp thời đối với từng ngành, từng lĩnh vực. Tăng cường kiểm soát thị trường, quản lý giá cả, tiếp tục theo dõi chặt chẽ diễn biến giá cả thị trường thế giới và trong nước, thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo đảm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu. Tiếp tục rà soát, cắt giảm thực chất điều kiện kinh doanh không cần thiết, tổ chức đánh giá kết quả cải thiện môi trường kinh doanh thuộc lĩnh vực quản lý của bộ, ngành, địa phương mình gắn với thi đua. - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, thận trọng, ổn định thị trường ngoại tệ; tập trung tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, lĩnh vực sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận vốn tín dụng của doanh nghiệp và người dân; đẩy nhanh việc cơ cấu lại các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu. Có giải pháp đồng bộ nâng cao năng lực tài chính, hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại. Tăng cường công tác thanh tra, giám sát ngân hàng để cảnh báo, ngăn ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các rủi ro, tồn tại và yếu kém của tổ chức tín dụng, bảo đảm an toàn hệ thống. - Bộ Tài chính chỉ đạo thực hiện quyết liệt các giải pháp thu ngân sách, bảo đảm thu đúng, thu đủ và kịp thời; tăng cường thanh tra, kiểm tra thuế, phấn đấu hoàn thành vượt mức dự toán được giao. Kiểm soát chặt chẽ, công khai, minh bạch các khoản chi ngân sách nhà nước. Chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan tập trung rà soát, đề xuất các giải pháp tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước. Chỉ đạo, phối hợp với các cơ quan chức năng tăng cường công tác chống buôn lậu và hàng giả, nhất là dịp cuối năm, Tết nguyên đán. Khẩn trương tiếp thu ý kiến Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 11 (khóa XII), hoàn thiện các Báo cáo: tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2019, dự toán ngân sách nhà nước năm 2020; kế hoạch tài chính-ngân sách nhà nước 3 năm 2020-2022 và đánh giá thực hiện kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia 2016-2020,