Document ID: 38517

Title: CỦA BỘ TÀI CHÍNH SỐ 12-TC\TCT NGÀY 25-2-1993 HƯỚNG DẪN THI HÀNH CHỈ THỊ SỐ 208-TTg NGÀY 29-12-1992 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ VỀ VIỆC TIẾP TỤC LẬP SỔ THUẾ THEO HỘ GIA ĐÌNH

Legal Basis:
Căn cứ vào kết quả xác định được thuế ghi thu của các loại đất trên và diện tích sử dụng của từng đối tượng mà xác định thuế ghi thu của từng đối tượng theo quy định tại mục II-3b của Thông tư số 21-TC/TCT ngày 18-6-1992 của Bộ Tài chính.

Full Text:
[{"full_text": "Mục I. Căn cứ vào công văn số 1001-TC/TCT/TNN ngày 21-9-1992 của Tổng cục thuế hướng dẫn việc đánh giá kết quả lập sổ theo hộ gia đình và thực hiện lập sổ thuế theo hộ gia đình và thực hiện lập sổ thuế năm 1993; Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố tập trung sơ kết, đánh giá tình hình và kết quả lập sổ thuế và thu thuế theo hộ gia đình trong năm 1992; Rút kinh nghiệm trực tiếp ở các xã chỉ đạo điểm (nếu có) trên các mặt chủ yếu sau đây:\n1. Đặc điểm tổ chức quản lý sản xuất nông nghiệp; quản lý, phân chia, sử dụng ruộng đất ở địa phương ảnh hưởng đến việc lập sổ thuế và thu thuế theo hộ; cách làm và những vấn đề cần khắc phục xử lý v.v..\n2. Những biện pháp chỉ đạo và hiệu quả mang lại ...;\n3. Kết quả triển khai lập sổ thuế và thu thuế theo hộ;\n4. Bài học kinh nghiệm và kiến nghị;\n5. Kế hoạch tiến hành trong năm 1993.", "header": "['Thông tư 12-TC/TCT năm 1993 hướng dẫn Chỉ thị 208-TTg năm 1992 về việc tiếp tục lập sổ thuế theo hộ gia đình do Bộ Tài chính ban hành']", "len_tokenizer": 178, "lower_segmented_text": "mục i . căn_cứ vào công_văn số 1001 - tc / tct / tnn ngày 21 - 9 - 1992 của tổng_cục thuế hướng_dẫn việc đánh_giá kết_quả lập sổ theo hộ gia_đình và thực_hiện lập sổ thuế theo hộ gia_đình và thực_hiện lập sổ thuế năm 1993 ; uỷ_ban nhân_dân các tỉnh , thành_phố tập_trung sơ_kết , đánh_giá tình_hình và kết_quả lập sổ thuế và thu thuế theo hộ gia_đình trong năm 1992 ; rút kinh_nghiệm trực_tiếp ở các xã chỉ_đạo điểm ( nếu có ) trên các mặt chủ_yếu sau đây : \n 1 . đặc_điểm tổ_chức quản_lý sản_xuất nông_nghiệp ; quản_lý , phân_chia , sử_dụng ruộng_đất ở địa_phương ảnh_hưởng đến việc lập sổ thuế và thu thuế theo hộ ; cách làm và những vấn_đề cần khắc_phục xử_lý v . v . . \n 2 . những biện_pháp chỉ_đạo và hiệu_quả mang lại ... ; \n 3 . kết_quả triển_khai lập sổ thuế và thu thuế theo hộ ; \n 4 . bài_học kinh_nghiệm và kiến_nghị ; \n 5 . kế_hoạch tiến_hành trong năm 1993 .", "pointer_link": "['Mục I']"}, {"full_text": "Điều 1. Về điện tích chịu thuế: Theo quy định tại mục II-1b. Thông tư số 21-TC/TCT ngày 18-6-1992 của Bộ Tài chính, xử lý những vướng mắc về diện tích các trường hợp cụ thể như sau:\na) Do đo đạc sai hoặc có chênh lệch giữa diện tích tính thuế và diện tích đo đạc thì phải thực hiện đo đạc lại. Trường hợp không đo đạc lại được, thì cơ quan quản lý ruộng đất tỉnh phải xác nhận vào sự chênh lệch đó và thực hiện tính thuế theo tờ khai của hộ sử dụng đất.\nb) Không phân bổ diện tích kênh mương thuỷ lợi nội đồng dùng chung cho một cánh đồng vào diện tích chịu thuế của từng hộ, nhưng phải phân bổ số thuế này cho từng hộ nhận khoán. Diện tích bờ gắn vào thử ruộng nào thì tích vào diện tích chịu thuế của thửa ruộng đó tính từ tâm bờ rào ruộng.\nc) Diện tích đất nông nghiệp dùng vào thổ cư, giao thông, thuỷ lợi, xây dựng.... chưa được cấp có thẩm quyền xét duyệt, thì tổ chức, cá nhân sử dụng có trách nhiệm nộp thuế. Trường hợp những diện tích này đã kê khai tính thuế đất ở, đất xây dựng công trình thì phải kiểm tra lại chặt chẽ để xác định rõ ranh giới thuế đất và thuế nông nghiệp do cục thuế tỉnh quyết định sau khi có sự đồng ý của Tổng cục thuế.\nd) Diện tích ao, hồ, mặt nước, đồng cỏ, bãi bồi, diện tích hoang hoá. .. không quy chủ và thực tế không ai sử dụng thì không lập sổ thuế, nhưng phải kiểm tra xác định lại, lập biên bản được cơ quan quản lý ruộng đất tỉnh xác nhận trình Uỷ ban nhân dân tỉnh đưa ra khỏi hộ thuế.", "header": "['Thông tư 12-TC/TCT năm 1993 hướng dẫn Chỉ thị 208-TTg năm 1992 về việc tiếp tục lập sổ thuế theo hộ gia đình do Bộ Tài chính ban hành'\n 'Mục II. Xử lý những vướng mắc trong quá trình lập sổ thuế và thu thuế theo hộ gia đình']", "len_tokenizer": 289, "lower_segmented_text": "điều 1 . về điện_tích chịu thuế : theo quy_định tại mục ii - 1b . thông_tư số 21 - tc / tct ngày 18 - 6 - 1992 của bộ tài_chính , xử_lý những vướng_mắc về diện_tích các trường_hợp cụ_thể như sau : \n a ) do đo_đạc sai hoặc có chênh_lệch giữa diện_tích tính thuế và diện_tích đo_đạc thì phải thực_hiện đo_đạc lại . trường_hợp không đo_đạc lại được , thì cơ_quan quản_lý ruộng_đất tỉnh phải xác_nhận vào sự chênh_lệch đó và thực_hiện tính thuế theo tờ khai của hộ sử_dụng đất . \n b ) không phân_bổ diện_tích kênh mương thuỷ_lợi nội_đồng dùng chung cho một cánh đồng vào diện_tích chịu thuế của từng hộ , nhưng phải phân_bổ số thuế này cho từng hộ nhận khoán . diện_tích bờ gắn vào thử ruộng nào thì tích vào diện_tích chịu thuế của thửa ruộng đó tính từ tâm bờ_rào ruộng . \n c ) diện_tích đất nông_nghiệp dùng vào thổ_cư , giao_thông , thuỷ_lợi , xây_dựng ... . chưa được cấp có thẩm_quyền xét_duyệt , thì tổ_chức , cá_nhân sử_dụng có trách_nhiệm nộp thuế . trường_hợp những diện_tích này đã kê_khai tính thuế_đất ở , đất xây_dựng công_trình thì phải kiểm_tra lại chặt_chẽ để xác_định rõ ranh_giới thuế_đất và thuế nông_nghiệp do cục thuế tỉnh quyết_định sau khi có sự đồng_ý của tổng_cục thuế . \n d ) diện_tích ao , hồ , mặt_nước , đồng_cỏ , bãi bồi , diện_tích hoang_hoá . . . không quy chủ và thực_tế không ai sử_dụng thì không lập sổ thuế , nhưng phải kiểm_tra xác_định lại , lập biên_bản được cơ_quan quản_lý ruộng_đất tỉnh xác_nhận trình uỷ_ban nhân_dân tỉnh đưa ra khỏi hộ thuế .", "pointer_link": "['Mục II' 'Điều 1']"}, {"full_text": "Điều 2. Về thuế ghi thu: Tuỳ đặc điểm đất đai và thực tế sản xuất nông nghiệp của từng hợp tác xã, xã, thôn, ấp mà xác định thuế ghi thu của từng hộ xã viên; nhưng nguyên tắc chung là thuế ghi thu trên đất nhận khoán của các hộ xã viên bao gồm cả đất làm kinh tế gia đình (nếu có) cộng thuế ghi thu trên đất giao cho tổ chức, cá nhân khác sử dụng và thuế ghi thu trên đất nông nghiệp chuyển sang sử dụng vào mục đích khác chưa được cấp có thẩm quyền quyết định phải bằng tổng số thuế ghi thu của cả hợp tác xã.. Trên cơ sở tổng số thuế ghi thu của cả hợp tác xã xác định:\na) Thuế ghi thu của ao, hồ, đầm và mặt nước dùng vào nuôi trồng thuỷ sản.\nb) Thuế ghi thu trên đất thổ canh, đất vườn (nếu có), đất trồng cây lâu năm.\nc) Thuế ghi thu trên đất mạ, đất khác. Căn cứ vào kết quả xác định được thuế ghi thu của các loại đất trên và diện tích sử dụng của từng đối tượng mà xác định thuế ghi thu của từng đối tượng theo quy định tại mục II-3b của Thông tư số 21-TC/TCT ngày 18-6-1992 của Bộ Tài chính.\nd) Phần còn lại là thuế ghi thu trên đất ruộng trồng cây hàng năm cũng được chia theo các đối tượng sử dụng đất được quy định tại mục II-3b của Thông tư số 21-TC/TCT ngày 18-6-1992 của Bộ Tài chính theo thứ tự sau: - Thuế ghi thu trên đất giao cho tổ chức, cá nhân khác không phải là hộ gia đình xã viên kể cả do xã dùng vào việc xây dựng ngân sách xã. - Thuế ghi thu trên đất chuyển sang sử dụng vào mục đích khác chưa được cấp có thẩm quyền quyết định. - Thuế ghi thu trên đất nhận khoán của các hộ gia đình xã viên bao gồm cả đất làm kinh tế gia đình (nếu có). Tổng hợp thuế ghi thu các mục a, b, c, d lại thành thuế ghi thu của cả hợp tác xã và chi tiết theo từng hộ gia đình xã viên và các đối tượng khác.\ne) Về phân hạng đất và xác định thuế ghi thu của từng hộ gia đình xã viên. Căn cứ vào tổng số thuế ghi thu trên đất nhận khoán của các hộ gia đình xã viên bao gồm cả đất làm kinh tế gia đình (nếu có); thực hiện phân hạng đất tính thuế đối vói từng hộ xã viên nhận khoán theo quy định tại mụa II-2 Thông tư số 21-TC/TCT. ở những nơi ruộng đất quá phức tạp, manh mún... khó thực hiện phân hạng đất, Uỷ ban nhân dân huyện phải chỉ đạo Chi cục thuế và Uỷ ban nhân dân các xã thực hiện: - Họp đại hội xã viên để tuyên truyền giải thích chính sách và động viên nông dân; - Xử lý ngay những vướng mắc của nông dân về ăn chia phân phối, về giao ruộng v.v...; - Trường hợp có quá nhiều bậc năng suất khoán, phải chỉ đạo các hợp tác xã thu hẹp số bậc lại trước khi phân hạng đất; - Kết hợp chặt chẽ việc phân loại ruộng đất theo từng khoảnh thửa, từng cánh đồng trên thực tế và bản đồ với năng suất khoán để ghép các loại ruộng đất cùng cánh đồng hoặc cùng điều kiện canh tác, cùng độ phì và điều kiện tưới tiêu vào cùng một hạng đất.", "header": "['Thông tư 12-TC/TCT năm 1993 hướng dẫn Chỉ thị 208-TTg năm 1992 về việc tiếp tục lập sổ thuế theo hộ gia đình do Bộ Tài chính ban hành'\n 'Mục II. Xử lý những vướng mắc trong quá trình lập sổ t