Document ID: 418925

Title: VỀ GIẢI PHÁP KHUYẾN KHÍCH, THÚC ĐẨY DOANH NGHIỆP ĐẦU TƯ VÀO NÔNG NGHIỆP HIỆU QUẢ, AN TOÀN VÀ BỀN VỮNG

Legal Basis:
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 142/2016/QH13 ngày 12 tháng 4 năm 2016 của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020;
Căn cứ Nghị quyết số 69/2018/QH14 ngày 08 tháng 11 năm 2018 của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019;
Căn cứ Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa X về Nông nghiệp nông dân nông thôn;

Full Text:
[{"full_text": "Mục I. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH. Thời gian qua, tốc độ tăng trưởng khu vực nông nghiệp đạt khá; năng suất, chất lượng và hiệu quả không ngừng được nâng cao. Hiện nay, Việt Nam đã đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia và trở thành nước xuất khẩu nông sản đứng thứ hai Đông Nam Á, thứ 15 trên thế giới với 10 nhóm mặt hàng nông, lâm, thủy sản có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ đô la Mỹ, trong đó có 6 mặt hàng có kim ngạch trên 3 tỷ đô la Mỹ. Những thành tựu quan trọng nói trên có được là việc ban hành các chính sách đúng đắn, hiệu quả của Đảng và Nhà nước; quyết tâm, nỗ lực của Chính phủ, các thiết chế thuộc khu vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn; việc áp dụng các loại hình tổ chức sản xuất trong nông nghiệp như: Doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, mô hình kinh tế hộ; trong đó, các doanh nghiệp đang là “trụ cột”, là “đầu tàu” trong việc thúc đẩy phát triển chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, ứng dụng khoa học công nghệ, nâng cao hiệu quả, năng lực cạnh tranh và phát triển thương hiệu nông sản Việt Nam. Thực tiễn cho thấy, Nhà nước cần có chính sách để doanh nghiệp hợp tác với các thiết chế khu vực nông nghiệp thúc đẩy việc tích tụ, tập trung đất đai tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp, ứng dụng công nghệ mới, công nghệ cao trong nông nghiệp, sản xuất các mặt hàng nông sản có chất lượng cao, giá trị gia tăng lớn hơn, có khả năng tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu; tạo vị thế xây dựng thương hiệu quốc gia Nông nghiệp Việt Nam, đồng thời, huy động các nguồn lực xã hội để đầu tư phát triển hạ tầng nông nghiệp, nông thôn và các dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp, tạo ra một môi trường cạnh tranh sôi động trong nông nghiệp. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp, tập đoàn lớn đã quan tâm và triển khai dự án đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, trong đó có những doanh nghiệp hàng đầu thế giới về tôm, cá tra, lúa gạo, cà phê, v.v... Hệ thống doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn đã hình thành với trên 50 nghìn doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, bao gồm cả sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm, kinh doanh vật tư nông nghiệp, nông sản, các dịch vụ phục vụ phát triển nông nghiệp, trong đó khoảng 10.200 doanh nghiệp trực tiếp đầu tư phát triển sản xuất nông, lâm, thủy sản. Tuy nhiên, sự phát triển của các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp còn rất khiêm tốn so với tiềm năng, lợi thế phát triển, số doanh nghiệp đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp hiện chỉ chiếm 8% tổng số doanh nghiệp trên cả nước, trong đó số doanh nghiệp nông lâm, thủy sản chiếm 1%. Hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp chủ yếu hiện nay vẫn ở dạng hộ sản xuất với hơn 9,2 triệu hộ với quy mô rất nhỏ. Quy mô các doanh nghiệp chủ yếu là nhỏ và siêu nhỏ, chiếm 96% số các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp. Năng suất lao động ngành nông nghiệp còn hạn chế, chỉ bằng khoảng 38% năng suất lao động bình quân chung cả nước và thấp hơn hầu hết các nước trong khu vực. Trình độ khoa học và công nghệ của các doanh nghiệp còn thấp, ứng dụng khoa học công nghệ và các tiêu chuẩn chất lượng quốc gia, quốc tế còn hạn chế, chỉ có gần 5% số doanh nghiệp nông lâm thủy sản được cấp chứng nhận VietGAP và tương đương. Thị trường tiêu thụ không bền vững; kênh tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi với các nhà phân phối bán lẻ lớn còn hạn chế; số doanh nghiệp tham gia sản xuất theo chuỗi giá trị còn ít; rào cản về kỹ thuật, chất lượng của thị trường quốc tế ngày càng khắt khe. Tình trạng vi phạm về an toàn thực phẩm vẫn diễn ra, đây là việc cạnh tranh sản xuất nông sản thiếu lành mạnh, vấn đề truyền thông chưa hiệu quả khi phản ánh một số trường hợp vi phạm đã vô tình tạo ra hiệu ứng tẩy chay hàng nông sản Việt vì vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp. Nông nghiệp Việt Nam còn rất nhiều tiềm năng và cơ hội cần khai thác đặc biệt quỹ đất, nguồn nhân lực và tận dụng cơ hội trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0. Vì vậy, trong thời gian tới, người dân và cộng đồng doanh nghiệp phải cùng nhau chung sức để đưa Việt Nam vươn lên vị trí hàng đầu thế giới về hàng nông sản. Để hiện thực hóa mục tiêu trên, Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện có hiệu quả những mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp sau đây:", "header": "['Nghị quyết 53/NQ-CP năm 2019 về giải pháp khuyến khích, thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp hiệu quả, an toàn và bền vững do Chính phủ ban hành']", "len_tokenizer": 767, "lower_segmented_text": "mục i . đánh_giá tình_hình . thời_gian qua , tốc_độ tăng_trưởng khu_vực nông_nghiệp đạt khá ; năng_suất , chất_lượng và hiệu_quả không ngừng được nâng cao . hiện_nay , việt_nam đã đảm_bảo vững_chắc an_ninh lương_thực quốc_gia và trở_thành nước xuất_khẩu nông_sản đứng thứ hai đông nam á , thứ 15 trên thế_giới với 10 nhóm mặt_hàng nông , lâm , thủy_sản có kim_ngạch xuất_khẩu trên 1 tỷ đô_la mỹ , trong đó có 6 mặt_hàng có kim_ngạch trên 3 tỷ đô_la mỹ . những thành_tựu quan_trọng nói trên có được là việc ban_hành các chính_sách đúng_đắn , hiệu_quả của đảng và nhà_nước ; quyết_tâm , nỗ_lực của chính_phủ , các thiết chế thuộc khu_vực nông_nghiệp , nông_dân , nông_thôn ; việc áp_dụng các loại_hình tổ_chức sản_xuất trong nông_nghiệp như : doanh_nghiệp , hợp_tác_xã , tổ_hợp_tác , trang_trại , mô_hình kinh_tế hộ ; trong đó , các doanh_nghiệp đang là “ trụ_cột ” , là “ đầu_tàu ” trong việc thúc_đẩy phát_triển chuỗi giá_trị sản_xuất nông_nghiệp theo hướng sản_xuất hàng_hóa quy_mô lớn , ứng_dụng khoa_học công_nghệ , nâng cao hiệu_quả , năng_lực cạnh_tranh và phát_triển thương_hiệu nông_sản việt_nam . thực_tiễn cho thấy , nhà_nước cần có chính_sách để doanh_nghiệp hợp_tác với các thiết chế khu_vực nông_nghiệp thúc_đẩy việc tích_tụ , tập_trung đất_đai tạo điều_kiện thuận_lợi nhất cho sản_xuất nông_nghiệp quy_mô lớn , cơ_giới_hóa sản_xuất nông_nghiệp , ứng_dụng công_nghệ mới , công_nghệ_cao trong nông_nghiệp , sản_xuất các mặt_hàng nông_sản có chất_lượng cao , giá_trị gia_tăng lớn hơn , có khả_năng tham_gia vào các chuỗi giá_trị toàn_cầu ; tạo vị_thế xây_dựng thương_hiệu quốc_gia nông_nghiệp việt_nam , đồng_thời , huy_động các nguồn_lực xã_hội để đầu_tư phát_triển hạ_tầng nông_nghiệp , nông_thôn và các dịch_vụ hỗ_trợ nông_nghiệp , tạo ra một môi_trường cạnh_tranh sôi_động trong nông_nghiệp . hiện_nay , nhiều doanh_nghiệp , tập_đoàn lớn đã quan_tâm và triển_khai dự_án đầu_tư vào lĩnh_vực nông_nghiệp , trong đó có những doanh_nghiệp hàng_đầu thế_giới về tôm , cá_tra , lúa gạo , cà_phê , v . v ... hệ_thống doanh_nghiệp hoạt_động trong lĩnh_vực nông_nghiệp nông_thôn đã hình_thành với trên 50 nghìn doanh_nghiệp đầu_tư vào lĩnh_vực nông_nghiệp , bao_gồm cả sản_xuất , chế_biến , tiêu_thụ sản_phẩm , kinh_doanh vật_tư nông_nghiệp , nông_sản , các dịch_vụ phục_vụ phát_triển nông_nghiệp , trong đó khoảng 10.200 doanh_nghiệp trực_tiếp đầu_tư phát_triển sản_xuất nông , lâm , thủy_sản . tuy_nhiên , sự phát_triển của các doanh_nghiệp trong lĩnh_vực nông_nghiệp còn rất khiêm_tốn so với tiềm_năng , lợi_thế phát_triển , số doanh_nghiệp đầu_tư trong lĩnh_vực nông_nghiệp hiện chỉ chiếm 8 % tổng_số doanh_nghiệp trên cả nước , trong đó số doanh_nghiệp nông_lâm , thủy_sản chiếm 1 % . hình_thức tổ_chức sản_xuất nông_nghiệp chủ_yếu hiện_nay vẫn ở dạng hộ sản_xuất với hơn 9,2 triệu hộ với quy_mô rất nhỏ . quy_mô các doanh_nghiệp chủ_yếu là nhỏ và siêu nhỏ , chiếm 96 % số các doanh_nghiệp đầu_tư vào nông_nghiệp . năng_suất lao_động ngành nông_nghiệp còn hạn_chế , chỉ bằng khoảng 38 % năng_suất lao_động bình_quân chung cả nước và thấp hơn hầu_hết các nước trong khu_vực . trình_độ khoa_học và công_nghệ của các doanh_nghiệp còn thấp , ứng_dụng khoa_học công_nghệ và các tiêu_chuẩn chất_lượng quốc_gia , quốc_tế còn hạn_chế , chỉ có gần 5 % số doanh_nghiệp nông_lâm_thủy_sản được cấp chứng_nhận vietgap và tương_đương . thị_trường tiêu_thụ không bền_vững ; kênh tiêu_thụ sản_phẩm theo chuỗi với các nhà phân_phối bán_lẻ lớn còn hạn_chế ; số doanh_nghiệp tham_gia_sản_xuất theo chuỗi giá_trị còn ít ; rà