Document ID: 109756

Title: VỀ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ THÀNH LẬP TRƯỜNG, ĐẦU TƯ VÀ BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

Legal Basis:
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10; Căn cứ Luật hoạt động giám sát của Quốc hội số 05/2003/QH11; Sau khi xem xét Báo cáo kết quả giám sát số 329 /BC-UBTVQH12 ngày 26 tháng 5 năm 2010 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội;

Full Text:
[{"full_text": "Điều 1. Tán thành nội dung Báo cáo kết quả giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc thực hiện chính sách, pháp luật về thành lập trường, đầu tư và bảo đảm chất lượng đào tạo đối với giáo dục đại học từ năm 1998 đến năm 2009. Quốc hội nhận thấy: Từ chủ trương đúng đắn của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, sự tập trung chỉ đạo của Chính phủ, sự nỗ lực của ngành giáo dục, sự tận tụy, tâm huyết của các thế hệ cán bộ, giảng viên, tinh thần hiếu học của các thế hệ học sinh, sinh viên và truyền thống chăm lo cho giáo dục của nhân dân, giáo dục đại học nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng: công bằng xã hội trong giáo dục được cải thiện, các trường công lập đã giữ được vai trò nòng cốt trong đào tạo nguồn nhân lực; công tác xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh, nguồn lực xã hội đầu tư cho giáo dục ngày càng nhiều; quy mô giáo dục đại học tăng nhanh; ngân sách đầu tư cho giáo dục ngày càng tăng và phát huy hiệu quả. Giáo dục đại học đã đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu học tập của nhân dân, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, cung cấp cho đất nước nguồn nhân lực có trình độ cao, góp phần quan trọng vào thành công của sự nghiệp đổi mới, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, đưa đất nước tiến vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, việc thành lập trường, mở ngành, mở rộng quy mô đào tạo trong thời gian qua còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo. Ngân sách nhà nước và nguồn thu từ học phí chưa bảo đảm được yêu cầu mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục đại học; cơ chế, chính sách về xã hội hoá chậm được bổ sung và đổi mới, ảnh hưởng đến khả năng thu hút nguồn vốn đầu tư cho các cơ sở giáo dục đại học; phương thức đầu tư, phân bổ kinh phí còn bất cập; cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các cơ sở giáo dục đại học còn chưa được thực hiện đầy đủ và thiếu đồng bộ. Đội ngũ cán bộ, giảng viên còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng; cơ sở vật chất, trang thiết bị chưa đáp ứng được yêu cầu; suất đầu tư cho sinh viên còn thấp; chất lượng đầu vào chưa cao; nội dung, phương pháp đào tạo và công tác quản lý giáo dục đại học chậm được đổi mới; chưa có sự gắn kết giữa cơ sở giáo dục đại học và người sử dụng lao động; công tác nghiên cứu khoa học chưa được coi trọng và chưa gắn kết chặt chẽ với hoạt động đào tạo; hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục mới bắt đầu triển khai và còn mang tính thử nghiệm. Vì vậy, chất lượng đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. Những hạn chế, bất cập nêu trên trong giáo dục đại học là do hệ thống pháp luật về giáo dục đại học chưa hoàn thiện, việc hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục còn chậm; một số chính sách về giáo dục đại học ban hành chậm, chưa đồng bộ và chưa được sửa đổi, bổ sung kịp thời để phù hợp với thực tiễn; nguồn lực tài chính của đất nước còn hạn hẹp, các điều kiện phục vụ đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao đối với chất lượng nguồn nhân lực; yêu cầu về kinh phí, đất đai dành cho xây dựng cơ sở giáo dục đại học ở một số địa phương chậm được giải quyết; hệ thống quản lý cồng kềnh, chồng chéo, phân tán; công tác quản lý cũng như việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của giáo dục đại học, chưa kịp thời tổng kết, rút kinh nghiệm từ thực tiễn; việc mở rộng quy mô đào tạo chưa gắn với năng lực đào tạo và nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực; chưa xây dựng được hệ thống dự báo về nhu cầu lao động theo trình độ đào tạo, cơ cấu ngành nghề. Quốc hội yêu cầu Chính phủ tiếp tục tổ chức phân tích, đánh giá cụ thể các hạn chế, bất cập nêu trên để rút kinh nghiệm, kịp thời có những giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục đại học.", "header": "['Nghị quyết 50/2010/QH12 thực hiện chính sách, pháp luật về thành lập trường, đầu tư và bảo đảm chất lượng đào tạo đối với giáo dục đại học do Quốc hội ban hành']", "len_tokenizer": 625, "lower_segmented_text": "điều 1 . tán_thành_nội_dung báo_cáo kết_quả giám_sát của ủy_ban thường_vụ quốc_hội về việc thực_hiện chính_sách , pháp_luật về thành_lập_trường , đầu_tư và bảo_đảm chất_lượng đào_tạo đối_với giáo_dục đại_học từ năm 1998 đến năm 2009 . quốc_hội nhận thấy : từ chủ_trương đúng_đắn của đảng và chính_sách , pháp_luật của nhà_nước , sự tập_trung chỉ_đạo của chính_phủ , sự nỗ_lực của ngành giáo_dục , sự tận_tụy , tâm_huyết của các thế_hệ cán_bộ , giảng_viên , tinh_thần hiếu_học của các thế_hệ học_sinh , sinh_viên và truyền_thống chăm_lo cho giáo_dục của nhân_dân , giáo_dục đại_học nước ta đã đạt được những thành_tựu quan_trọng : công_bằng xã_hội trong giáo_dục được cải_thiện , các trường công_lập đã giữ được vai_trò nòng_cốt trong đào_tạo nguồn nhân_lực ; công_tác xã_hội_hóa giáo_dục được đẩy_mạnh , nguồn_lực xã_hội đầu_tư cho giáo_dục ngày_càng nhiều ; quy_mô giáo_dục đại_học tăng nhanh ; ngân_sách đầu_tư cho giáo_dục ngày_càng tăng và phát_huy_hiệu_quả . giáo_dục đại_học đã đáp_ứng ngày_càng tốt hơn nhu_cầu học_tập của nhân_dân , nâng cao dân_trí , đào_tạo nhân_lực , bồi_dưỡng nhân_tài , cung_cấp cho đất_nước nguồn nhân_lực có trình_độ cao , góp_phần quan_trọng vào thành_công của sự_nghiệp đổi_mới , giữ vững định_hướng xã_hội chủ_nghĩa , đưa đất_nước tiến vào thời_kỳ đẩy_mạnh công_nghiệp_hóa , hiện_đại_hóa và hội_nhập quốc_tế . tuy_nhiên , việc thành_lập_trường , mở ngành , mở_rộng quy_mô đào_tạo trong thời_gian qua còn bộc_lộ nhiều hạn_chế , bất_cập , ảnh_hưởng đến chất_lượng đào_tạo . ngân_sách nhà_nước và nguồn thu từ học_phí chưa bảo_đảm được yêu_cầu mở_rộng quy_mô và nâng cao chất_lượng giáo_dục đại_học ; cơ_chế , chính_sách về xã_hội_hoá chậm được bổ_sung và đổi_mới , ảnh_hưởng đến khả_năng thu_hút nguồn vốn đầu_tư cho các cơ_sở giáo_dục đại_học ; phương_thức đầu_tư , phân_bổ kinh_phí còn bất_cập ; cơ_chế tự_chủ , tự chịu trách_nhiệm đối_với các cơ_sở giáo_dục đại_học còn chưa được thực_hiện đầy_đủ và thiếu đồng_bộ . đội_ngũ cán_bộ , giảng_viên còn thiếu về số_lượng , yếu về chất_lượng ; cơ_sở vật_chất , trang thiết_bị chưa đáp_ứng được yêu_cầu ; suất đầu_tư cho sinh_viên còn thấp ; chất_lượng đầu_vào chưa cao ; nội_dung , phương_pháp đào_tạo và công_tác quản_lý giáo_dục đại_học chậm được đổi_mới ; chưa có sự gắn_kết giữa cơ_sở giáo_dục đại_học và người sử_dụng lao_động ; công_tác nghiên_cứu khoa_học chưa được coi_trọng và chưa gắn_kết chặt_chẽ với hoạt_động đào_tạo ; hoạt_động kiểm_định chất_lượng giáo_dục mới bắt_đầu triển_khai và còn mang tính thử_nghiệm . vì_vậy , chất_lượng đào_tạo chưa đáp_ứng được yêu_cầu ngày_càng cao của sự_nghiệp công_nghiệp_hoá , hiện_đại_hoá và hội_nhập quốc_tế . những hạn_chế , bất_cập nêu trên trong giáo_dục đại_học là do hệ_thống pháp_luật về giáo_dục đại_học chưa hoàn_thiện , việc hướng_dẫn thi_hành luật giáo_dục còn chậm ; một_số chính_sách về giáo_dục đại_học ban_hành chậm , chưa đồng_bộ và chưa được sửa_đổi , bổ_sung kịp_thời để phù_hợp với thực_tiễn ; nguồn_lực tài_chính của đất_nước còn hạn_hẹp , các điều_kiện phục_vụ đào_tạo chưa đáp_ứng yêu_cầu ngày_càng cao đối_với chất_lượng nguồn nhân_lực ; yêu_cầu về kinh_phí , đất_đai dành cho xây_dựng cơ_sở giáo_dục đại_học ở một_số địa_phương chậm được giải_quyết ; hệ_thống quản_lý cồng_kềnh , chồng_chéo , phân_tán ; công_tác quản_lý cũng như việc đào_tạo , bồi_dưỡng cán_bộ quản_lý giáo_dục chưa đáp_ứng yêu_cầu phát_triển của giáo_dục đại_học , chưa kịp_thời tổng_kết , rút kinh_nghiệm từ thực_tiễn ; việc mở_rộng quy_mô đào_tạo chưa gắn với năng_lực đào_tạo và nhu_cầu sử_dụng nguồn nhân_lực ; chưa xây_dựng được hệ_thống dự_báo về nhu_cầu lao_động theo trình_độ đào_tạo , cơ_cấu ngành_nghề . quốc_hội yêu_cầu chính_phủ tiếp_tục tổ_chức phân_tích , đánh_giá cụ_thể các hạn_chế , bất_cập nêu trên để rút kinh_nghiệm , kịp_thời có những giải_pháp hữu_hiệu nhằm nâng cao chất_lượng , hiệu_quả giáo_dục đại_học .", "pointer_link": "['Điều 1']"}, {"full_text": "Khoản 1. Trình Quốc hội xem xét, ban hành Luật Giáo dục đại học trong năm 2011; sớm trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung các luật liên quan để điều chỉnh toàn diện, đồng bộ và thống nhất các vấn đề về thành lập trường, đầu tư, bảo đảm chất lượng và các vấn đề khác đối với giáo dục đại h