Document ID: 430864

Title: PHIÊN HỌP CHÍNH PHỦ THƯỜNG KỲ THÁNG 11 NĂM 2019

Legal Basis:
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;
Căn cứ Nghị định số 138/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 2016 của Chính phủ ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ;

Full Text:
[{"full_text": "Điều 1. Về tình hình thực hiện Nghị quyết 01/NQ-CP , tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2019. Chính phủ thống nhất đánh giá: Tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2019 tiếp tục chuyển biến tích cực trong bối cảnh kinh tế thế giới, khu vực tiếp tục có nhiều khó khăn. Kinh tế vĩ mô ổn định; lạm phát được kiểm soát, CPI bình quân 11 tháng tăng 2,57%, thấp nhất trong 3 năm gần đây; lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên giảm. Thu ngân sách nhà nước đạt 97,5% dự toán năm. Vốn FDI thực hiện tăng 7,2% so với cùng kỳ. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản phát triển ổn định; chăn nuôi gia cầm tăng 12%; sản lượng thủy sản tăng 5,7%, riêng sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng 11 tăng 7,9%; dịch tả lợn châu Phi được kiểm soát. Sản xuất công nghiệp tăng khá, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tăng 9,3% so với cùng kỳ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%, riêng tháng 11 năm 2019 tăng 12,6%, cao nhất trong 6 năm trở lại đây. Thu hút khách quốc tế tiếp tục tăng mạnh, trong tháng đạt trên 1,8 triệu lượt người, cao nhất từ trước đến nay; tính chung 11 tháng đạt gần 16,3 triệu lượt người, tăng 15,4%. Xuất khẩu tăng 7,8%, xuất siêu đạt 9,1 tỷ USD; trong đó kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước tăng 18,1%, cao hơn nhiều so với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (3,8%). Cả nước có 126,7 nghìn doanh nghiệp được thành lập mới, tăng 4,5% về số doanh nghiệp và tăng 27,5% về vốn đăng ký. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục, an sinh xã hội, khoa học và công nghệ, giải quyết việc làm, bảo vệ môi trường, thông tin, truyền thông tiếp tục được quan tâm. Đời sống dân cư được cải thiện, số hộ thiếu đói giảm 34,2%. Thể thao đạt nhiều thành tích đáng khích lệ. Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Công tác đối ngoại được tăng cường và đạt nhiều kết quả tích cực. Bên cạnh những kết quả đạt được, nước ta còn những hạn chế, tồn tại và tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Sản xuất công nghiệp có xu hướng tăng chậm lại. Giá và kim ngạch xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản chủ lực giảm. Giải ngân vốn đầu tư công vẫn chưa có nhiều chuyển biến. Sản xuất kinh doanh một số lĩnh vực còn gặp khó khăn, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, tạm ngừng hoạt động chờ giải thể, doanh nghiệp giải thể tăng. Tình trạng phá rừng vẫn diễn ra ở nhiều nơi, nhất là khu vực Tây Nguyên. Nhiều vấn đề xã hội phát sinh còn gây bức xúc; tình hình an ninh trật tự, tai nạn giao thông, cháy nổ, ô nhiễm không khí ở một số nơi diễn biến phức tạp. Trong tháng cuối năm 2019, Chính phủ yêu cầu các cấp, các ngành không được chủ quan, tiếp tục thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp đã đề ra để hoàn thành vượt mức các mục tiêu, chỉ tiêu mà Quốc hội giao năm 2019, tạo nền tảng vững chắc triển khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2020; các Thành viên Chính phủ cần có giải pháp cụ thể, khắc phục kịp thời các tồn tại, hạn chế thuộc ngành, lĩnh vực phụ trách, nhất là những vấn đề đã được cử tri và Quốc hội nêu tại kỳ họp vừa qua; đồng thời chủ động đề ra phương hướng nhiệm vụ, giải pháp và tích cực chuẩn bị các điều kiện cần thiết, bảo đảm triển khai kế hoạch năm 2020 ngay từ đầu năm; trong đó tập trung vào một số nội dung sau: - Các bộ, cơ quan, địa phương tiếp tục theo dõi sát diễn biến kinh tế thế giới, khu vực, diễn biến cung cầu thị trường, giá cả nhất là các mặt hàng thiết yếu để có giải pháp, đối sách phù hợp trong điều hành các chính sách vĩ mô, bình ổn thị trường giá cả, ưu tiên kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu trong dịp cuối năm và Tết Nguyên đán sắp tới. - Từng bộ, ngành bám sát kịch bản tăng trưởng, có giải pháp điều hành kịp thời, phù hợp để thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh thuộc ngành, lĩnh vực quản lý, bảo đảm hoàn thành cao nhất chỉ tiêu đề ra. Tích cực đôn đốc, tháo gỡ vướng mắc, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công kế hoạch 2019 đạt kết quả cao nhất, nhất là đối với các dự án lớn, quan trọng, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; tăng cường giám sát phòng, chống tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm, sử dụng hiệu quả vốn đầu tư công. - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, thận trọng, tạo thuận lợi, đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhất là đối với các ngành, lĩnh vực ưu tiên. Bảo đảm an ninh, an toàn tiền tệ trong điều kiện nền kinh tế số; lưu thông tiền tệ thông suốt, nhất là trong dịp cuối năm 2019 và đầu năm 2020. Tiếp tục thực hiện các giải pháp tăng cường khả năng tiếp cận vốn tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh và nhu cầu tiêu dùng chính đáng của người dân, góp phần hạn chế tín dụng đen. - Bộ Tài chính tập trung chỉ đạo hoàn thành dự toán ngân sách nhà nước năm 2019, phấn đấu tăng thu cao hơn mức đã báo cáo Quốc hội, góp phần tạo thêm nguồn lực đầu tư cho các dự án, công trình quan trọng, cấp bách và cho cải cách tiền lương. Phối hợp với Bộ Công Thương chỉ đạo các địa phương tăng cường công tác phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả; xử lý nghiêm theo quy định các trường hợp vi phạm. - Bộ Kế hoạch và Đầu tư tập trung chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính rà soát việc phân bổ vốn đầu tư công, tránh tình trạng để dư nguồn, không phân bổ hết kế hoạch vốn; hoàn thành công tác giao kế hoạch năm 2020 trước ngày 31 tháng 12 năm 2019. Đôn đốc các bộ, ngành và địa phương tích cực triển khai các giải pháp đã đề ra tại Nghị quyết số 94/NQ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2019 của Chính phủ và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công năm 2019. Chủ động rà soát, trình cấp có thẩm quyền điều chỉnh kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước năm 2019 của những dự án giải ngân chậm, không có khả năng thực hiện sang dự án có khả năng giải ngân cao hơn, sớm hoàn thành đưa vào sử dụng. - Chính phủ thống nhất với báo cáo về việc cho phép bố trí kế hoạch đầu tư công năm 2020 trong năm 2019 những dự án sử dụng nguồn dự phòng 10% vốn ngân sách nhà nước tại địa phương có quyết định đầu tư, quyết định chuẩn bị đầu tư và dự toán chuẩn bị đầu tư sau ngày 31 tháng 10 năm 2019 đã được thực hiện theo quy định tại Khoản 4 Điều 3 của Quy chế làm việc của Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định số 138/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 2016. - Bộ Công Thương tập trung chỉ đạo, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong phát triển sản xuất công nghiệp; hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho triển khai thực hiện các dự án công nghiệp, nhất là các dự án then chốt, quy mô lớn nhằm gia tăng năng lực sản xuất. Tiếp tục đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, đồng thời duy trì ổn định các thị trường chủ lực. Phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan xây dựng quy chuẩn, tiêu chuẩn, hàng rào thương mại để phòng vệ thương mại, bảo vệ sản xuất trong nước phù hợp với thông lệ và các cam kết quốc tế. Tiếp tục thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh cho các sản phẩm Việt Nam, xây dựng thương hiệu Việt Nam trong bối cảnh hội nhập; đẩy mạnh triển khai Chương trình “Cuộc vận động người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, thúc đẩy tiêu dùng nội địa; tăng cường công tác quản lý cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng, ngăn chặn hàng giả, hàng kém chất lượng, nhất là trong dịp cuối năm và Tết Nguyên đán. Chỉ đạo các địa phương có phương án chuẩn bị tốt nguồn cung các mặt hàng thiết yếu cho người dân, nhất là đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo, vùng bị ảnh hưởng thiên tai, bão lũ, bảo đảm không tăng giá lương thực, thực phẩm. Đẩy nhanh tiến trình phê chuẩn Hiệp định EVFTA vào nửa đầu năm 2020. Báo cáo Thủ tướng Chính phủ về cơ cấu nguồn điện và quy định tính giá điện mặt trời. - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Bộ Công Thương có phương án bình ổn giá thịt lợn dịp cuối năm, không để thiết hụt nguồn cung, gây sốt giá. Rà soát, đánh giá hiệu quả, có giải pháp cơ cấu lại đội tàu đánh cá theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP , đảm bảo năng lực khai thác phù hợp với nguồn lợi hải sản. Mở rộng thị trường xuất khẩu chính ngạch các sản phẩm nông sản; có giải pháp bảo đảm phát triển sản xuất và tiêu thụ nông sản hiệu quả, bền vững. Khẩn trương triển khai c