Document ID: 396684

Title: VỀ MỘT SỐ NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN VAY NƯỚC NGOÀI

Legal Basis:
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Căn cứ Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân số 87/2015/QH13;
Căn cứ Nghị quyết số 412/2017/NQ-UBTVQH14 ngày 24 tháng 7 năm 2017 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Chương trình giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội năm 2018 và Nghị quyết số 424/NQ-UBTVQH14 ngày 23 tháng 8 năm 2017 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thành lập Đoàn giám sát “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý và sử dụng nguồn vốn vay nước ngoài giai đoạn 2011-2016”;

Full Text:
[{"full_text": "Điều 1. Đánh giá kết quả thực hiện chính sách pháp luật về quản lý và sử dụng nguồn vốn vay nước ngoài. Cơ bản thống nhất với Báo cáo số 309/BC-ĐGS ngày 09/08/2018 của Đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về: “Kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý và sử dụng nguồn vốn vay nước ngoài giai đoạn 2011-2016”. Trong điều kiện nguồn thu ngân sách nhà nước còn hạn hẹp và yêu cầu đầu tư phát triển rất lớn, việc vay và sử dụng nguồn vốn vay nước ngoài (gồm vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi nước ngoài) trong giai đoạn 2011 - 2016 là cần thiết. Nguồn lực tài chính này là khá lớn, góp phần bù đắp thiếu hụt về ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển, có vai trò quan trọng trong việc xây dựng hệ thống hạ tầng, kinh tế - xã hội, giáo dục, y tế, văn hóa, giao thông vận tải, nông nghiệp nông thôn, bảo vệ môi trường, tác động thúc đẩy chuyển giao công nghệ và tiếp thu khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các nước phát triển trên thế giới, tạo việc làm, khai thông các nguồn lực tiềm năng của nền kinh tế. Nguồn vốn vay nước ngoài tăng 59% so với giai đoạn trước thể hiện sự ủng hộ của các Chính phủ và các định chế tài chính quốc tế với Việt Nam do vị thế, uy tín của đất nước tăng cao. Để có cơ sở triển khai và tăng cường quản lý nguồn vốn vay nước ngoài, hệ thống pháp luật đã từng bước được hoàn thiện và phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, đáp ứng được yêu cầu quản lý và sử dụng vốn nước ngoài. Việc quản lý, sử dụng nguồn vốn này đã đạt được nhiều mặt tích cực, nhìn chung các dự án sử dụng vốn vay nước ngoài là có hiệu quả, việc giải ngân khá kịp thời, khắc phục dần tình trạng thiếu vốn đối ứng. Công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán đã được tăng cường, góp phần uốn nắn, chấn chỉnh các sai sót, sai phạm và tăng cường hiệu quả của một số dự án sử dụng nguồn vốn vay nước ngoài. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, hệ thống pháp luật và công tác quản lý vốn vay nước ngoài, bao gồm cả vay nước ngoài có bảo lãnh của Chính phủ cũng bộc lộ một số hạn chế, bất cập. Một số văn bản quy phạm pháp luật còn chưa được ban hành kịp thời; chưa phù hợp với thông lệ quốc tế. Một số dự án chưa phù hợp với khả năng trả nợ; còn tồn tại những điều kiện ràng buộc từ phía nhà tài trợ gây khó khăn cho tổ chức thực hiện và ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế - xã hội. Việc xây dựng kế hoạch, phân bổ và giải ngân vốn có thời điểm còn chậm, chưa chấp hành nghiêm kỷ luật tài chính; có dự án chưa được bố trí đầy đủ, kịp thời vốn đối ứng; có trường hợp chưa tuân thủ cam kết với nhà tài trợ. Một số dự án có chất lượng chuẩn bị chưa cao, hiệu quả thấp, tiếp nhận công nghệ lạc hậu, thời gian chuẩn bị kéo dài làm tăng tổng mức đầu tư, chưa đồng bộ giữa các hạng mục thành phần, thiếu tính liên kết giữa các vùng, miền làm giảm hiệu quả đầu tư, gây lãng phí nguồn lực. Sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, địa phương trong quản lý dự án trong một số trường hợp chưa chặt chẽ. Công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giám sát việc thực hiện dự án sử dụng vốn vay nước ngoài chưa được thường xuyên, đặc biệt là đánh giá hiệu quả đầu tư, khi phát hiện ra vấn đề xử lý chưa kịp thời và chưa nghiêm. Những hạn chế, vướng mắc, bất cập nêu trên do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Khuôn khổ pháp luật chưa hoàn thiện, việc phân công, phân nhiệm còn phân tán, chưa gắn trách nhiệm đi vay và trách nhiệm trả nợ, trách nhiệm quản lý và giải trình chưa rõ. Nhận thức về ý nghĩa của nguồn lực vốn vay nước ngoài trong một số trường hợp còn hạn chế, còn quan niệm nguồn vốn này là được cấp phát, cho không nên chưa thực sự chú trọng đến trách nhiệm phải quản lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả. Năng lực quản lý còn chưa đáp ứng yêu cầu, việc tổ chức thực hiện dự án còn thiếu tính chuyên nghiệp; phương pháp triển khai chưa phù hợp, chưa chủ động xây dựng những tiêu chí đánh giá cụ thể từ phía Việt Nam.", "header": "['Nghị quyết 582/NQ-UBTVQH14 năm 2018 về nhiệm vụ và giải pháp tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện chính sách pháp luật về quản lý và sử dụng vốn vay nước ngoài do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành']", "len_tokenizer": 675, "lower_segmented_text": "điều 1 . đánh_giá kết_quả_thực_hiện chính_sách pháp_luật về quản_lý và sử_dụng nguồn vốn vay nước_ngoài . cơ_bản thống_nhất với báo_cáo số 309 / bc - đgs ngày 09 / 08 / 2018 của đoàn giám_sát của ủy_ban thường_vụ quốc_hội về : “ kết_quả giám_sát việc thực_hiện chính_sách , pháp_luật về quản_lý và sử_dụng nguồn vốn vay nước_ngoài giai_đoạn 2011 - 2016 ” . trong điều_kiện nguồn thu ngân_sách nhà_nước còn hạn_hẹp và yêu_cầu đầu_tư phát_triển rất lớn , việc vay và sử_dụng nguồn vốn vay nước_ngoài ( gồm vốn viện_trợ phát_triển chính_thức ( oda ) và vốn vay ưu_đãi nước_ngoài ) trong giai_đoạn 2011 - 2016 là cần_thiết . nguồn_lực tài_chính này là khá lớn , góp_phần bù_đắp thiếu_hụt về ngân_sách nhà_nước cho đầu_tư phát_triển , có vai_trò quan_trọng trong việc xây_dựng hệ_thống hạ_tầng , kinh_tế - xã_hội , giáo_dục , y_tế , văn_hóa , giao_thông vận_tải , nông_nghiệp nông_thôn , bảo_vệ môi_trường , tác_động thúc_đẩy chuyển_giao công_nghệ và tiếp_thu khoa_học kỹ_thuật , kinh_nghiệm quản_lý tiên_tiến của các nước phát_triển trên thế_giới , tạo việc_làm , khai_thông các nguồn_lực tiềm_năng của nền kinh_tế . nguồn vốn vay nước_ngoài tăng 59 % so với giai_đoạn trước thể_hiện sự ủng_hộ của các chính_phủ và các định_chế_tài_chính_quốc_tế với việt_nam do vị_thế , uy_tín của đất_nước tăng cao . để có cơ_sở triển_khai và tăng_cường quản_lý nguồn vốn vay nước_ngoài , hệ_thống pháp_luật đã từng bước được hoàn_thiện và phù_hợp với đường_lối , chính_sách của đảng , nhà_nước , đáp_ứng được yêu_cầu quản_lý và sử_dụng vốn nước_ngoài . việc quản_lý , sử_dụng nguồn vốn này đã đạt được nhiều mặt tích_cực , nhìn_chung các dự_án sử_dụng vốn vay nước_ngoài là có hiệu_quả , việc giải_ngân khá kịp_thời , khắc_phục dần tình_trạng thiếu vốn đối_ứng . công_tác thanh_tra , kiểm_tra , kiểm_toán đã được tăng_cường , góp_phần uốn_nắn , chấn_chỉnh các sai_sót , sai_phạm và tăng_cường hiệu_quả của một_số dự_án sử_dụng nguồn vốn vay nước_ngoài . tuy_nhiên , trong quá_trình thực_hiện , hệ_thống pháp_luật và công_tác quản_lý vốn vay nước_ngoài , bao_gồm cả vay nước_ngoài có bảo_lãnh của chính_phủ cũng bộc_lộ một_số hạn_chế , bất_cập . một_số văn_bản quy_phạm_pháp_luật còn chưa được ban_hành kịp_thời ; chưa phù_hợp với thông_lệ quốc_tế . một_số dự_án chưa phù_hợp với khả_năng trả nợ ; còn tồn_tại những điều_kiện ràng_buộc từ phía nhà tài_trợ gây khó_khăn cho tổ_chức thực_hiện và ảnh_hưởng đến hiệu_quả kinh_tế - xã_hội . việc xây_dựng kế_hoạch , phân_bổ và giải_ngân vốn có thời_điểm còn chậm , chưa chấp_hành nghiêm kỷ_luật tài_chính ; có dự_án chưa được bố_trí đầy_đủ , kịp_thời vốn đối_ứng ; có trường_hợp chưa tuân_thủ cam_kết với nhà tài_trợ . một_số dự_án có chất_lượng chuẩn_bị chưa cao , hiệu_quả thấp , tiếp_nhận công_nghệ_lạc_hậu , thời_gian chuẩn_bị kéo_dài làm tăng tổng mức đầu_tư , chưa đồng_bộ giữa các hạng_mục thành_phần , thiếu tính liên_kết giữa các vùng , miền làm giảm hiệu_quả đầu_tư , gây lãng_phí nguồn_lực . sự phối_hợp giữa các cơ_quan , tổ_chức , địa_phương trong quản_lý dự_án trong một_số trường_hợp chưa chặt_chẽ . công_tác thanh_tra , kiểm_tra , kiểm_toán , giám_sát việc thực_hiện dự_án sử_dụng vốn vay nước_ngoài chưa được thường_xuyên , đặc_biệt là đánh_giá hiệu_quả đầu_tư , khi phát_hiện ra vấn_đề xử_lý chưa kịp_thời và chưa nghiêm . những hạn_chế , vướng_mắc , bất_cập nêu trên do nhiều nguyên_nhân khách_quan và chủ_quan . khuôn_khổ pháp_luật chưa hoàn_thiện , việc phân_công , phân_nhiệm còn phân_tán , chưa gắn trách_nhiệm đi vay và trách_nhiệm trả nợ , trách_nhiệm quản_lý và giải_trình chưa rõ . nhận_thức về ý_nghĩa của nguồn_lực vốn vay nước_ngoài trong một_số trường_hợp còn hạn_chế , còn quan_niệm nguồn vốn này là được cấp_phát , cho không nên chưa thực_sự chú_trọng đến trách_nhiệm phải quản_lý , sử_dụng tiết_kiệm , hiệu_quả . năng_lực quản_lý còn chưa đáp_ứng yêu_cầu , việc tổ_chức thực_hiện dự_án còn thiếu tính chuyên_nghiệp ; phương_pháp triển_khai chưa phù_hợp , chưa chủ_động xây_dựng những tiêu_chí đánh_giá cụ_thể từ phía việt_nam .", "pointer_link": "['Điều 1']"}, {"full_text"