Document ID: 287990

Title: None

Legal Basis:
Căn cứ nghị quyết 1373(2001) của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc, được thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2001, yêu cầu các Quốc gia thực hiện các biện pháp ngăn ngừa và loại bỏ các hoạt động khủng bố, bao gồm cả việc kêu gọi các Quốc gia thi hành đầy đủ các công ước về chống khủng bố,

Full Text:
[{"full_text": "Chương V. . AN TOÀN HÀNG HẢI Quy định 19 Các yêu cầu về trang bị đối với các hệ thống và thiết bị hàng hải\n1. Các tiểu mục .4, .5 và .6 của mục 2.4.2 được thay thế như sau: “.4 đối với các tàu không phải là tàu khách hoặc tàu chở hàng lỏng, có tổng dung tích từ 300 đến 50.000, không muộn hơn đợt kiểm tra an toàn trang thiết bị đầu tiên* sau ngày 1 tháng 7 năm 2004 hoặc trước ngày 31 tháng 12 năm 2004, lấy ngày nào sớm hơn; và”\n2. Thêm câu mới sau đây vào cuối tiểu mục .7 của mục 2.4 hiện có: “Tàu được trang bị AIS phải duy trì AIS luôn hoạt động trừ khi có các thỏa thuận, qui tắc hoặc tiêu chuẩn quốc tế quy định việc bảo vệ thông tin hàng hải.”", "header": "['Bộ Luật quốc tế về an ninh tàu và bến cảng và bổ sung sửa đổi 2002 của Solas (ISPS)']", "len_tokenizer": 152, "lower_segmented_text": "chương v . . an_toàn hàng_hải quy_định 19 các yêu_cầu về trang_bị đối_với các hệ_thống và thiết_bị hàng_hải \n 1 . các tiểu mục . 4 , . 5 và . 6 của mục 2.4.2 được thay_thế như sau : “ . 4 đối_với các tàu không phải là tàu khách hoặc tàu chở hàng lỏng , có tổng_dung_tích từ 300 đến 50.000 , không muộn hơn đợt kiểm_tra an_toàn trang thiết_bị đầu_tiên * sau ngày 1 tháng 7 năm 2004 hoặc trước ngày 31 tháng 12 năm 2004 , lấy ngày nào sớm hơn ; và ” \n 2 . thêm câu mới sau đây vào cuối tiểu mục . 7 của mục 2.4 hiện có : “ tàu được trang_bị ais phải duy_trì ais luôn hoạt_động trừ khi có các thỏa_thuận , qui_tắc hoặc tiêu_chuẩn quốc_tế quy_định việc bảo_vệ thông_tin hàng_hải . ”", "pointer_link": "['Chương V']"}, {"full_text": "Chương XI. CÔNG VIỆC CỦA IMO/ILO VỀ AN NINH CẢNG CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN CÓ THỂ. CÁC BIỆN PHÁP ĐẶC BIỆT ĐỂ NÂNG CAO AN TOÀN HÀNG HẢI\n3. Chương XI hiện có được đánh số lại là chương XI-1. Quy định 3 Số nhận dạng tàu 3. Bản ghi lý lịch liên tục phải do Chính quyền hành chính cấp cho mỗi tàu treo cờ của họ và tối thiểu phải bao gồm các thông tin sau đây: .1. tên quốc gia tàu treo cờ; .2. ngày đăng ký ở quốc gia đó; .3. số nhận dạng tàu theo quy định 3; .4. tên tàu; .5. cảng đăng ký của tàu; .6. tên của (các) chủ tàu đăng ký và (các) địa chỉ đăng ký của họ; .7. tên của (các) người thuê tàu trần đăng ký và (các) địa chỉ đăng ký của họ, nếu có; .8. tên Công ty, như định nghĩa trong quy định IX/1, địa chỉ đăng ký của công ty và (các) địa chỉ từ đó họ thực hiện các hoạt động quản lý an toàn; .9. tên của tất cả các tổ chức phân cấp mà tàu mang cấp; .10. tên của Chính quyền hành chính hoặc Chính phủ ký kết hoặc tổ chức được công nhận cấp Giấy chứng nhận Phù hợp (hoặc Giấy chứng nhận Phù hợp Tạm thời), được nêu trong Bộ luật ISM như định nghĩa ở quy định IX/1, cho Công ty khai thác tàu và tên của cơ quan thực hiện việc đánh giá trên cơ sở đó Giấy chứng nhận phù hợp được cấp, nếu cơ quan thực hiện việc đánh giá không phải là cơ quan cấp Giấy chứng nhận; .11. tên của Chính quyền hành chính hoặc Chính phủ ký kết hoặc tổ chức được công nhận cấp Giấy chứng nhận Quản lý An toàn quốc tế (hoặc Giấy chứng nhận Quản lý An toàn quốc tế tạm thời), được nêu trong Bộ luật ISM như định nghĩa ở quy định IX/1, cho tàu và tên của cơ quan thực hiện việc đánh giá trên cơ sở đó Giấy chứng nhận Quản lý An toàn quốc tế được cấp, nếu cơ quan thực hiện việc đánh giá không phải là cơ quan cấp Giấy chứng nhận; .12. tên của Chính quyền hành chính hoặc Chính phủ ký kết hoặc tổ chức được công nhận cấp Giấy chứng nhận Quốc tế về An ninh Tàu biển (hoặc Giấy chứng nhận quốc tế về An ninh Tàu biển Tạm thời), được nêu trong phần A của Bộ luật ISPS như định nghĩa trong quy định XI-2/1, cho tàu và tên của cơ quan thực hiện việc thẩm tra trên cơ sở đó Giấy chứng nhận được cấp, nếu cơ quan thực hiện việc thẩm tra không phải là cơ quan cấp Giấy chứng nhận; .13. ngày tàu ngừng đăng ký tại quốc gia đó. 3. Thuật ngữ “tất cả các tàu” sử dụng trong chương này là bất kỳ tàu nào áp dụng chương này. 3. Chương này không áp dụng cho tàu quân sự, thiết bị hải quân hoặc các tàu khác thuộc sở hữu hoặc được khai thác bởi Chính phủ ký kết và chỉ phục vụ các mục đích phi thương mại của Chính phủ. 3. Trước khi vào cảng hoặc khi đang ở trong cảng thuộc chủ quyền của một Chính phủ ký kết, tàu phải thỏa mãn các yêu cầu về cấp độ an ninh do Chính phủ ký kết đó đặt ra nếu cấp độ an ninh đó cao hơn cấp độ an ninh do Chính quyền hành chính của tàu đặt ra. 3. Hệ thống báo động an ninh tàu phải: .1. có khả năng tác động được từ buồng lái và ít nhất từ một vị trí khác; và .2. phù hợp với các tiêu chuẩn chức năng không thấp hơn các tiêu chuẩn được Tổ chức thông qua. 3. Khi xác định được nguy cơ tấn công, Chính phủ ký kết liên quan phải thông báo cho tàu liên quan và Chính quyền hành chính của tàu về: .1. cấp độ an ninh hiện thời; .2. các biện pháp an ninh tàu cần thực hiện để chống tấn công, phù hợp với các điều khoản của Bộ luật ISPS; và .3. các biện pháp an ninh Quốc gia ven bờ đã quyết định thực hiện, nếu phù hợp. Quy định 8 Quyền chủ động của thuyền trưởng về an toàn và an ninh 3. Các điều khoản bổ sung 3. Chính phủ ký kết phải ấn định và thông báo các biện pháp yêu cầu phải nêu ra trong kế hoạch an ninh bến cảng cho các cấp độ an ninh khác nhau, bao gồm cả khi được yêu cầu đệ trình bản Cam kết An ninh. Quy định 11 Các thỏa thuận an ninh thay thế 3. Tàu thuộc phạm vi của thỏa thuận như vậy không được thực hiện bất kỳ hoạt động tàu với tàu nào với tàu không thuộc phạm vi thỏa thuận đó. 3. Chính phủ ký kết phải, không muộn hơn ngày 01 tháng 07 năm 2004, thông báo cho Tổ chức một danh sách các kế hoạch an ninh bến cảng được phê duyệt cho các bến cảng trên lãnh thổ của họ cùng với địa điểm hoặc các địa điểm thuộc phạm vi mỗi kế hoạch an ninh bến cảng được phê duyệt và ngày phê duyệt tương ứng, và sau đó phải thông tin mỗi khi có một trong số các thay đổi sau đây: .1. các thay đổi về địa chỉ hoặc các địa chỉ đã nêu trong kế hoạch an ninh bến cảng được duyệt dự định thông báo hoặc đã thông báo cho Tổ chức. Trong trường hợp như vậy, những thông tin gửi đi phải nêu rõ những thay đổi về địa chỉ hoặc các địa chỉ nêu trong kế hoạch và ngày những thay đổi đó được thông báo hoặc được thực hiện; .2. dự định hoặc đã rút một kế hoạch an ninh bến cảng được duyệt, trước đó đã được đưa vào trong danh sách gửi cho Tổ chức, ra khỏi danh sách đó. Trong trường hợp như vậy, thông tin được gửi phải nêu rõ ngày việc rút khỏi danh sách đã hoặc sẽ có hiệu lực. Trong các trường hợp này thông tin phải được gửi cho Tổ chức một cách sớm nhất có thể thực hiện được; và .3. các bổ sung cho danh mục kế hoạch an ninh bến cảng được phê duyệt. Trong các trường hợp như vậy, thông tin gửi đi phải chỉ rõ vị trí hoặc các vị trí thuộc phạm vi kế hoạch và ngày phê duyệt. 3. Đề nghị các nhà hảo tâm, các tổ chức quốc tế, công nghiệp vận tải biển và công nghiệp cảng đóng góp tài chính, nhân lực và/hoặc vật chất cho Chương trình Hợp tác Kỹ thuật Thống nhất của Tổ chức cho các hoạt động an ninh hàng hải và cảng; 3. Khuyến nghị các Chính phủ Ký kết và Chính quyền hành chính liên quan ấn định các ngày, trước ngày áp dụng 1 tháng 7 năm 2004, yêu cầu: .1. soát xét và phê duyệt các Kế hoạch An ninh Tàu; .2. thẩm tra và chứng nhận tàu; và .3. soát xét và phê duyệt các Đánh giá An ninh Bến cảng và Kế hoạch An ninh Bến cảng; phải được đệ trình để cho phép các Chính phủ Ký kết, Chính quyền hành chính và các tổ chức an ninh được công nhận có đủ thời gian hoàn thành việc soát xét, phê duyệt, đủ thời gian cho quá trình thẩm tra và chứng nhận; và đủ thời gian cho các Công ty, tàu và bến cảng khắc phục bất kỳ sự không phù hợp nào; 3. Đồng thời khuyến khích các Chính phủ Ký kết thiết lập, khi họ xét thấy có thể cần thiết, và phổ biến, khi họ thấy phù hợp, những thông tin để tạo thuận lợi trong việc liên lạc và cộng tác giữa các Nhân viên An ninh Công ty, Sĩ quan An ninh Tàu với những người có thẩm quyền về an ninh của bến cảng không thuộc phạm vi áp dụng của chương XI-2 của Công ước, trước khi tàu vào cảng, hoặc neo ở ngoài cảng đó; 3. Đề nghị các Quốc gia cử các phái đoàn 3 thành phần của họ để tham dự vào Hội nghị Lao động quốc tế, vào tháng 6 năm 2003, và đưa ra sự xem xét thuận lợi để ký kết, chấp nhận, phê chuẩn hoặc gia nhập một cách sớm nhất có thể các văn kiện mới của ILO liên quan đến các tài liệu nhận dạng thuyền viên, khi nó được thông qua; 3.