Document ID: 56940

Title: HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ QUY ĐỊNH TRONG PHẦN THỨ NĂM “THI HÀNH BẢN ÁN VÀ QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN” CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Legal Basis:
Căn cứ vào Luật tổ chức Tòa án nhân dân; Để áp dụng đúng và thống nhất Phần thứ năm “Thi hành bản án và quyết định của Tòa án” của Bộ luật tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS); Sau khi có ý kiến thống nhất của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp,

Full Text:
[{"full_text": "Điều 1. 1. Về điểm a khoản 1 Điều 255 của BLTTHS Điều 1.2. Về khoản 2 Điều 255 của BLTTHS. Bản án, quyết định và những phần của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị, tức là kể từ ngày tiếp theo sau thời điểm kết thúc thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Thời điểm kết thúc thời hạn kháng cáo, kháng nghị được hướng dẫn tại tiểu mục 4.1 mục 4 Phần I Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 08-12-2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ tư “Xét xử phúc thẩm” của BLTTHS.\na) Bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm về một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 255 của BLTTHS được thi hành ngay, mặc dù vẫn có thể bị kháng cáo, kháng nghị. Thủ tục thi hành bản án, quyết định sơ thẩm trong từng trường hợp cụ thể được thực hiện như sau: a.1) Trường hợp Thẩm phán ra Quyết định đình chỉ vụ án trong thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại các điều 39, 176 và 180 của BLTTHS, thì tại điểm 2 Quyết định đình chỉ vụ án (mẫu số 04c ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05-11-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) cần ghi: “Trả tự do ngay cho bị can (bị cáo)…, nếu họ không bị tạm giam về một tội phạm khác”. a.2) Trường hợp Hội đồng xét xử sơ thẩm ra Quyết định đình chỉ xét xử vụ án theo quy định tại Điều 199 của BLTTHS, thì tại điểm 2 Quyết định đình chỉ vụ án (mẫu số 05c ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05-11-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) cần ghi: Trả tự do ngay cho bị cáo…, nếu họ không bị tạm giam về một tội phạm khác”. a.3) Trường hợp Hội đồng xét xử sơ thẩm ra bản án sơ thẩm theo quy định tại Điều 199 và Điều 227 của BLTTHS, thì Hội đồng xét xử phải ra Quyết định trả tự do cho bị cáo (mẫu số 05đ ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05-11-2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao).\nb) Đối với bị cáo bị phạt tù nhưng được hưởng án treo và khi bản án đã có hiệu lực pháp luật mà thời gian thử thách vẫn còn, thì Tòa án phải ra quyết định thi hành án. Việc thi hành án hình phạt tù cho hưởng án treo được thực hiện theo Nghị định số 61/2000/NĐ-CP ngày 30-10-2000 của Chính phủ “Quy định việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo”.", "header": "['Nghị quyết số 02/2007/NQ-HĐTP về việc hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ năm \"Thi hành Bản án và quyết định của Tòa án\" của Bộ Luật tố tụng hình sự do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành'\n 'Chương I. VỀ CHƯƠNG XXV - NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THI HÀNH BẢN ÁN VÀ QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN'\n 'Mục 1. Về Điều 255 của BLTTHS']", "len_tokenizer": 526, "lower_segmented_text": "điều 1 . 1 . về điểm a khoản 1 điều 255 của bltths điều 1.2 . về khoản 2 điều 255 của bltths . bản_án , quyết_định và những phần của bản_án , quyết_định sơ_thẩm của tòa_án không bị kháng_cáo , kháng_nghị thì có hiệu_lực pháp_luật kể từ ngày hết thời_hạn kháng_cáo , kháng_nghị , tức_là kể từ ngày tiếp_theo sau thời_điểm kết_thúc thời_hạn kháng_cáo , kháng_nghị . thời_điểm kết_thúc thời_hạn kháng_cáo , kháng_nghị được hướng_dẫn tại tiểu mục 4.1 mục 4 phần i nghị_quyết số 05 / 2005 / nq - hđtp ngày 08 - 12 - 2005 của hội_đồng thẩm_phán tòa_án nhân_dân tối_cao hướng_dẫn thi_hành một_số quy_định trong phần thứ tư “ xét_xử phúc_thẩm ” của bltths . \n a ) bản_án hoặc quyết_định của tòa_án cấp sơ_thẩm về một trong các trường_hợp quy_định tại khoản 2 điều 255 của bltths được thi_hành ngay , mặc_dù vẫn có_thể bị kháng_cáo , kháng_nghị . thủ_tục thi_hành bản_án , quyết_định sơ_thẩm trong từng trường_hợp cụ_thể được thực_hiện như sau : a . 1 ) trường_hợp thẩm_phán ra quyết_định đình_chỉ vụ án trong thời_hạn chuẩn_bị xét_xử theo quy_định tại các điều 39 , 176 và 180 của bltths , thì tại điểm 2 quyết_định đình_chỉ vụ án ( mẫu_số 04c ban_hành kèm theo nghị_quyết số 04 / 2004 / nq - hđtp ngày 05 - 11 - 2004 của hội_đồng thẩm_phán tòa_án nhân_dân tối_cao ) cần ghi : “ trả tự_do ngay cho bị_can ( bị_cáo ) … , nếu họ không bị tạm giam về một tội_phạm khác ” . a . 2 ) trường_hợp hội_đồng xét_xử sơ_thẩm ra quyết_định đình_chỉ xét_xử vụ án theo quy_định tại điều 199 của bltths , thì tại điểm 2 quyết_định đình_chỉ vụ án ( mẫu_số 05c ban_hành kèm theo nghị_quyết số 04 / 2004 / nq - hđtp ngày 05 - 11 - 2004 của hội_đồng thẩm_phán tòa_án nhân_dân tối_cao ) cần ghi : trả tự_do ngay cho bị_cáo … , nếu họ không bị tạm giam về một tội_phạm khác ” . a . 3 ) trường_hợp hội_đồng xét_xử sơ_thẩm ra bản_án sơ_thẩm theo quy_định tại điều 199 và điều 227 của bltths , thì hội_đồng xét_xử phải ra quyết_định trả tự_do cho bị_cáo ( mẫu_số 05đ ban_hành kèm theo nghị_quyết số 04 / 2004 / nq - hđtp ngày 05 - 11 - 2004 của hội_đồng thẩm_phán tòa_án nhân_dân tối_cao ) . \n b ) đối_với bị_cáo bị phạt tù nhưng được hưởng án_treo và khi bản_án đã có hiệu_lực pháp_luật mà thời_gian thử_thách vẫn còn , thì tòa_án phải ra quyết_định thi_hành án . việc thi_hành án hình_phạt tù cho hưởng án_treo được thực_hiện theo nghị_định số 61 / 2000 / nđ - cp ngày 30 - 10 - 2000 của chính_phủ “ quy_định việc thi_hành_hình_phạt tù cho hưởng án_treo ” .", "pointer_link": "['Chương I' 'Mục 1' 'Điều 1']"}, {"full_text": "Điều 2. 1. Về khoản 1 Điều 256 của BLTTHS Điều 2.2. Về khoản 4 Điều 256 của BLTTHS\na) Trường hợp người bị kết án phạt tù đang tại ngoại bỏ trốn thì Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải có văn bản yêu cầu cơ quan Công an cùng cấp ra quyết định truy nã và thông báo cho Tòa án biết. Hết thời hạn một tháng, kể từ ngày Tòa án gửi văn bản yêu cầu mà cơ quan Công an chưa ra quyết định truy nã thì Chánh án Tòa án phải yêu cầu cơ quan Công an ra quyết định truy nã theo quy định tại Điều 161 của BLTTHS và thông báo bằng văn bản cho Tòa án biết để làm căn cứ tính thời hiệu thi hành bản án.\nb) Trường hợp bị cáo bỏ trốn, cơ quan Công an đã ra quyết định truy nã nhưng không có kết quả và Tòa án đã xét xử vắng mặt bị cáo theo đúng quy định của BLTTHS thì khi bản án có hiệu lực pháp luật, Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm ra quyết định thi hành án và gửi cho cơ quan Công an cùng cấp (hoặc cơ quan thi hành án của Quân đội cùng cấp trong trường hợp người bị kết án phạt tù là quân nhân) kèm theo bản sao bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà không phải yêu cầu cơ quan Công an ra quyết định truy nã mới.\nc) Việc ủy thác cho Tòa án khác cùng cấp ra quyết định thi hành án chỉ được thực hiện khi thuộc một trong những trường hợp sau đây: c.1) Sau khi Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án ra quyết định thi hành án và đã gửi cho cơ quan Công an cùng cấp để thi hành, nhưng cơ quan Công an cùng cấp thông báo bằng văn bản cho Tòa án biết là người bị kết án đã chuyển đi nơi khác và có địa chỉ cụ thể; c.2) Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án có căn cứ về việc người bị kết án đang cư trú trên địa bàn hành chính khác.\nd) Trường hợp Tòa án được ủy thác đã ra quyết định thi hành án và được cơ quan Công an thông báo là người bị kết án đã chuyển đi cư trú tại địa bàn hành chính khác thì trả lại hồ sơ ủy thác thi hành án cho Tòa án đã ủy thác và giải quyết như sau: d.1) Trường hợp Tòa án được ủy thác biết được địa chỉ của người bị kết án ở địa bàn hành chính khác thì thông báo cho Tòa án đã ủy thác để Tòa án đã uỷ thác thực hiện việc ủy thác cho Tòa án nơi người bị kết án đang cư trú; d.2) Trường hợp Tòa án được ủy thác không biết địa chỉ của người bị kết án thì thông báo bằng văn bản cho Tòa án đã ủy thác biết để Tòa án đã ủy thác thực hiện việc ra quyết định thi hành án và yêu cầu cơ quan Công an ra quyết định truy nã người bị kết án như trường hợp được hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 2.2 mục 2 Phần I này.\nđ) Trường hợp Tòa án được ủy thác thi hành án thấy việc ủy thác là không đúng thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho Tòa án đã ủy thác biết. Tòa án đã ủy thác phải kiểm tra lại việc ủy thác; nếu việc từ chối ủy thác là có căn cứ thì Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm phải ra quyết định hủy quyết định ủy thác không có căn cứ trước khi ra quyết định thi hành án hoặc ủy thác cho Tòa án khác ra quyết định thi hành án. Nếu việc từ chối ủy thác là không có căn cứ thì Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm yêu cầu Tòa án được ủy th